LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    Truyền thống dân tộc

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:46' 05-04-2024
    Dung lượng: 656.1 KB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     

    Tác giả: Lê Văn Siêu
    Nhà xuất bản: Hoàng Đông Phương
    Năm xuất bản: 1968.
    Giấy phép XB: 1/623/BTT/NT/NHK.
    Loại thể: Lịch sử.
    Số trang: 158.
    Những người tham gia:
    - Nguồn sách: @Nguyễn Thanh Tuấn
    - Scan, OCR: @Nguyễn Thanh Tuấn
    - Soát lỗi, biên tập và hiệu đính: @teacher.anh
    - Soát lỗi lần 2: @Lười Đọc Sách
    - Tạo eBook: @tamchec
    Ngày hoàn thành: 15/06/2016

     

    https://thuviensach.vn

    Mục lục
     
    VỀ TÁC GIẢ
    THAY LỜI DẪN
    QUAN NIỆM NHÂN SINH
    1. SỐNG LÀ CHỊU ĐỰNG
    2. SỐNG LÀ SỬA SOẠN CHO CÁI CHẾT​
    3. PHÚC VÀ ĐỨC​
    4. ĐỜI SỐNG TÌNH NGHĨA​
    5. NHÀ Ở​
    6. CUỘC SỐNG THANH THẢN​
    7. ĐỜI SỐNG GIẢN DỊ​
    8. TRIỂN VỌNG​

    https://thuviensach.vn

    VỀ TÁC GIẢ
     

    Lê Văn Siêu là Nhà văn, nhà báo, sinh năm 1911 ở thành
    phố Hà Nội, có sách ghi năm sinh ông 1912.
     

    Thuở nhỏ học ở Hà Nội, tốt nghiệp trường Công nghệ
    thực hành ở Hải Phòng, năm 1932 làm việc tại sở công chánh
    Hà Nội (Đốc công nhà máy gạch Đáp Cầu). Những năm 40
    cộng tác với nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Đức Quỳnh,
    cùng Trương Tửu, Đặng Thái Mai... Viết báo Tiếng Trẻ và
    một số sách về thanh niên và thực nghiệp do nhà Hàn
    Thuyên xuất bản trước Thế chiến II. Năm 1934 - 1936 làm
    chánh văn phòng nghiên cứu kĩ thuật Sở Hỏa xa Hồ Nam Quảng Tây (TQ).
     

    Khoảng các năm 1938-1944 ông chuyển về làm việc ở sở
    công chánh Hà Nội. Thời gian này ông hợp tác chặt chẽ với
    nhóm Hàn Thuyên viết các loại sách Tân văn hóa, giữ chức
    trưởng ban khánh tiết Hội truyền bá quốc ngữ Hải Phòng.
     

    Sau toàn quốc kháng chiến, tản cư ra vùng Tự do tham gia
    Hội đồng chuyên môn sản xuất kĩ nghệ ở liên khu III... Năm
    1947 bị Pháp hành quân bắt về Hà Nội. Năm 1949 chuyển
    vào sống ở Sài Gòn với nghề thầu khoán, đến năm 1952 ông
    làm chủ bút báo Mới của Phan Văn Tươi, rồi tuần báo
    Phương Đông cho đến hiệp định Genève. Từ năm 1959 chủ
    bút các báo Cách mạng Quốc gia, nguyệt san Sáng dội Miền

    https://thuviensach.vn

    Nam. Năm 1967 ông được mời dạy một số giờ tại Đại học
    Vạn Hạnh, Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm ở Sài Gòn...
     

    Ông mất năm 1995 tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
    Minh.
     
     
     
     
     
     
     
     
     
     

    Tác phẩm
    Các tác phẩm chính đã xuất bản:
    Hợp lí hóa Taylor (Hàn Thuyên, 1940).
    Thanh niên và thực nghiệp (Hàn Thuyên, 1940)
    Luân lí và thực nghiệp (nt, 1941)
    Tương lai kĩ nghệ Việt Nam (nt, 1942)
    Học để làm gì? (1957)
    Văn minh Việt Nam (1954, Sài Gòn)
    Nguồn gốc văn học (Thế giới, 1956 Sài Gòn)
    Tân Xuân tùy bút (Nguyễn Đình Vượng, 1960)

     

    Giai nhân kì ngộ (Phan Châu Trinh, chú thích, 1958 Sài
    Gòn)
     
     
     

    Văn học đời Lý (1957, Sài Gòn)
    Nếp sống tình cảm của người Việt Nam (1955, Sài Gòn)
    Việt Nam văn minh sử cương (1967)
    https://thuviensach.vn

     
     
     
     
     

    Quốc sư Vạn Hạnh (kịch, 1967)
    Văn học sử thời kháng Pháp (1973, Sài Gòn)
    Sửa đổi lề lối làm việc (1958)
    Việt Nam văn minh sử lược khảo (1972)
    Truyền thống dân tộc (1968)

     

    EBook này sẽ được thực hiện nhằm chia sẻ, phục vụ cộng
    đồng, góp phần nhỏ trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy
    văn hóa Đọc cho các bạn không có điều kiện mua sách giấy.
     

    Khi bạn có khả năng, hãy mua sách giấy để ủng hộ tác giả
    và Nhà xuất bản!
     

    Xin chân thành cảm ơn bạn @Nguyễn Thanh Tuấn đã chia
    sẻ một nguồn sách quý.
     

    Do chúng tôi chưa thể liên hệ được với gia đình tác giả để
    xin phép nên rất mong gia đình tác giả và bạn đọc thông
    cảm.
     

    Cảm ơn các bạn đọc, những người giúp chúng tôi có động
    lực thực hiện số hóa cuốn sách này.
     

    https://thuviensach.vn

    THAY LỜI DẪN
     

    CUỘC ĐÀM ĐẠO VỀ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC​

     
     

    Tại trường Thanh Niên Phụng sự xã hội.
    Thưa quý bạn.

     

    Câu chuyện tôi nói với quý bạn hôm nay chắc sẽ dài.
    Không dài sao được khi đề cập đến những truyền thống của
    cả một dân tộc đã có gần năm ngàn năm lịch sử?
     

    Tôi biết rằng quý bạn sẽ không xem xét vấn đề này theo
    con mắt của những nhà khảo cứu văn hóa. Mà sẽ chỉ cần biết
    những đặc tính cố hữu của nhân dân, để mai mốt đây có dịp
    tiếp xúc với nhân dân thì quý bạn không đến nỗi ngỡ ngàng
    như những người ngoại quốc, và công tác phụng sự xã hội
    của quý bạn mới có hy vọng nào chắc chắn thành công.
     

    Nhưng cũng bởi ý muốn của quý bạn là như thế, nên tôi
    lại thấy cần phải trình bầy vấn đề cho thật giản dị và khúc
    chiết để không có gì ngộ nhận được nữa. Hễ ngộ nhận thì lạc
    đường. Hễ lạc đường thì thất bại và tai hại.
     

    KHÔNG THỂ TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
    Ở NHỮNG VẬT THỂ THUỘC HÌNH THỨC
     

    Chẳng hạn như người Việt mình xưa, đàn ông nho sĩ thì
    để móng tay dài uốn cong lên, lưa thưa vài sợi râu ở cầm và
    https://thuviensach.vn

    mép, đầu búi tóc, quấn khăn, còn đàn bà thì răng đen, chít
    khăn, tóc để đuôi gà, vận áo tứ thân mầu nâu non, vá vai, lại
    mặc yếm và váy.
     

    Nếu bảo rằng Y phục ấy ở hình thức là truyền thống rồi,
    thì hết thảy người mình hiện nay đã xa lìa truyền thống rồi
    hay sao? Vả chăng đã lấy đâu làm chắc những y phục trang
    phục ấy đã hoàn toàn là của mình từ nguồn gốc, khi nhớ lại
    rằng từ đời Minh (đầu thế kỷ XV) kẻ giặc mạnh đã từng bắt
    người mình phải ăn vận theo họ. Và nếu chịu khó tìm tòi
    đến tận hồi không bị ảnh hưởng ngoại lai, thì y phục cũ của
    chúng ta phải là y phục thiên nhiên mới đúng, như hết thảy
    mọi giống dân khác.
     

    Lại chẳng hạn như những món ăn uống: miếng trầu, điếu
    thuốc lào, chén nước mắm, bát phở, mắm cá, mắm tôm v.v...
    có thể rằng gần như cả toàn dân tộc đã quen giọng để nhìn
    nhận những món ấy là ngon, là thú. Nhưng không thể nói
    đùa dai để người ta tưởng thật rằng đấy là dân tộc tính, đấy
    là cái gì bất biến trong thị hiếu của người Việt Nam. Bởi có
    nhiều món, nhiều địa phương và nhiều người không dùng.
    Chẳng lẽ dân tộc tính lại không có ở địa phương và những
    người ấy. Huống chi các món ăn uống không phải có người
    Việt Nam trên trái đất này là có liền ngay theo thể cách mà ta
    thấy. Nó đã được hình thành qua rất lâu đời và chịu cũng đã
    rất nhiều ảnh hưởng. Nó thực là nguyên nhân để uốn nắn thị
    hiếu nhưng nó vẫn là kết quả của thị hiếu nữa. Giá trị của nó
    là những gì lạ miệng để giới thiệu cho những du khách. Còn
    nói rằng nó là dân tộc tính, ấy là nói đùa, và đùa trong khi

    https://thuviensach.vn

    người ta thao thức đi tìm truyền thống dân tộc, ấy là đùa
    mỉa.
     

    Quan trọng hơn nữa là nhà ở. Nhà ở có biểu thị một lề thói
    sống chung của đông đảo nhân dân, cả về vật chất lẫn tinh
    thần và tâm linh, biểu thị một khả năng kỹ thuật, kinh tế, xã
    hội, và biểu thị cả những ước vọng của người ta nữa. Nó là
    cái áo của một gia đình, áo dùng cho tất cả 4 mùa và thật lâu
    dài, năm này qua năm khác, dùng cho tất cả mọi người, già
    trẻ lớn bé, cả sống và chết nữa, dùng cả ban ngày lẫn ban
    đêm, cả ngày thường lẫn ngày giỗ Tết, vừa bền bỉ, vừa cần
    đẹp mắt, vừa cần thoải mái. Tất nhiên nó chứa đựng trong
    nó cả một kho tàng đặc tính dân tộc.
     

    Nhưng bởi cuộc sống trong dòng dài lịch sử có chịu nhiều
    ảnh hưởng ngoại lai, mà cái nhà lại trực tiếp chịu đựng
    nhiều hơn và trước hơn cái gì khác, nên khó mà phân biệt
    nổi những đặc tính cá biệt nào của mình trong một bộ phận
    nào của cái nhà.
     

    Vả chăng, như hiện nay, có thiếu gì người không ở trong
    những nhà kiểu cũ nữa. Liệu dễ thường họ không còn dân
    tộc tính trong người sao? Và mai mốt đây có thể kỹ thuật đồ
    nhựa thay thế được đồ gỗ, đồ sắt, cái nhà có thể sẽ khoác
    một hình thức khác hẳn đi, thì liệu lúc ấy mình sẽ hết dân
    tộc tính chăng?
     

    Thưa quý bạn.

     

    https://thuviensach.vn

    Đặc tính dân tộc có thấm nhuần những vật thể, nhưng
    không phải là chỉ căn cứ vào những vật thể ấy mà thấy ra
    được toàn bộ đặc tính ấy. Nó là những giòng máu chu lưu
    dưới nhiều lớp da. Nó là luồng nhựa sống vận hành trong
    não tủy. Tuỳ lúc và tuỳ hoàn cảnh mà nó biểu hiện ra theo
    chiều thuận hay chiều nghịch, biểu hiện ra một phần hay
    toàn bộ và biểu hiện ra với người này hay với người khác.
     

    Cho nên, tìm hiểu truyền thống dân tộc là tìm hiểu một cái
    gì tinh tế hết sức, ở phạm vi tinh thần nhiều hơn.
     

    NHƯNG TA CŨNG KHÔNG THỂ THẤY RÕ NÓ QUA
    SỰ NGHIÊN CỨU TẬP QUÁN PHONG TỤC.
     

    Phong tục tập quán là ước lệ của cuộc sống chung trong
    cùng một hoàn cảnh lịch sử và địa dư, hễ hoàn cảnh đổi thì
    phong tục tập quán cũng không còn giữ được nguyên chất
    nữa. Thí dụ tục chơi múa lân vào rằm tháng tám ở miền Bắc,
    không mưa, trời đẹp, trăng sáng, chuyển vào miền nam, gặp
    tháng tám mưa nhiều đã không còn trò múa lân nữa, mà đến
    dịp tết Nguyên đán mới có. Lại thí dụ tục để của gia tài cho
    con, ở Bắc và ở Trung thì tất cả cho người con trưởng để gìn
    giữ ngôi nhà thờ họ, đời này qua đời khác. Người Việt vào
    đến miền Nam đất rộng người thưa phải mong cho con
    chóng lớn, lấy vợ cho, rồi cho ở riêng liền, để chiếm mau lấy
    ruộng đất, người ta giải quyết dần từng đứa con một như
    thế, đến đứa con út thì cho được hưởng nhà đất mà cha mẹ
    già để lại. Và đứa con út ấy muốn giữ thì giữ, muốn bán thì
    bán. Việc cúng giỗ mỗi con giữ giỗ một người quá cố và

    https://thuviensach.vn

    cúng tại nhà mình. Không còn ngôi nhà thờ họ đến mấy thế
    hệ người như ở miền Bắc và Trung nữa.
     

    Nhưng không thể vì tục lệ khác ấy mà cho rằng không còn
    truyền thống dân tộc ở miền Nam.
     

    Giả dĩ, ngay cả những thể chế chính trị khác hẳn trước để
    uốn nắn sự sống của con người như ở miền Bắc hiện nay,
    cho là uốn nắn được thực nhiều thế hệ, cũng không thể vì
    thế mà bảo rằng truyền thống dân tộc không còn chảy trong
    giòng máu của người dân Việt miền Bắc nữa. Bởi bản chất
    của người được tạo thành do nhiều yếu tố vật chất, tình cảm
    tinh thần, của cả một quá khứ dài dặc, trong hoàn cảnh thiên
    nhiên và xã hội có cùng, thông, biến, hóa như để luyện cho
    tinh thục cái năng khiếu và phản ứng ở tiềm thức, khiến sự
    sống càng bộn bàng, phức tập, gay go, nguy hiểm, thì tinh
    thần thích ứng lại càng linh động mẫn tiệp.
     

    Cũng như đối trước tình cảnh xã hội hỗn tạp hiện nay ở
    miền Nam, nào là ảnh hưởng của phim ảnh, của cuộc sống
    vội vàng trong thời chiến, nào là ảnh hưởng của sự thèm
    khát nhu yếu vật chất, thèm khát thỏa mãn dục vọng khiến
    nảy ra những tục lệ mới làm đảo lộn hết các giá trị tinh thần.
    Ai trông thấy mà chẳng đau lòng muốn khóc lên là truyền
    thống dân tộc chạy trốn đâu mất rồi? Nhưng tôi tưởng
    chúng ta vẫn có thể vững tâm, vì truyền thống dân tộc thực
    quả không phải chỉ là những gì hời hợt ở bề ngoài dễ trông
    thấy.
     

    ★​

    https://thuviensach.vn

     

    NGAY CẢ NGÔN NGỮ CŨNG KHÔNG DÙNG LÀM
    CĂN CỨ ĐƯỢC ĐỂ TÌM TÒI
     

    Ngôn ngữ là phương cách biểu thị tâm tình, ý chí tinh thần
    của con người và của dân tộc, tinh tế lắm, với năng lực giáo
    hóa của nó cũng hiệu quả lắm, cho đến đỗi người Do Thái
    hồi tiền chiến vẫn nói rằng: “chúng tôi tuy không có nước,
    nhưng chúng tôi còn tiếng nói thì còn dân tộc và rồi dân tộc
    chúng tôi sẽ trở về nước tổ”. Việc ấy quả nhiên đúng, cũng
    như Trung Hoa đô hộ ta cả ngàn năm để lỏng lẻo không
    đồng hóa được tiếng nói, mà khi ta có dịp bứt xiềng đô hộ
    thì ta lại vẫn là một nước riêng biệt.
     

    Tuy vậy, ngôn ngữ chỉ nên kể là một yếu tố quan trọng
    chứa đựng và chuyên chở truyền thống dân tộc, mà không
    nên nhìn nó đã là truyền thống dân tộc.
     

    Vì cả những hình ảnh trong ngôn ngữ, những lối nói, lối
    nghĩ những ca dao, đồng dao, tục ngữ cách ngôn, cả những
    ngữ pháp, những tiếng tân tạo (bởi là sinh ngữ) cũng uyển
    chuyển chịu ảnh hưởng qua lại của ngoại ngữ cả về tiếng lẫn
    ngữ pháp, lẫn cách hành văn. Một người vào lớp Phạm
    Quỳnh chết đi năm 1920 bây giờ 1967 có sống lại, chưa chắc
    đã nghe hiểu nổi 7 phần 10 câu chuyện của người đương
    thời nói. Nếu người ấy bảo rằng: ồ, bây giờ ta mất gốc rồi,
    hết truyền thống dân tộc rồi thì chẳng hóa ra oan lắm hay
    sao? Mà ngược lại những người cứ lôi mớ ca dao tục ngữ ra
    mổ xẻ để khai thác tìm truyền thống dân tộc thì chẳng hóa ra
    không sợ mang tiếng là làm chuyện hồ đồ hay sao?
    https://thuviensach.vn

     

    TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC LÀ CÁI BẢN CHẤT
    NGƯỜI RIÊNG BIỆT CỦA DÂN TỘC CÓ SINH
    TRƯỞNG TIẾN HÓA
     

    Trên những thồ ngơi khí hậu (nói chung là hoàn cảnh địa
    dư) trong những điều kiện sống chung của mọi bước thăng
    trầm may rủi (nói chung là hoàn cảnh lịch sử), sự chịu đựng
    những hoàn cảnh (như những cộng nghiệp cũ) của cả dân
    tộc để vật lộn, thích ứng, chống chọi, dung hòa mà sống và
    tiến hóa (như tạo những cộng nghiệp mới) mỗi dân tộc lại có
    một sắc thái riêng (như phản ứng của cá nhân riêng rẽ đối
    với những bất trắc của cuộc sống).
     

    So đọ mà kể với không gian vô biên và thời gian vô tận thì,
    những khó khăn thử thách gay go, có khi lại là những gì
    đáng nên mong ước cho dân tộc chóng khôn lanh. Bởi nó
    trui rèn thêm đức tính, nó giúp thêm nhiều kinh nghiệm và
    nó dậy thêm nhiều hiểu biết. Chẳng hạn như mới từ 1945
    đến nay, 22 năm, những biến cố dồn dập đã làm người ViệtNam khôn ra gấp mấy trăm năm trước. Và thời cuộc đi càng
    nhanh, các vấn đề càng gay gắt thì phản ứng của người ta lại
    càng mẫm nhuệ.
     

    TUY NHIÊN CÓ SINH TRƯỞNG THÌ TRUYỀN
    THỐNG CŨNG CÓ TỒN VONG
     

    Nhưng từng đã có khá nhiều nền văn minh bị tàn tạ, khá
    nhiều dân tộc đi dần đến tiêu vong. Ấy là khi gặp bất trắc,
    tiến không biết tiến lui không biết lui, bản chất chính của

    https://thuviensach.vn

    mình không biết giữ, nên bị cuốn hút và hóa theo những dân
    tộc văn minh lớn khác để dần dần không còn chân đứng
    dưới bóng mặt trời nữa. Cũng có thể rằng trong hoàn cảnh
    đen tối vẫn còn một ít người giữ được những truyền thống
    cũ (như người mọi da đỏ Mỹ Châu, hay người Chàm ở Việt
    Nam chẳng hạn) nhưng một vài con én không thể tạo được
    mùa xuân.
     

    Cho nên điều chúng ta thao thức băn khoăn, chiêm
    nghiệm qua những tấm gương ấy, là điều rất cần trong lúc
    này, nhất là trong lúc này.
     

    SONG MUỐN TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
    ĐỂ GÌN GIỮ TA CẦN TÌM Ở ĐÂU?
     

    A.— Phải tìm ở những điều kiện thực tế về địa dư, khí
    hậu, những điều kiện mà bất cứ một giống người cổ sơ, du
    mục nào tình cờ đến định cư trên địa bàn ấy, cũng đều tự
    nhiên phải có những đặc tính của địa bàn ấy để thích ứng và
    tồn tại. Thí dụ như người Tàu ưa khạc nhổ gớm ghiếc, là do
    sự quen thói của giống Bắc Phương gần sa mạc Gô Bi, gió
    thổi, có lẫn cát làm cho khô cổ và vướng từ cuống họng
    khiến không khạc nhổ không chịu được. Lại thí dụ như
    người Ấn ưa vào rừng tọa thiền và trầm tư là vì 6 tháng
    nóng của địa bàn Ấn Độ là cái nóng không thể làm cách gì
    để tránh được.
     

    Những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu vừa nói ấy, tự
    nhiên có với nó những khoáng vật, thực vật, thảo mộc, sinh
    vật như thế nào thì cũng tự nhiên có với nó những con
    https://thuviensach.vn

    người riêng biệt như thế. Dân ở hải đảo khác với dân ở
    duyên hải, đồng bằng, ở sơn cước, ở sa mạc. Đó là điều ai
    cũng công nhận. Nhưng phải công nhận thêm, khi đã khác
    như vậy rồi, ở khởi thủy thì càng về sau dù có sự tiến hóa để
    hoà đồng với nhau, người ta cũng vẫn còn phần nào cái bản
    chất cố hữu.
     

    Cho nên người ta không sợ lầm lạc khi tìm truyền thống
    dân tộc trong những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu ấy.
    Đó là điều mà người xưa gọi là khí thiêng sông núi. Còn
    người nay thì gọi là điều kiện khách quan của hoàn cảnh địa
    dư.
     

    B.— Ngoài ra lại phải tìm những điều kiện thực tế khác ở
    sự sống chung trong dòng dài lịch sử, khi vinh, khi nhục, khi
    may, khi rủi, khi sướng, khi khổ, khi vui, khi buồn. Nó như
    những lượn sóng thủy triều của vận hội chung mà các cá
    nhân đã khó cưỡng lại nổi. Cho nên gọi là những bó thắt lịch
    sử. Nó bó thắt cho đến độ thành quả hiện tại của xã hội, chỉ
    có thể đến một mức tiến hoá khác; sức người dù mong muốn
    hơn cũng không sao được. Ấy là điều mà người xưa gọi
    công nghiệp.
     

    Điều này dễ nhận ra khi so sánh những nước chậm tiến Á
    Phi với những nước Âu Mỹ sẵn điều kiện xã hội để tiến hóa
    văn minh vật chất hơn.
     

    C.— Chúng ta tìm như thế để nhận định cái phản ứng
    chung ở tiềm thức của dân tộc đối với những biến cố và để
    nhận định chiều hướng cùng ước định cao độ những tư trào
    https://thuviensach.vn

    của các lượng sống lịch sử, mà người ta quen gọi là hằng
    tính lịch sử vậy.
     

    Hai điều trên là hai yếu tố có giá trị quy định. Điều dưới là
    yếu tố có giá trị tổng kết.
     

    Chúng ta tìm theo đường hướng này thì sẽ thấy rõ từ gốc
    đến ngọn ngành. Vậy chúng ta hãy đi sâu vào chi tiết.
     

    Địa bàn nơi gốc tổ: theo các sách sử thì địa bàn ấy của ta là ở
    Phong Châu, nơi đóng đô của dòng vua Hùng Vương đầu
    tiên trong lịch sử. Nhưng xét kỹ ra thì có lẽ Phong Châu chỉ
    là cái gốc thứ hai. Còn gốc chính và đầu tiên phải là vùng
    đồng bằng sông Mã với dẫy núi Hồng Lĩnh mới chắc đúng.
     

    A.— Phong Châu là khu vực đồng bằng sông Nhị Hà gồm
    Sơn tây, Phú thọ, Việt trì, Hưng hóa, ngoài lăng miếu cổ của
    họ Hùng Vương không còn bao nhiêu di tích lịch sử quan
    trọng khác.
     

    Còn Thanh Hóa với khu vực đồng bằng sông Mã, thì đã có
    hết sức nhiều di tích lịch sử. Từ những đền thờ của Thục An
    Dương Vương, Triệu Ẩu, Khương công Phụ, Triệu Quang
    Phục, Lê Đại Hành, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Tô hiến
    Thành, Trần khát Chân,... đến thành nhà Hồ, thành Lê
    Chích, phủ An Trường, Lam Kinh của nhà Lê, Đầm Tôm của
    nhà Trịnh, nền nhà cũ của Nguyễn Kim,... đến những lăng
    miếu của các dòng họ Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn,…
    người ta phải công nhận rằng đây là nơi nhiều khí linh tú

    https://thuviensach.vn

    nhất trong nước, đào tạo nên những anh hùng hào kiệt, thời
    nào cũng có, ngay cả thời này.
     

    Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ca tụng:

     

    “Đông liền lớn, Tây cắp rừng dài, phu lãnh thủy chặn ở phía
    Nam, Núi Tam Điệp ngăn về phía Bắc. Non cao thì có Thiên tôn
    và Na Cù. Sông lớn thì có Lương Mã và Ngọc Giáp. Núi sông
    quanh bọc, cao thấp lẫn xen. Hội Trào và Y Bích là khóa then mặt
    biển. Lôi Dương và Vĩnh Lộc là xung yếu đường trên.
     

    Hồ Công, Bích Đào nảy ra những động Linh Kỳ, Hoàng Mỹ,
    Nông cống đều là những nơi lầy lốt. Hình thế hùng tráng, các tỉnh
    miền Trung không đâu sánh kịp.
     

    Còn như Tống Sam, Quí Huyện, là nơi xương sống Càn Long.
    Muôn non nghìn núi, điệp điệp trùng trùng; bốn mặt quay về, non
    xanh nước sáng đầy rẫy khí thiêng. Ấy là nơi phát tường của quốc
    gia ta, cùng với Lam Sơn của nhà Lê riêng nên phúc địa. Cũng
    không khác gì đất Mân đất Kỳ của nhà Châu và đất Phong đất Bái
    của nhà Hán vậy.”
     

    Pierre Pasquier cũng đã có những nhận xét sau đây:

     

    “Thanh Hóa không phải là một khu vực hành chính mà là một
    Quốc thổ. Nó như một tấm kính thu nhỏ của toàn xứ Bắc. Cũng có
    một vùng đồng bằng đông đúc phì nhiêu, một vùng trung du cỏ
    mọc những lượn sóng và một vùng cao nguyên rừng già âm u.
    Sau bờ biền hiểm trở, dọc theo những dòng sông rộng và sâu, gần
    những sườn núi chỗ nào cũng có hang động và trong những
    thung lũng kín đáo, giống người Việt-Nam đã tìm thấy ở đây một
    https://thuviensach.vn

    mảnh đất trời cho để dùng làm trạm nghỉ chân, mà trải nhiều thế
    kỷ dân tộc ấy đã sửa soạn bước Nam Tiến của mình cũng sửa soạn
    và tập trung lực lượng để hoàn thành vận mệnh của mình. Trong
    những giờ phút thử thách của lịch sử, Thanh Hóa đối với miền
    trung hơn hẳn Hà-Nội, đã là linh địa bảo tồn tất cả những kỳ vọng
    của giống nòi. Từ những mảnh đất Thánh này hiện còn những hài
    cốt tổ tiên các giòng vua của đất nước, đã nẩy sinh ra những vị
    anh hùng hào kiệt vào hạng thượng thặng...”
     

    Đó là nói chung về địa thế.

     

    B.— Về phương diện khảo cổ thì người ta đã tìm thấy
    trống đồng Đông Sơn tại đây lẫn với một ít tiền đồng của
    đời Hán bên Tầu. Nhờ thế mà có thể định được niên đại là
    trống được chế tạo ít ra cũng vào trước kỷ nguyên.
     

    Các Hậu Hán Thư quyển 54 có chép: Mã Viện cỡi ngựa khéo
    phân biệt ngựa có danh tiếng, khi đi đánh Giao Chỉ lượm được
    trống đồng Lạc Việt bèn đúc làm con ngựa kiểu. Tỏ rằng người
    Trung Hoa đời Tần, Hán không có trống đồng. Các đồ đồng
    cũ của họ cũng không thấy có gì giống với trống đồng. Đến
    cácdân tộc lân cận trong vùng Đông Á cũng không thấy có
    sự chế tạo trống đồng nữa. Nó là một sản phẩm riêng biệt
    của người Việt ở Đông Sơn. Cho nên di tích trống đồng là di
    tích văn minh Đông Sơn, và vùng đồng bằng sông Mã phải
    là gốc tổ xưa hơn vùng Phong châu ở đồng bằng sông Nhị.
     

    C.— Về phương diện nhân chủng học, người ta thấy dân
    Dayak trên đảo Bornéo ở Nam Dương cũng có những
    thuyền giống như hình thuyền vẽ trên trống đồng Đông Sơn,
    https://thuviensach.vn

    dùng làm thuyền Bát Nhã để đưa linh hồn người chết sang
    đảo Cực Lạc, và những tục lệ ma chay cũng giống như hình
    vẽ trên mặt trống, thêm đồ đồng khai quật được ở Đông Sơn
    cũng có quan hệ với đồ đồng ở Nam Dương. Các nhà cổ học
    đã kết luận “Dân Mã Lai cùng các chủng tộc ở Đông Dương
    thuộc về cùng một chủng tộc”. Và Ông L.Finot đã chủ trương:
    “Những đồ đồng xưa phô bày hình ảnh một dân tộc canh nông,
    săn bắn, thủy thủ thờ vật tổ mà cách ăn mặc không còn thấy ở
    Đông Dương, nhưng trái lại, lại thấy trên các hải đảo Thái Bình
    Dương, phải chăng chính đấy là dân tộc Indonésien mà về ngôn
    ngữ chủng tộc đã từng sống trên bán đảo Đông Dương rồi bỏ bán
    đảo lại cho dân mới để đi sang những quần đảo Thái Bình Dương?
    Trên bán đảo Đông Dương chỉ còn lại dấu tích về ngôn ngữ cùng
    phong tục mà chúng ta quên dần đi.”
     

    Như vậy, càng là một bằng chứng có thể tin được rằng
    trước khi tiếp xúc với văn minh miền Nam Trung Hoa,
    người Việt Giao chỉ đã định cư tại khu vực đồng bằng sông
    Mã.
     

    D. — Khảo thêm về ngôn ngữ, ta thấy người Thanh Nghệ
    Tĩnh do hoàn cảnh sinh hoạt và tính chất sinh lý đã có xu
    hướng bảo thủ ngôn ngữ, họ giữ nhiều giọng xưa, âm xưa,
    tiếng xưa, và tiếng nói của họ nặng nề khắc khổ, ít bị pha
    trộn vì ảnh hưởng của tiếng Trung Hoa, và gần với âm
    hưởng của tiếng Mường, Polynésien ngày nay còn ở vùng
    núi Thanh Hóa.
     

    https://thuviensach.vn

    Kết luận: Giả thuyết mà tôi nêu ra trong sách Việt Nam
    Văn Minh Sử Cương (Lá Bối xuất bản) đã có phần nào có thể
    nhận được rằng:
     

    1. Đồng bằng sông Mã là nơi tứ chiếng quần cư của nhiều
    bộ lạc từ Nam Hải theo gió mùa ngược thuyền lên cũng có,
    từ Bắc Hải theo gió mùa xuôi thuyền xuống cũng có, và từ
    các dẫy núi cao đi lần tới cũng có nữa.
     

    2. Khi định cư, mỗi bộ lạc chiếm một hay nhiều hang động
    thiên nhiên, hiện nay vẫn còn lại rất nhiều, rồi lai giống với
    nhau, tranh giành nhau quyền lợi, xung đột với nhau.
     

    3. Nhóm bộ lạc yếu thế chạy rút về phía bắc đến vùng
    đồng bằng sông Nhị ở Phong châu định cư, và được một nơi
    an toàn đề lập quốc, vì đường từ biển vào khó đi thuyền,
    đường từ vùng sông Mã lên phải qua núi qua sông và rừng
    rất nhiều.
     

    4. Nhóm bộ lạc mạnh thế ở lại chỗ cũ, nhưng luôn luôn bị
    giặc bể vào cướp phá nên thiếu hẳn điều kiện để phát triển
    cho có bề thế của một quốc gia.
     

    Bởi những lẽ ấy, chúng ta cần nhận định dứt khoát không
    nên có một ý tự tôn quá đáng, trong việc này, để tìm truyền
    thống của một dân tộc hùng cường, hiếu chiến, thích đánh
    đông dẹp bắc, thích xâm lăng các nước láng giềng. Mà
    ngược lại, sự thực dân tộc ta chỉ là một dân yếu đuối, và chỉ
    thích sống hòa bình yên ổn với xung quanh.
     

    https://thuviensach.vn

    Đây là một giống dân lai nhiều giòng máu. Nhờ lai nên
    khôn, không cố chấp, và lúc nào cũng sẵn sàng dung hòa
    quyền lợi với mọi người để mềm mỏng tiếp nhận mọi ảnh
    hưởng văn minh mà tiến hóa. Đó là điều mà lịch sử đã có rất
    nhiều sự kiện để minh chứng. Ta sẽ xét sau. Đây hãy nói về
    hoàn cảnh dịa dư của hai nơi phát nguyên ấy.
     

    HOÀN CẢNH ĐỊA DƯ

     

    Hồi cách đây khoảng ba bốn ngàn năm, ta nhớ rằng đồng
    bằng sông Mã và sông Nhị chưa được bồi xa đến như ngày
    nay, Các hang động núi non ở Thanh Hóa vốn xưa là những
    hải đảo hay bán đảo và biển đông còn lênh láng tới Việt Trì
    bây giờ.
     

    A.— Đất để trồng trọt cầy cấy còn hiếm hoi lắm. Nhất là ở
    sông Mã chỉ thuận tiện cho việc chài lưới, đi biển, cùng tiện
    cho các thuyền ngược xuôi ngoài biển ghé vào. Hoặc để mua
    các thổ sản, như dưa hấu của An Tiêm (mà hiện hãy còn bãi
    An Tiêm) hoặc để bán các hải sản, hoặc nữa để cướpbóc
    đánh phá. Bất cứ một vùng duyên hải và hải khấu nào ở thời
    xưa cũng đều phải chịu đựng cảnh ngộ ấy. Bởi thuyền đi
    lênh đênh ngoài biển mà thiếu lương thực thì người không
    muốn ăn cướp cũng thành hải khấu, nếu lại không mua
    được lương thực của người trên bờ. Và người trên bờ vì lẽ
    không dư dật, cũng phải chiến đấu dữ dội để bảo vệ lương
    thực và tài sản của mình.
     

    Do đó mà người ở vùng Hồng Lĩnh, sông Mã đã có tinh
    thần chiến đấu bền bỉ để truyền thống còn mãi đến ngày
    https://thuviensach.vn

    nay.
     

    Những hang động rất nhiều: Hồ Công, Từ Thức, Kim Sơn,
    Hàm Rồng, Lục Vân, Long Quang... cùng với các núi đủ
    kiểu, đủ tên gọi, tới bẩy mươi ba ngọn với đường vào ra hết
    sức hiểm trở, xen lẫn với rừng già suối nước, thác ghềnh,
    hiện vẫn còn lại để chứng thực những trận chiến ghê hồn đã
    có thể diễn ra tại đây, trong thời quá khứ xa xưa.
     

    Thêm ngoài biển lại có những xoáy nước mà nguy hiểm
    nhất là của thần phù, đã làm cho người ta sợ hãi cho đến tận
    hồi gần đây với câu ca dao : “Lênh đênh qua cửa Thần Phù,
    khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm”. Cửa bể ấy hẳn đã đánh đắm
    nhiều thuyền bè và dìm sâu nhiều sinh mạng của dân định
    cư địa phương cũng có, mà dân ngoài muốn tấp vào bờ cũng
    có.
     

    Ta thấy người xưa ở đây từng phải chiến đấu vừa với kẻ
    thù nghịch, vừa với thiên nhiên, lại vừa với thú dữ, nên bảo
    rằng khí thiêng sông núi ở đây đã tạo nên nhiều anh hùng
    hào kiệt thì sợ có người cho là nói mơ hồ, chứ thực thì hoàn
    cảnh địa dư ấy nhất định phải làm nảy sinh những nhân vật
    ấy để thích ứng và tồn tại.
     

    B.— Còn vùng đồng bằng sông Nhị, căn cứ mới của nền
    văn minh nông nghiệp Văn Lang ở Phong Châu, thì tuy hồi
    ấy cũng là khu đất ven biển, cũng có nhiều núi non, nhưng
    không hùng vĩ bằng vùng sông Mã, lại có ruộng đất nhiều
    để trồng trọt cầy cấy hơn. Đường đi từ biển sâu vào lầy lội
    rất khó đi vì phù sa bồi đắp. Khi nước triều lên thì lênh láng
    https://thuviensach.vn

    khắp cả không biết chỗ nào nông sâu để đi vào. Khi nước rút
    thì các cây xú cây bần (giống cây mọc ở vùng nước mặn) sẽ
    trồi cả lên. Đó chính là những phòng ngự thiên nhiên chống
    với giặc biển muốn xông vào cướp phá. Phần những bộ lạc
    thù nghịch ở phía Nam cũng không vượt núi băng rừng để
    tới tận đấy làm gì. Phần những bộ lạc khác ở rừng núi phía
    Bắc cũng còn thưa thớt. Nhờ vậy mà khu vực Phong Châu
    thành khu vực an toàn để lập quốc, và con người sống yên
    ổn nhàn hạ, nhũn nhặn với nghề nông trong những thời gian
    hết sức dài.
     

    Đất phù sa càng bồi thêm thì ruộng đồng càng mở rộng
    dần để đời sống càng sung túc. Con người không lúc nào
    phải chiến đấu chống thiên nhiên cả. Họ chưa có kỹ thuật
    ngăn nước mặn và rửa đất phèn để mở rộng đất canh tác ra
    thật nhanh, nên cả khu vực đất tân bồi còn lầy lội và nhiều
    hơi độc, vẫn bị bỏ hoang[1].
     

    Nhưng khu vực đất đã thuộc, vẫn dư sức cung cấp lương
    thực nuôi một số dân chưa lấy gì làm đông đảo quá.
     

    Sợ rằng, ở hồi đầu này, kỹ thuật canh tác cũng chỉ mới là
    lối trồng lúa tỉa mà người miền Thượng còn giữ để trồng ở
    các sườn đồi. Cho tới khi có đoàn người miền Nam Trung
    Hoa tràn tới, mang theo một kỹ thuật canh tác tiến bộ hơn,
    thì bấy giờ mới có việc cầy ruộng và cấy lúa.
     

    Mặc dầu vậy, dưới sự ưu đãi của thiên nhiên, người Giao
    Chỉ Văn Lang vẫn đã rất an nhàn sung sướng để sẵn sàng
    sống rất cởi mở với hết thảy mọi giống dân khác.
    https://thuviensach.vn

     
     

    KHÍ HẬU
    Khí hậu bốn mùa rõ rệt, nói chung là dễ chịu.

     

    — Mùa xuân thì ấm áp hơi lạnh về đêm, còn suốt ngày dịu
    mát Mặt trời không nắng gắt lắm. Thỉnh thoảng loe ra vào
    buổi trưa một lúc rồi lại có mây mờ dầy đặc che phủ. Ngày
    có gió nồm đầy hơi nước từ miền Nam tới thì không khí ẩm
    ướt. Ngày có gió bấc nối tiếp mùa đông từ một chạp thì khô
    và lạnh làm cho nẻ mặt và xước măng dô ở ngón tay. Mưa
    lất phất không đủ ướt đất, tưới nhẹ cho cây cối. Trong khi
    đất ruộng khô nứt ra, vì từ tháng mười không còn những
    trận mưa lớn, lại qua một mùa đông lạnh gió hút hết hơi
    nước trên mặt đất.
     

    Cây cối ra hoa và lá non. Nhưng ruộng đồng nứt nẻ thì
    đành chịu, không cầy và đập đất mệt nhọc quá được, nên
    không cấy được vụ chiêm.
     

    Vì vậy bắt buộc “tháng giêng phải là tháng ăn chơi”. Người
    siêng năng mấy cũng chỉ cuốc và đập đất ở những mảnh
    ruộng nhỏ để trồng đậu, trồng khoai, trồng cà về tháng hai.
     

    — Mùa hạ bẳt đầu khoảng giữa tháng tư. Trời ít mây. Mặt
    trời le lói từ sáng đến trưa thì nắng gắt, và càng về chiều
    nắng xiên khoai lại càng khó chịu. Trời oi ả, thỉnh thoảng
    mới được một ngọn gió nam mát mẻ còn thường gió tây
    nóng bức hầm hập như trong lò lửa. Nhưng cách vài ngày
    thì lại có mây đen với mưa rào thật là nhiều nước, ngập các
    ruộng đồng cho đất mềm ra. Để: “tháng tư đi tậu trâu bò, để ta
    https://thuviensach.vn

    sắp sửa làm mùa tháng năm” ấy là vì không có mưa rào đất
    không mềm thì không cầy được.
     

    Nhưng vì mưa bất thần, điều kiện thì giờ làm việc đồng
    áng phải từ hết sức sớm, để khi mặt trời lên khỏi ngọn tre là
    nghỉ, rồi đến chiều tà nhạt nắng xiên khoi, mới lại làm cho
    đến tối. Nên ruộng đồng bắt buộc phải gần nhà, chỉ chu vi
    ba bốn cây số là nhiều, thêm phải có cái quán giữa đồng hay
    cây đa để trú mưa và nghỉ trưa. Nên văn minh nông nghiệp
    của người Giao Chỉ Văn Lang, có cái quán giữa đồng, cái cây
    đa đầu làng ấy là một đặc điểm vậy.
     

    — Mùa thu vào khoảng cuối tháng bẩy với những trận
    mưa ngâu tầm tã, không lớn nhiều nhưng dai dẳng đến nửa
    ngày có khi cả ngày để sau đó thì trời dịu mát và thỉnh
    thoảng có những trận mưa nhỏ nhỏ là mùa rươi.
     

    Ngày thì trời quang, đêm thì trăng sáng. Nhất là vào rằm
    tháng tám, trời không có một vẩn mây, trăng sáng rực như
    ban ngày. Vào dịp này người ta gọi “Tháng ba ngày tám” là
    những ngày mà nhà nông rảnh rang công việc đồng áng, chỉ
    ngồi nhà thảnh thơi chờ lúa chín thì gặt, người ta chơi tết
    Trung Thu. Nhưng cũng vẫn phải lo sợ nước lũ từ trên
    nguồn trên về làm ngập lụt mất mùa, hay những cơn bão
    làm đổ cửa đổ nhà.
     

    Qua mùa đông, gặt hái rồi thì mới chắc dạ. Mùa đông bắt
    đầu khoảng cuối tháng mười, hết mưa lớn, nhưng thỉnh
    thoảng có mưa phùn. Nắng nhạt không gay gắt nhưng hanh,

    https://thuviensach.vn

    vì gió bắc không mang hơi nước lại. Đất ruộng sau vụ gặt
    khô và nứt nẻ dần. Nước sông ngòi cũng cạn dần.
     

    Công việc của nhà nông chỉ còn là gặt lúa, mang về nhà
    đập và phơi rồi cất lúa vào bồ và nghỉ ngơi, sửa soạn ăn tết
    và đón xuân, mà bắt đầu lại một vòng tuần hoàn như cũ.
     

    Tuy có rét lạnh, nhưng thường cũng khoảng lạnh nhất là 7,
    8 độ trên không độ mà nóng thì cũng độ 30 - 32 độ không
    đến nỗi lạnh quá hay nóng quá không chịu nổi.
     

    Khí hận ấy, cùng với điều kiện làm việc như đã kể, đã
    khiến người Giao chỉ Văn lang sống định cư thành làng, ở
    giữa một vùng đồng ruộng khoảng ba bốn cây số là nhiều,
    nếu phải du canh theo lối diện tích đất ruộng mở rộng thêm
    của phù sa bồi đắp, thì người ta cũng du canh đến đặt một
    cái làng mới vào giữa khu đất ruộng ấy.
     

    Cái làng với tổ chức của nó chính là một đặc điể...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !