Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Su Trung Quoc - Nguyen Hien Le

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:16' 24-04-2024
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 21h:16' 24-04-2024
Dung lượng: 4.4 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
SỬ TRUNG QUỐC
Biên soạn: Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Văn Hóa
Năm xuất bản: 1997
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Tạo eBook lần đầu: Bobo
Sửa và bổ sung: Goldfish
Tạo lại (01/01/'16): QuocSan.
MỤC LỤC:
Học giả Nguyễn Hiến Lê và tác phẩm cuối đời của ông
Tựa
PHẦN I. THỜI NGUYÊN THỦY VÀ THỜI PHONG KIẾN
§I. Khối Trung Hoa
1. Một khối biệt lập
2. Không nhất trí
Phương Bắc và phương Nam – Hoàng Hà và Dương Tử giang
3. Nhưng thống nhất nhờ chữ viết
§II. Nguồn Gốc
A. Huyền thoại
1. Bàn Cổ
2. Tam Hoàng
3. Ngũ Đế
4. Từ Nghiêu, Thuấn tới cuối nhà Hạ
B. Các vụ khai quật gần đây
1. Xương người
2. Giáp cốt (mai rùa và xương loài vật)
3. Thời đại đồ đồng
§III. Nhà Thương
1. Đất đai, triều đại
2. Xã hội: Tín ngưỡng – Nông nghiệp…
§IV. Nhà Chu
1. Các thời kỳ và niên đại
2. Thời Tây Chu–Chế độ phong kiến
a. Văn minh nhà Chu. Ba ông thánh
b. Chế độ phong kiến
c. Chế độ tôn pháp
Tôn giáo
d. Tổ chức hành chính
Triều đình – Quan chế
Điền chế
Binh chế
Pháp chế
Giáo dục
e. Xã hội
Nông dân
Cưới hỏi
Chôn cất
3. Thời Đông Chu
a. Nguyên nhân suy vi
b. Thất Bá
Tề Hoàn công
c. Thời đại đồ sắt
Chế độ cai trị thay đổi
Đảo lộn địa vị xã hội
Cách mạng về chiến thuật
d. Thất Hùng
§V. Nhà Tần (221–206 Trước CN) (Thời của pháp gia)
1. Tần Thủy Hoàng
2. Tổ chức hành chính
3. Trọng nông
4. Thống nhất văn tự, đồ đo lường, tư tưởng
5. Xây cất
6. Mở mang bờ cõi
7. Thủy Hoàng chết – Nhị Thế lên thay
8. Nhà Tần chấm dứt – Hạng Vũ và Lưu Bang
§VI. Tư Tưởng Trung Hoa Thời Tiền Tần
1. Triết học
a. Đặc điểm của triết học Trung Quốc
Tư tưởng chính trị – Các phái
b. Phái Nhân Trị – Hữu Vi
Khổng Tử
Nhà chính trị
Nhà luân lí
Nhà giáo
Mặc Tử – Biệt Mặc
Biệt Mặc
Mạnh Tử
Tuân Tử
c. Phái Vô Vi
Dương Tử
Lão Tử
Trang Tử
d. Phái Pháp Trị – Cực Hữu Vi
Hàn Phi
e. Âm Dương Gia
Trâu Diễn
Dịch học phái
2. Văn Học
Kinh Thi
Sở Từ
Văn xuôi
Kí sự
Luận thuyết
PHẦN II. THỜI QUÂN CHỦ
Giai đoạn đầu – Hán thịnh, Hồ còn yếu
Tổng quan về thời quân chủ
§I. Nhà Hán (–206 – +220)
A. Tiền Hán
1. Từ Cao Tổ đến Cảnh đế
2. Huệ đế và Lữ hậu
3. Văn đế và Cảnh đế
4. Võ đế
5. Vương Mãng biến pháp
B. Hậu Hán
6. Quang Võ
7. Họa ngoại thích và hoạn quan. Giặc Hoàng Cân. Hậu Hán chấm dứt
C. Chống ngoại xâm – Mở mang để quốc
1. Dẹp Hung Nô và các bộ lạc ở Tây Vực
2. Chiếm Triều Tiên
3. Tiến xuống phía Nam
D. Kinh tế
1. Nông nghiệp
2. Công nghiệp
3. Thương mãi
4. Dân số
E. Văn hóa
1. Triết học và tôn giáo
a. Khổng giáo
b. Lão giáo – Đạo giáo
c. Phật giáo vào Trung Quốc
2. Văn Học
a. Văn xuôi
b. Phú
c. Thơ
d. Biên khảo
e. Thư viện–Trường đại học
3. Mĩ thuật
4. Khoa học
§II. Thời Tan Rã Đầu Tiên Của Đế Quốc
Tổng Quan
A. Tam Quốc (213–280)
Tình thế của Thục Hán
Tình thế của Ngô
Tình thế của Ngụy
B. Tây Tấn (265–317)
C. Nam Bắc Triều (317–580)
1. Tổng quan
2. Bắc Triều
3. Nam Triều
Tình hình xã hội miền Nam
Nhà Đông Tấn
Nhà Tiền Tống (hoặc Lưu Tống)
Nam Tề
Lương
Trần
D. Kinh tế
1. Nông nghiệp
2. Tiểu công nghệ
3. Thương mại
E. Văn hóa
1. Triết học–Tôn giáo
Nho – Lão
Huyền học
Phật giáo
2. Văn học
a. Văn trào
b. Văn xuôi
Sử
Kí sự và tự tình
Phê bình
Tiểu thuyết
Từ, phú, thơ
c. Thơ
3. Khoa học
4. Hội họa
Điêu khắc
Kiến trúc
5. Âm nhạc
§III. Thống Nhất Trở Lại (580–906)
A. Nhà Tùy (581–618)
1. Văn đế (581–604)
2. Dạng đế (605–617)
B. Nhà Đường (618–906)
1. Thời thịnh trị: Thái tôn
Dẹp hết loạn
Mở mang bờ cõi
Chiến tranh Triều Tiên
Bi kịch giành ngôi
Chính trị
Giáo dục
Binh chế
Cải cách pháp luật
2. Võ hậu tiếm ngôi (684–705)
Tư cách Võ hậu
Lên ngôi hoàng đế. Nhà Chu
Vi hậu
Hai phe ở triều đình
3. Thời rực rỡ: Huyền tôn
Một ông vua nghệ sĩ
Họa phiên trấn
Họa hoạn quan
4. Mạt vận của nhà Đường
Nỗi điêu đứng của dân
Loạn Hoàng Sào
Nhà Đường chấm dứt
5. Kinh tế – Xã hội
Nông nghiệp
Công nghiệp
Thương nghiệp
Dân số – Thị trấn
6. Văn hóa
Triết học – Tôn giáo
Phật giáo
Các tôn phái
Những tôn giáo mới truyền vào
7. Văn Học
a. Văn
Sử
Tiểu thuyết
Văn dịch
b. Thơ
c. Từ
d. Âm nhạc
e. Hội họa
g. Kiến trúc – Điêu khắc
h. Khoa học
Văn minh Trung Quốc truyền qua các nước khác.
§IV. Tan Rã Lần Thứ Nhì (906–960) – Ngũ Đại Và Thập Quốc
1. Tổng Quan
2. Ngũ Đại ở Bắc
Hậu Lương
Hậu Đường
Hậu Tấn
Hậu Hán
Hậu Chu
3. Thập Quốc ở Nam
§V. Thống nhất và phân chia lần thứ III
A. Thống nhất: Bắc Tống (960–1120)
1. Thống nhất đất đai
2. Củng cố nội bộ
Thu quyền chính trị về trung ương
Tổ chức lại quân đội
3. Ngoại giao
Với Liêu
Với Tây Hạ
4. Kinh tế suy sụp – Quốc khố rỗng không
5. Cuộc biến pháp của Vương An Trạch
6. Tân pháp thất bại – Hai đảng tranh nhau
7. Rợ Kim mạnh lên, chiếm trọn miền bắc Trung Quốc
B. Chia hai nam bắc – Nam Tống (1127–1279)
1. Cao Tôn lên ngôi, dời đô xuống Nam
2. Tống, Kim ghìm nhau
3. Phe chủ chiến
4. Các đảng nghĩa quân
5. Phong trào học sinh dâng thỉnh nguyện
6. Tống, Kim và Mông Cổ ở cuối thế kỷ XII
Tống, Kim đều suy
Mông Cổ mạnh lên
Tống vong tam kiệt
C. Kinh Tế – Xã Hội
1. Nông nghiệp
2. Công Nghiệp
3. Thương mãi
4. Đời sống thành thị
5. Hàng Châu – Đời sống các giới
D. VĂN HOÁ
1. Tôn giáo
2. Triết học
3. Văn, thơ
4. Sử học
Ngữ lục
Tiểu thuyết
Thơ
Từ
Họa
6. Khoa học
7. Phong hóa đời Tống
PHẦN III. THỜI QUÂN CHỦ (Tiếp)
Giai đoạn sau: Hán suy, Hồ mạnh
§I. Dưới Sự Thống Trị Của Mông Cổ: Nhà Nguyên (1277–1367)
Tổng Quan
A. Chính sách của Mông Cổ
1. Chính sách chung của các rợ
2. Kỳ thị Trung hoa
3. Nhưng tiếp đón mọi dân tộc
4. Tính mở mang thêm Đế Quốc
5. Chế độ chánh trị
B. Tình hình xã hội
1. Không tổ chức, bất công
2. Kinh Tế
3. Nguyên Nhân suy vi
C. Nhà Nguyên bị diệt
D. Văn hóa
Văn thơ
Tuồng
Khoa học
§II. Nhà Minh (1368–1644)
A. Thời thịnh
1. Thái Tổ (1368–1398), ông vua độc tài nhất trong lịch sử Trung Hoa
2. Huệ Đế– Loạn Tĩnh Nạn – Thành Tổ (1403–1424)
3. Thành Tổ (1403–1424)
B. Chính trị
1. Quân chủ chuyên chế
2. Binh chế
3. Hình pháp
4. Giáo dục – Thi cử
5. Canh nông – Thuế
C. Ngoại giao
1. Bảy lần đi sứ và thám hiểm của của Trịnh Hoà
2. Người Trung Hoa ra hải ngoại làm ăn
3. Người Âu vào Trung Quốc
D. Suy vong
Loạn ở trong
1. Đảng Đồng Lâm
2. Kinh tế lâm nguy
3. Họa Nhật Bản
4. Tệ tham nhũng
E. Nhà Minh sụp đổ
1. Mãn Châu đánh ở biên giới, giặc nổi ở trong
2. Tư Tôn tuẫn quốc. Lý Tự Thành lên ngôi
3. Ngô Tam Quế phản quốc – Thanh diệt Minh
G. Văn hoá
1. Xã hội – Tôn giáo
2. Triết học
3. Văn Nghệ
4. Mỹ Thuật
5. Khoa Học
§III. Dưới Sự Thống Trị Của Mãn Châu: Nhà Thanh (1644–1911)
Tổng quan
A. Thời thịnh trị
1. Thống nhất – củng cố
Dẹp các phong trào phản Thanh phục Minh
Triệt hạ ba phiên vương
2. Phát triển
Chế độ – Chính chế
Khang Hi (Thánh Tổ 1662–1722)
Ung Chính (Thế Tôn 1723–1735)
Càn Long (Cao Tôn 1736–1795)
Tại Sao Mãn Thanh thành công
Về Văn Hóa
1. Triết Học
Hoàng Tôn Hi
Vương Phu Chi
Cố Viêm Võ
Nhan Nguyên
Đái Chấn
Khang Hữu Vi
2. Sử học
3. Văn học
Thơ
Tuồng
Tiểu thuyết
Đoản thiên tiểu thuyết
Dịch sách Âu
Hội Họa
Đồ sứ
4. Khoa học
5. Kinh tế – Xã hội
B. Thời suy: Nội ưu và ngoại hoạn
1. Nguyên nhân suy bại
2. Nha phiến chiến tranh
3. Thái Bình Thiên Quốc
4. Loạn Niệm và Hồi Giáo
5. Chiến tranh nha phiến thứ nhì – Anh Pháp liên quân
6. Nga nhảy vô chia phần
7. Triều đình vãn Thanh – Từ Hi Thái Hậu
8. Cuộc vận động tự cường
9. Trung Hoa bị xâu xé
10. Trung – Nhật chiến tranh
11. Ba nước can thiệp vào Liêu Đông
12. Liệt cường qua phân Trung Quốc
C. Nhà Thanh sụp đổ
1. Vận động Duy Tân và chính biến Mậu Tuất (1898)
3. Nga – Nhật chiến tranh
4. Thanh dự bị lập hiến mà không thực tâm
5. Nhìn lại thời quân chủ
PHẦN IV. THỜI DÂN CHỦ
Lời nói đầu
§1. Những Năm Đầu Của Chế Độ Cộng Hòa
A. Chính phủ miền Bắc của Viên Thế Khải
1. Tôn Văn và cuộc cách mạng tiểu tư sản 1911 (Tân Hợi)
2. Vua Thanh thoái vị – Nhà Thanh chấm dứt
3. Viên Thế Khải phản cách mạng
4. Ngoại giao với liệt cường
5. Họa quân phiệt sau khi Viên chết
6. Ngũ tứ vận động
B. Chính phủ cách mạng ở miền nam
1. Tôn Văn lập chánh phủ, tiếp xúc với Nga
2. Học thuyết Tôn Văn
3. Công của Tôn Văn
C. Cách mạng Văn hoá
1. Vai trò của giới trí thức mới
2. Những nhà mở đường (1898–1916)
3. Cao trào cách mạng (1917–1927)
§2. Trung Hoa Dân Quốc
A. Thống nhất trở lại (1926–1928)
1. Tưởng Giới Thạch
2. Tưởng làm Tổng tư lệnh đem quân Bắc phạt
3. Bắc phạt, thống nhất quốc gia
B. Chống cộng (1926-1938)
1. Giai đoạn đầu (1926-1927): trục xuất Cộng ra khỏi Quốc Dân đảng
2. Giai đoạn thứ nhì (1927–37): tấn công Cộng
Cộng thua
Cộng thay đổi đường lối
Mao Trạch Đông
Tưởng tấn công Mao ở Giang Tây
3. Cuộc Trường hành (10.1934 đến 10.1935)
KIẾN THIẾT
C. Thực thi dân quyền
Người lãnh đạo
E. Lo cho dân sinh
1. Mở mang các ngành
Giao thông vận tải
Canh nông
Về kỹ nghệ
Ngân hàng
2. Kinh tế
3. Văn hóa
4. Giáo dục
5. Văn học
F. Bảo vệ dân tộc
Xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng
Chống xâm lăng – Nhật chiếm Mãn Châu
Vụ Tây An
G. Chiến tranh Trung – Nhật
Giai đoạn I: Trung Hoa chiến đấu lẻ loi: 1937-1941
Lên Trùng Khánh
Cộng sản ở Diên An
Giai đoạn sau, trong thế chiến 1941–1945
H. Lại nội chiến – Tưởng thua
Hai bên chạy đua nước rút
Mỹ muốn hòa giải hai phe
Tại sao Tưởng thua?
§3. Trung Hoa Cộng Sản
A. Đảng và hiến pháp năm 1954
Thành phần của đảng
Qui chế
Ý thức hệ
Cấp bậc, quyền hành
Cán bộ
Hiến pháp 1954
Các nhà chỉ huy – Mao và các đồng chí
Quân đội
B. Tân dân chủ (1949-1952)
Nét căn bản của Tân dân chủ
C. Giai đoạn chuyển qua xã hội chủ nghĩa
Kế hoạch thứ nhất
Kế hoạch thứ nhì 1958-1962
Trăm hoa đua nở
Mao bị truất, Lưu Thiếu Kỳ lên thay
Cách mạng văn hoá
Kinh tế
a. Nông nghiệp
b. Kỹ nghệ
c. Chuyên chở
d. Ngoại thương
e. Các công trình lớn
Kinh Hồng Kỳ
Cầu Nam Kinh
Bom hạch tâm
g. Ngoại giao
Nga – Hoa
Hoa – Mỹ
Các nước châu Á
Châu Phi và Châu Mỹ la tinh
Xích mích Nga–Hoa
1. Xích mích về đường lối
2. Xích mích về ý thức hệ thời Kroutchev
3. Xích mích về quyền lợi, đất đai
4. Lý do quan trọng nhất
h. Xã hội
Đời sống của dân
Dân Trung Hoa có thực sự hạnh phúc không?
Văn học
Thời chống Nhật và thời nội chiến (1938–1949)
Thời kỳ chia hai (1949–1970)
Đài Loan
Kết Phần Tư
PHỤ LỤC. Bảng các triều đại
Phụ lục I. Bảng các triều đại
Phụ lục II. Sự việc quan trọng từ 1911 đến 1973
A. Cộng hòa tiểu tư sản (1911–1927)
B. Nội chiến đầu tiên (1927–1936)
C. Mặt trận thống nhất Quốc–Cộng để kháng Nhật
D. Nội chiến thứ nhì (1947–1949)
E. Thành lập chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (1949–1957)
F. Thời nhảy vọt và do dự về kinh tế 1958–1965
G. Cuộc cách mạng văn hóa và phản ứng (1966–1973)
H. Hướng mới ngoại giao
Phụ lục III. Sách tham khảo
A. Thông sử và đoạn đại sử
B. Đời một số vua chúa
C. Văn hoá – Xã hội
D. Từ cách mạng 1911 đến nay – Quốc Dân đảng và Cộng sản
Học giả Nguyễn Hiến Lê và tác phẩm cuối đời của ông
Nguyễn Hiến Lê hiệu là Lộc Đình, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 tại Hà Nội (giấy khai sinh ghi ngày
8-4-1912), quê làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây).
Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, thân phụ, bác ruột tham gia phong trào Duy tân ở
Trường Đông Kinh nghĩa thục, người bị mất tích ở nước ngoài, người bị thực dân truy nã, người lẻn
vào Sài Gòn rồi ẩn mình ở Đồng Tháp Mười. Từ đó, bác Ba ông sống lập nghiệp luôn ở miền Tây Nam
Việt.
Thuở nhỏ, Nguyễn Hiến Lê học ở trường tiểu học Yên Phụ, Trường Bưởi, Trường Cao đẳng Công
Chánh (Hà Nội). Năm 1934 tốt nghiệp được bổ làm việc tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long,
kể từ đó ông công tác và định cư luôn ở miền Nam cho đến ngày qua đời.
Năm 1935 bắt đầu viết du kí, kí sự, tiểu luận, dịch tác phẩm văn chương, đến năm 1945 có đến hàng
chục tác phẩm, nhưng đã thất lạc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Vì ông từng làm
nhân viên Sở Công Chánh thuộc ngành Thuỷ lợi (Hydraulique) thường được đi các tỉnh miền Hậu
Giang, Tiền Giang nên biết tường tận về đất đai và con người ở các địa phương thuộc khu vực này.
Sau ngày Nam bộ kháng chiến (23-9-1945) ông bỏ đời sống công chức, tản cư về Đồng Tháp, Long
Xuyên, đi dạy học. Năm 1952 thôi dạy, lên Sài Gòn sinh sống bằng ngòi bút và chuyên tâm vào công
tác văn hoá.
Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn du kí khoa học có tên: Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, sách tuy
mỏng mà tác giả bỏ ra nhiều công sức. Nguyên sách được viết nhân một chuyến về Hà Nội thi lấy bằng
kĩ sư do đề nghị của bạn học hiện là Chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Thanh Nghị (Vũ Đình Hoè). Tác
phẩm viết xong, nhưng gởi ra Hà Nội không được (vì chiến tranh), bản thảo bị mất trong Đồng Tháp
Mười, năm 1954 ông viết lại, xuất bản trong năm đó và được tái bản nhiều lần. Từ đó, hàng năm ông
có đôi ba tác phẩm ra mắt công chúng độc giả.
Ngòi bút Nguyễn Hiến Lê đề cập đến nhiều lĩnh vực, mà ở lĩnh vực nào cũng có căn cứ khoa học, am
tường cặn kẽ về các đối tượng, sâu sắc về các vấn đề được nhắc tới mà không thiếu tính nghệ thuật.
Tác phẩm của ông bao gồm nhiều chủ đề, như:
1. Ngôn ngữ học
2. Gương danh nhân
3. Tự luyện đức trí
4. Giáo dục
5. Cảo luận
6. Du kí
7. Dịch thuật
8. Triết học: Gồm Đại cương triết học Trung Quốc (2 cuốn – 1996), Nho giáo một triết lí chính trị
(1958), Liệt tử và Dương tử (1972), Một lương tâm nổi loạn (1970), Bertrand Russell (1971),
Mạnh tử (1974)…
9. Văn học: Gồm một số tác phẩm đặc sắc và công phu như: Hương sắc trong vườn văn (2 cuốn,
1962), Luyện văn (3 cuốn, 1953), Tô Đông Pha (1970), Đại cương văn học sử Trung Quốc (3 cuốn,
1955), Văn học Trung Quốc hiện đại (2 cuốn, 1968)… giới thiệu được những tinh hoa của văn học
nói chung và văn chương Việt Nam, Trung Hoa nói riêng.
10. Sử học: Gồm một số tác phẩm về lịch sử và văn minh thế giới như: Lịch sử thế giới (4 cuốn, 1955),
Bài học Israël (1968), Bán đảo Ả Rập (1969), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Lịch sử văn minh Ấn
Độ (1974), Bài học của lịch sử (1972), Nguồn gốc văn minh (1971), Lịch sử văn minh Ả Rập
(1969), Sử kí Tư Mã Thiên (1970), và bộ sử này (Sử Trung Quốc 3 cuốn) là những cái nhìn xuyên
suốt về lịch sử văn minh và sử thế giới.
Sử Trung Quốc là một “tập đại thành” của tác giả về toàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ cổ đại đến
hiện đại (1982). Đây là tác phẩm lớn và tương đối đầy đủ nhất trong chương trình của ông về “Trung
Hoa học”.
Trong thư tịch Việt Nam, trước thế chiến chúng ta đã có Trung Hoa sử cương[1] của Đào Duy Anh và
những năm 50 có Trung Quốc sử lược[2] của Phan Khoang. Thật ra hai tác phẩm này được Đào Duy
Anh (1904-1988), Phan Khoang (1906-1971) viết cho chương trình Trung học và có tính cách phổ biến
kiến thức phổ thông nhằm giúp độc giả thiếu điều kiện ngoại ngữ (nhất là chữ Hán) có cái nhìn tổng
quan về lịch sử Trung Quốc. Tuy vậy, hai cuốn trên đã giúp ích được rất nhiều cho đa số bạn đọc Việt
Nam trên nửa thế kỉ nay.
Lần này với bộ Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê đã đầu tư trí tuệ và dụng công nhiều hơn. Có thể
nói đây là một tác phẩm lớn cuối đời ông, vì ông đã bỏ ra rất nhiều công sức và thời gian cho công
trình này.
Như trên đã nói, đây là một “tập đại thành” sử học của tác giả. Suốt mấy ngàn năm lịch sử Trung
Quốc đầy biến động, được ông tổng kết lại khoảng 1000 trang in. Nói về lượng thì 1000 trang này
không thể nào vẽ được toàn diện một tổng quan lịch sử Trung Hoa hơn mấy ngàn năm lập quốc, kiến
quốc… rồi “Hoa hoá” (Hán hoá) các dân tộc khác, nhất là các rợ phương Bắc, một thời bách chiến
bách thắng trên phần lớn lục địa Âu Á. Nhưng với dung lượng khiêm nhường này, tác giả đã phác thảo
được diện mạo của chiều dài lịch sử Trung Quốc. Tác phẩm này không những được tác giả trình bày
cặn kẻ các sự kiện lịch sử suốt cả không gian và thời gian với đầy đủ sử liệu và chứng cứ khoa học mà
còn đào sâu được bề dày lịch sử, một nền văn minh cổ nhất và lâu dài nhất của nhân loại.
Qua tác phẩm, tác giả giúp chúng ta tìm hiểu về toàn bộ lịch sử Trung Quốc, nhất là giai đoạn hiện
đại, một cách đầy đủ hơn. Dựa vào những tài liệu tương đối mới (lúc đó – xem thư mục ở cuối sách);
đặc biệt là tham khảo các tác phẩm của các học giả, sử gia Tây phương và Trung Quốc. Ông đã phác
họa được toàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ thời huyền sử tới hiện đại và tận đến năm 1982. Tác giả
chia lịch sử Trung Quốc ra làm 3 thời kì. Điều này khác hẳn các sử gia khác khi nghiên cứu sử Trung
Quốc. Đa số các học giả phương Tây chia (mà một số sử gia Trung Hoa theo) lịch sử thế giới cũng như
lịch sử Trung Quốc thành: thời thượng cổ, Trung cổ, Cận cổ, Cận đại, Hiện tại. Theo tác giả, các danh
từ trên chúng ta mượn của phương Tây và những khái niệm ấy cũng không thể áp dụng vào lịch sử
Trung Hoa được vì lịch sử Trung Hoa từ đời Hán đến cuối đời Thanh, diễn tiến đều đều, không thay
đổi gì nhiều như lịch sử phương Tây, không làm sao phân biệt được tới đâu là hết thời Trung cổ, tới
đâu là hết thời Cận cổ, rồi Cận cổ với Cận đại khác nhau ra sao? Có lẽ quan niệm như vậy, tác giả
chia sử Trung Quốc ra làm ba thời kì:
- Thời Nguyên thuỷ và thời Phong kiến gom làm một (gọi là phần 1) vì theo ông ngày nay chúng ta
không biết được chắc chắn tới đâu bắt đầu thời phong kiến.
- Thời Quân chủ từ Hán tới cách mạng Tân Hợi (1911). Đây là thời kì dài nhất trên 21 thế kỉ, thời
này ông tách làm hai:
* Từ Hán tới Nam Tống (phần II)
* Từ Nguyên tới cuối Thanh (phần III)
- Thời Dân chủ từ cách mạng Tân Hợi (1911) tới ngày nay (1982) (phần IV).
Một điểm độc đáo của bộ sách này như trên đã nói, tác giả không những vẽ được dung mạo sử
Trung Quốc mà đào sâu được bản chất của nền văn minh sử ấy. Dân tộc Trung Hoa là một dân tộc có
một nền văn minh vô cùng độc đặc (infiniment original). Tuy ra đời sau một vài nền văn minh khác
nhưng tồn tại lâu dài nhất (cho tới ngày nay). Khoảng 3000 năm trước, họ đã có một tổ chức xã hội
chặt chẽ, một tôn giáo có tính cách xã hội… nhất là có một lối chữ viết tượng hình và chính nhờ lối
chữ viết này (chữ Hán) mà họ thống nhất được một đất nước bao la với hàng trăm dân tộc khác nhau.
Và cũng chính nền văn minh ấy họ đã “Hoa hoá” được các nền văn minh khác, các tôn giáo khác, các
học thuyết khác trở thành màu sắc Trung Hoa mà các nền văn minh khác không có được.
Chính ở khía cạnh này, tác giả đã làm nổi bật được văn minh sử Trung Quốc trong cộng đồng văn
hóa, có ảnh hưởng ít nhiều đến nền văn hóa đậm nét Nho – Phật ở Á Đông. Điều đó được thấy rõ qua
cách phân tích, đánh giá của tác giả đối với lịch sử Trung Quốc. Âu đó cũng là điều nổi bất trong gần
1000 trang in mà các bộ sử khác chưa nêu được. Và có lẽ nặng về khía cạnh “nhân văn” này mà tác
giả phần nào làm loãng đi những chiến công của sử Trung Quốc. Độc giả khó tính chắc sẽ phiền sử gia
họ Nguyễn thiên vị? Có lẽ theo quan điểm nhân văn ấy ông kết luận về khía cạnh trên như sau:
“Đọc sử thời quân chủ của Trung Hoa, tôi buồn cho dân tộc đó thông minh, giỏi tổ chức mà không
diệt được cái họa ngoại thích và hoạn quan gây biết bao thống khổ cho dân chúng đời này qua đời
khác. Nhưng tôi rất trọng họ, mến họ vì triều đại nào cũng có hằng ngàn hằng vạn người coi cái chết
nhẹ như lông hồng, tuẫn tiết vì nước chứ không chịu nhục, và những thời triều đình “vô đạo” thì vô số
kẻ sĩ coi công danh, phú quý như dép cỏ, kiếm nơi non xanh nước biếc dắt vợ con theo, cày lấy ruộng
mà ăn, đào lấy giếng mà uống, sống một đời thanh khiết, làm thơ, vẽ để tiêu khiển, hoặc trứ tác về
triết, sử, tuồng, tiểu thuyết để lưu lại hậu thế. Đọc đời các vị đó tôi luôn luôn thấy tâm hồn nhẹ nhàng.
Chưa có một bộ sử nào của Tây phương cho tôi được cảm tưởng đó”. (Sđd trang 294)
Các nhận xét đó bàng bạc suốt tác phẩm.
Tính đến năm 1975 ông xuất bản đúng Một trăm tác phẩm (100) với các thể loại vừa kể. Từ năm 1975
cho đến khi qua đời, ông còn viết hơn 20 tác phẩm khác như: Tourguéniev, Gogol, Tchékhov, Đời nghệ sĩ,
Để tôi đọc lại, Tuân tử, Hàn Phi tử, Trang tử – Nam Hoa kinh, Lão tử – Đạo đức kinh, Khổng tử – Luận
ngữ, Đời viết văn của tôi (1966), Hồi kí (1992), nhất là bộ sử Trung Hoa mà chúng tôi vừa nhắc ở trên.
Những năm trước 1975 tại Sài Gòn, ông là một trong một vài người cầm bút được giới trí thức quí mến
về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuật. Đó là thành quả lao động nghiêm cẩn của
mình, ông được đa số quần chúng độc giả trân trọng kể cả học sinh, sinh viên. Những năm 60, 70 chính phủ
Sài Gòn đã trân tặng ông (cùng Giản Chi) Giải thưởng văn chương toàn quốc (1966) và Giải tuyên
dương sự nghiệp văn hóa (1973) với danh hiệu cao quí đương thời, cùng với một ngân phiếu lớn (tương
đương mấy chục lượng vàng). Ông đã công khai từ chối với lí do “dùng tiền ấy để giúp nạn nhân chiến
tranh” và bản thân tác giả không dự giải.
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê là những đóng góp lớn cho học thuật Việt Nam thời hiện đại.
Năm 1980, ông về ẩn cư ở Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang) đến ngày 22 tháng 12 năm 1984, ông
bệnh mất tại Sài Gòn, hưởng thọ 72 tuổi, thi hài được hoả táng ở Thủ Đức, để lại sự thương tiếc trong lòng
nhiều làm văn hóa và bạn đọc thương mến trong và ngoài nước.
Nguyễn Q. Thắng
(12-1966)
Ghi chú: Bài viết ở trên và phụ lục III (Sách tham khảo) ở cuối eBook là do tôi chép từ bản in của Nhà
xuất bản Tổng hợp Hồ Chí Minh, năm 2006 (trọn bộ 3 cuốn – 812 trang). Ngoài ra tôi còn dùng bản
này sửa lỗi và bổ sung các hình ảnh, các đoạn mà bản nguồn (tức bản đăng trên Việt Nam Thư Quán)
chép thiếu, trong đó có đoạn thiếu đến 27 trang, mà bản của nhà Tổng hợp Hồ Chí Minh cũng có nhiều
chỗ sai sót. Trong eBook này, để khỏi rườm, nhiều chỗ tôi sửa sai mà không chú thích. (Goldfish).
Tựa
Năm 1979, viết xong cuốn “Kinh Dịch, một tổng hợp Trung triết thời Tiên Tần”, tôi tính chấm dứt
công việc biên khảo để viết hồi ký, rồi nghỉ ngơi: đã gần thất tuần rồi.
Năm 1981, bộ Hồi ký viết xong, tôi sắp đặt lại các tủ sách ở Sài Gòn và Long Xuyên, không ngờ có
tới non năm chục cuốn về lịch sử, văn minh Trung Hoa. Tôi lấy ra đọc lại hết, mượn thêm được của
bạn 6–7 cuốn nữa; và cũng như trên ba chục năm trước khi tìm hiểu văn học Trung Quốc, tôi vừa đọc
vừa ghi chép, và rốt cuộc viết thành bộ sử này, ngoài dự định của tôi.
Trung Hoa ngày nay lớn gần bằng cả châu Âu, dân số trên một tỉ (1 phần 5 dân số thế giới), có
truyền thống trọng sử, từ thế kỷ thứ VIII trước Tây Lịch (đời Tuyên Vương nhà Chu) đã có tín sử, và từ
đó đời nào cũng có những sử quan chép sử kỹ lưỡng, có công tâm, cho nên tài liệu về sử của họ nhiều
vô cùng, rất có giá trị. Bốn năm chục cuốn tôi được đọc, chỉ như một bụi cây trong một khu rừng rộng,
có thấm gì đâu, cho nên tôi phải hạn chế sự tìm hiểu của tôi.
Tôi cho lịch sử Trung Hoa là lịch sử của một nền văn minh vô cùng độc đặc (infiniment originale:
Guillermaz), tuy ra đời sau vài nền văn minh khác: Ai Cập, Lưỡng Hà… nhưng tồn tại lâu nhất.
Khoảng 3.000 năm trước, nó xuất hiện từ miền trung du sông Hoàng Hà. Trong khi các bộ lạc chung
quanh đều bán khai thì nhà Ân (cuối nhà Thương) và nhà Chu đã giỏi về nông tang, đồ đồng, có một tổ
chức xã hội chặt chẽ, một tôn giáo có tính cách xã hội (thờ Thượng đế, thần xã tắc, cha mẹ…), rất ít
mê tín, một vũ trụ quan duy vật (thuyết âm dương) và một lối chữ tượng hình, hội ý mà một số nhà
ngôn ngữ học hiện nay khen là có thể dùng làm lối chữ quốc tế được; mà sự thực trong non 3.000 năm,
nó đã đóng vai trò ngôn ngữ quốc tế trong “thế giới” của Trung Hoa gồm cả chục dân tộc ở Đông Á.
Văn minh đó truyền bá lần lần ra các miền chung quanh mà không phải dùng tới võ lực; nó thu phục
rồi khai hóa, đồng hóa nhiều bộ lạc dã man, và cuối thời Chiến Quốc nó đã lan rộng ra gần hết lưu
vực hai con sông lớn nhất của Trung Quốc: Hoàng Hà và Dương Tử giang. Rồi nhà Tần thống nhất
Trung Quốc, chấm dứt chế độ phong kiến, lại mở mang thêm đất đai tới hạ lưu sông Tây Giang (Quảng
Đông ngày nay).
Phía đông là biển. Phía tây và phía bắc là những cánh đồng cỏ, những sa mạc mênh mông, bạt ngàn,
từ đó, các dân tộc du mục hết lớp này tới lớp khác, đột nhập vào đất Trung Hoa, cướp phá mùa màng,
súc vật…, người Trung Hoa phải xây trường thành để chặn họ; từ nhà hán phải chiến đấu với họ, dồn
họ về các cánh đồng cỏ, mới đầu có lẽ chỉ là để tự vệ, sau nhân đó mà mở mang thêm bờ cõi, thành một
cuộc tranh dành đất đai suốt hai ngàn năm, tới cuối nhà Thanh. Hễ Hán (Trung Hoa) thịnh thì Hồ (du
mục) lùi về phương Bắc để đợi thời Hán suy để vượt trường thành vào chiếm đất: mới đầu họ chiếm
được một phần miền Hoa bắc (các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây…), lần lần họ mạnh lên, chiếm trọn được
Hoa bắc, tới bờ sông Dương Tử, sau cùng, đời Nguyên, Thanh, có thời họ làm chủ hoàn toàn non sông
của người Hán hai lần: lần đầu một thế kỷ (Nguyên), lần sau hai thế kỷ rưỡi (Thanh). Họ chiếm đất,
cai trị dân tộc Hán, dùng văn tự, ngôn ngữ Hán, chỉ trong vài thế hệ Hán hóa, thành người Hán, và khi
người Hán dành lại được chủ quyền, thì đất đai của Hồ thành đất đai của Hán, con dân Hồ cũng thành
con dân Hán, nhờ vậy mà sau thời Nam Bắc triều dân tộc Hán thêm được dòng máu Tiên Ti, Tây Tạng,
Thác Bạt, sau thời Ngũ Đại, thêm được dòng máu Sa Đà; sau thời Thanh thêm được dòng máu Mãn,
Mông, Hồi Hột và đế quốc của họ rộng hơn tất cả các đời trước, trừ đời Nguyên. Hiện tượng đó có thể
nói là độc nhất trong lịch sử nhân loại.
Hơn nữa, họ tiếp thu các văn minh khác, một cách có “sáng tác” – theo ngôn ngữ ngày nay – như
tiếp thu đạo Phật của Ấn mà làm giàu cho triết học của họ, cho cả triết học Ấn nữa. Ngày nay họ
đương tiếp thu văn minh phương Tây và đã có ý muốn sửa đổi chính sách của Nga: họ còn dò dẫm, ta
chờ xem họ có thành công hay không.
Một điểm nữa tôi muốn nhấn mạnh: ảnh hưởng của Khổng Tử tới lịch sử Trung Hoa. Ông chủ
trương vua phải là người có tài, đức; ngôi vua không truyền cho con mà truyền cho người hiền như
Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn cho Vũ; nhưng thời ông, sự truyền tử đã có từ lâu đời, không thể bỏ
được; ông chỉ có thể cải thiện chế độ, đào tạo những kẻ sĩ có tài, để giúp bọn quý tộc và lần lần thay
họ mà trị nước. Những kẻ sĩ đó đều được tuyển trong dân chúng, và từ Hán, Đường trở đi, chế độ quân
chủ Trung Hoa có tính cách sĩ trị, không còn giai cấp quý tộc cha truyền con nối nắm hết các chức vụ
lớn ở trong triều, ngoài quận nữa. Đó là một tiến bộ rất lớn, người phương Tây phải khen.
Ông lại giảm bớt quyền chuyên chế của vua bằng cách đề cao nhiệm vụ, tư cách của sử quan, gián
quan; dạy cho vua, quan, kẻ sĩ và thường dân rằng vua phải thương dân như con, phải tôn trọng
nguyện vọng của dân…; phải chăm lo cho dân đủ ăn, tài sản trong nước phải quân bình, đừng có kẻ
nghèo quá, kẻ giàu quá. Suốt thời quân chủ, ông vua sáng lập một triều đại nào cũng nghĩ ngay đến
vấn đề quân điền, chia đất cho dân cày trước hết. Ngày nay Tôn Văn và Mao Trạch Đông cũng theo
chính sách đó.
Sau cùng Khổng Tử có tinh thần nhân bản rất cao. Ông hiếu hoà trọng trung dung, rất ghét sự tàn
bạo, và đa số các vua chúa Trung Hoa theo ông. Học thuyết của Thương Ưởng, Hàn Phi làm cho Tần
mạnh lên, thống nhất được Trung Quốc, nhưng khi thống nhất rồi, dân tộc Trung Hoa không dùng nó
nữa, từ Hán tới Tống, trên 1.500 năm, không có một bạo chúa nào như Tần Thủy Hoàng. Khi đạo
Khổng suy rồi, nhà Minh mới theo nhà Nguyên (Mông Cổ) dùng chính sách độc tài; nhà Thanh (Mãn
Châu) cũng vậy, và gần đây, còn tệ hơn nữa, Mao Trạch Đông đã tự hào rằng đã giết kẻ sĩ gấp trăm
lần Tần Thủy Hoàng! Nhưng ông ta chưa chết thì “cách mạng văn hóa” của ông ta đã phải dẹp bỏ.
Về việc phân chia thời đại, tôi không theo cách của đa số học giả phương Tây (và học giả Trung
Hoa bắt chước họ), chia thành thời Thượng Cổ, Trung Cổ, Cận Cổ, Cận Đại, Hiện Đại. Những danh từ
đó mượn của phương Tây, không áp dụng vào lịch sử Trung Hoa được, trừ hai danh từ Thượng Cổ và
hiện đại. Vì lịch sử Trung Hoa từ Hán cho tới cuối Thanh, tiến đều đều, không thay đổi gì nhiều như
lịch sử phương Tây, không làm sao phân biệt được tới đâu là hết thời Trung Cổ, tới đâu hết thời Cận
cổ, rồi Cận cổ với Cận đại khác nhau ra sao. Vả lại những danh từ đó không cho ta một ý niệm gì rõ
rệt, mỗi người một khác. Chẳng hạn danh từ thời Cận đại (Temps moderne), người thì cho bắt đầu từ
thời Nguyên (Eberhard), người lại cho từ cách mạng 1911 (Dubarbier) khác nhau 632 năm, còn gì vô
lý bằng!
Tôi chỉ chia làm ba thời đại thôi:
- Thời Nguyên thủy và thời Phong kiến tôi gom làm một (phần 1) vì không biết chắc tới đâu hết thời
phong kiến; vả lại thời nguyên thủy không có gì đáng chép, chỉ có 8–9 trang, không tiện đặt riêng
vào một phần.
- Thời Quân chủ từ nhà Hán tới cách mạng Tân Hợi (1911). Thời này dài nhất – trên 21 thế kỷ –
tôi tách làm hai:
+ Từ Hán tới cuối Nam Tống, thời thịnh nhất của văn hóa (Phần II).
+ Từ Nguyên tới cuối Thanh, thời suy của dân tộc Hán (Phần III).
- Thời Dân chủ từ cách mạng 1911 tới ngày nay (Phần IV).
Tôi nghĩ như vậy vừa gọn vừa sáng, chỉ đọc tên thời đại chúng ta cũng hiểu ngay đặc điểm của nó
và biết nó bắt đầu từ thế kỷ nào, chấm dứt ở thế kỷ nào.
Nguyễn Hiến Lê
Long Xuyên, ngày 15 tháng 5 năm 1983
Đọc và sửa tại Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 1983
PHẦN I. THỜI NGUYÊN THỦY VÀ THỜI PHONG KIẾN
Chương I. Khối Trung Hoa
1. Một khối biệt lập
Nhìn bản đồ thế giới chúng ta thấy trong các nước thời thượng cổ có một nền văn minh rực rỡ thì Trung
Hoa sống cách biệt hơn cả, gần như không tiếp xúc với các nền văn minh khác. Ai Cập, Lưỡng Hà
(Mésopotamie), Ba Tư ở gần nhau, thường qua lại với nhau; nhất là Hy Lạp, La Mã ở trên bờ Địa Trung
Hải, là nơi các thương thuyền của Crète, Tiểu Á, Phécinie, Ai Cập… lui tới hàng ngày, trao đổi hàng hóa
và văn minh, ngay đến Ấn Độ, một bán đảo mênh mông hình tam giác hai cạnh là bở biển, nhưng về phía
tây sát với Ba Tư, rồi từ Ba Tư qua Lưỡng Hà, Địa Trung Hải để tiếp xúc với Hy Lạp, Ai Cập; còn về
phía đông thì qua Miến Điện, xuống Mã Lai rất dễ dàng. Chỉ có Trung Hoa là một khối gần tròn, ba phía
Bắc, Tây, Nam là núi cao, đồng cỏ và sa mạc, phía đông nhìn ra Thái Bình Dương mênh mông; nó như
quay lưng lại với các nước văn minh ở Trung Á, Tây Á, sống một đời sống riêng biệt. Nó tuy có bờ biển
dài đấy, nhưng ở miền Bắc, bờ biển thấp, lầy, lại thiếu đảo ở gần, nên người Trung Hoa thời cổ không
muốn mạo hiểm ra khơi; còn ở miền Nam (sau này lần lần mới thuộc về Trung Hoa) thì bờ biển lại không
bằng phẳng, khí hậu xấu, dông tố nhiều, không có gì là khuyến khích họ cả. Tóm lại núi và biển gần như
ngăn chặn ảnh hưởng của các nền văn minh Tây Á, không cho ảnh hưởng tới Trung Hoa, và trong thời
thượng cổ, ít nhất là tới đầu kỷ nguyên Tây lịch, dân tộc ...
Biên soạn: Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Văn Hóa
Năm xuất bản: 1997
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Tạo eBook lần đầu: Bobo
Sửa và bổ sung: Goldfish
Tạo lại (01/01/'16): QuocSan.
MỤC LỤC:
Học giả Nguyễn Hiến Lê và tác phẩm cuối đời của ông
Tựa
PHẦN I. THỜI NGUYÊN THỦY VÀ THỜI PHONG KIẾN
§I. Khối Trung Hoa
1. Một khối biệt lập
2. Không nhất trí
Phương Bắc và phương Nam – Hoàng Hà và Dương Tử giang
3. Nhưng thống nhất nhờ chữ viết
§II. Nguồn Gốc
A. Huyền thoại
1. Bàn Cổ
2. Tam Hoàng
3. Ngũ Đế
4. Từ Nghiêu, Thuấn tới cuối nhà Hạ
B. Các vụ khai quật gần đây
1. Xương người
2. Giáp cốt (mai rùa và xương loài vật)
3. Thời đại đồ đồng
§III. Nhà Thương
1. Đất đai, triều đại
2. Xã hội: Tín ngưỡng – Nông nghiệp…
§IV. Nhà Chu
1. Các thời kỳ và niên đại
2. Thời Tây Chu–Chế độ phong kiến
a. Văn minh nhà Chu. Ba ông thánh
b. Chế độ phong kiến
c. Chế độ tôn pháp
Tôn giáo
d. Tổ chức hành chính
Triều đình – Quan chế
Điền chế
Binh chế
Pháp chế
Giáo dục
e. Xã hội
Nông dân
Cưới hỏi
Chôn cất
3. Thời Đông Chu
a. Nguyên nhân suy vi
b. Thất Bá
Tề Hoàn công
c. Thời đại đồ sắt
Chế độ cai trị thay đổi
Đảo lộn địa vị xã hội
Cách mạng về chiến thuật
d. Thất Hùng
§V. Nhà Tần (221–206 Trước CN) (Thời của pháp gia)
1. Tần Thủy Hoàng
2. Tổ chức hành chính
3. Trọng nông
4. Thống nhất văn tự, đồ đo lường, tư tưởng
5. Xây cất
6. Mở mang bờ cõi
7. Thủy Hoàng chết – Nhị Thế lên thay
8. Nhà Tần chấm dứt – Hạng Vũ và Lưu Bang
§VI. Tư Tưởng Trung Hoa Thời Tiền Tần
1. Triết học
a. Đặc điểm của triết học Trung Quốc
Tư tưởng chính trị – Các phái
b. Phái Nhân Trị – Hữu Vi
Khổng Tử
Nhà chính trị
Nhà luân lí
Nhà giáo
Mặc Tử – Biệt Mặc
Biệt Mặc
Mạnh Tử
Tuân Tử
c. Phái Vô Vi
Dương Tử
Lão Tử
Trang Tử
d. Phái Pháp Trị – Cực Hữu Vi
Hàn Phi
e. Âm Dương Gia
Trâu Diễn
Dịch học phái
2. Văn Học
Kinh Thi
Sở Từ
Văn xuôi
Kí sự
Luận thuyết
PHẦN II. THỜI QUÂN CHỦ
Giai đoạn đầu – Hán thịnh, Hồ còn yếu
Tổng quan về thời quân chủ
§I. Nhà Hán (–206 – +220)
A. Tiền Hán
1. Từ Cao Tổ đến Cảnh đế
2. Huệ đế và Lữ hậu
3. Văn đế và Cảnh đế
4. Võ đế
5. Vương Mãng biến pháp
B. Hậu Hán
6. Quang Võ
7. Họa ngoại thích và hoạn quan. Giặc Hoàng Cân. Hậu Hán chấm dứt
C. Chống ngoại xâm – Mở mang để quốc
1. Dẹp Hung Nô và các bộ lạc ở Tây Vực
2. Chiếm Triều Tiên
3. Tiến xuống phía Nam
D. Kinh tế
1. Nông nghiệp
2. Công nghiệp
3. Thương mãi
4. Dân số
E. Văn hóa
1. Triết học và tôn giáo
a. Khổng giáo
b. Lão giáo – Đạo giáo
c. Phật giáo vào Trung Quốc
2. Văn Học
a. Văn xuôi
b. Phú
c. Thơ
d. Biên khảo
e. Thư viện–Trường đại học
3. Mĩ thuật
4. Khoa học
§II. Thời Tan Rã Đầu Tiên Của Đế Quốc
Tổng Quan
A. Tam Quốc (213–280)
Tình thế của Thục Hán
Tình thế của Ngô
Tình thế của Ngụy
B. Tây Tấn (265–317)
C. Nam Bắc Triều (317–580)
1. Tổng quan
2. Bắc Triều
3. Nam Triều
Tình hình xã hội miền Nam
Nhà Đông Tấn
Nhà Tiền Tống (hoặc Lưu Tống)
Nam Tề
Lương
Trần
D. Kinh tế
1. Nông nghiệp
2. Tiểu công nghệ
3. Thương mại
E. Văn hóa
1. Triết học–Tôn giáo
Nho – Lão
Huyền học
Phật giáo
2. Văn học
a. Văn trào
b. Văn xuôi
Sử
Kí sự và tự tình
Phê bình
Tiểu thuyết
Từ, phú, thơ
c. Thơ
3. Khoa học
4. Hội họa
Điêu khắc
Kiến trúc
5. Âm nhạc
§III. Thống Nhất Trở Lại (580–906)
A. Nhà Tùy (581–618)
1. Văn đế (581–604)
2. Dạng đế (605–617)
B. Nhà Đường (618–906)
1. Thời thịnh trị: Thái tôn
Dẹp hết loạn
Mở mang bờ cõi
Chiến tranh Triều Tiên
Bi kịch giành ngôi
Chính trị
Giáo dục
Binh chế
Cải cách pháp luật
2. Võ hậu tiếm ngôi (684–705)
Tư cách Võ hậu
Lên ngôi hoàng đế. Nhà Chu
Vi hậu
Hai phe ở triều đình
3. Thời rực rỡ: Huyền tôn
Một ông vua nghệ sĩ
Họa phiên trấn
Họa hoạn quan
4. Mạt vận của nhà Đường
Nỗi điêu đứng của dân
Loạn Hoàng Sào
Nhà Đường chấm dứt
5. Kinh tế – Xã hội
Nông nghiệp
Công nghiệp
Thương nghiệp
Dân số – Thị trấn
6. Văn hóa
Triết học – Tôn giáo
Phật giáo
Các tôn phái
Những tôn giáo mới truyền vào
7. Văn Học
a. Văn
Sử
Tiểu thuyết
Văn dịch
b. Thơ
c. Từ
d. Âm nhạc
e. Hội họa
g. Kiến trúc – Điêu khắc
h. Khoa học
Văn minh Trung Quốc truyền qua các nước khác.
§IV. Tan Rã Lần Thứ Nhì (906–960) – Ngũ Đại Và Thập Quốc
1. Tổng Quan
2. Ngũ Đại ở Bắc
Hậu Lương
Hậu Đường
Hậu Tấn
Hậu Hán
Hậu Chu
3. Thập Quốc ở Nam
§V. Thống nhất và phân chia lần thứ III
A. Thống nhất: Bắc Tống (960–1120)
1. Thống nhất đất đai
2. Củng cố nội bộ
Thu quyền chính trị về trung ương
Tổ chức lại quân đội
3. Ngoại giao
Với Liêu
Với Tây Hạ
4. Kinh tế suy sụp – Quốc khố rỗng không
5. Cuộc biến pháp của Vương An Trạch
6. Tân pháp thất bại – Hai đảng tranh nhau
7. Rợ Kim mạnh lên, chiếm trọn miền bắc Trung Quốc
B. Chia hai nam bắc – Nam Tống (1127–1279)
1. Cao Tôn lên ngôi, dời đô xuống Nam
2. Tống, Kim ghìm nhau
3. Phe chủ chiến
4. Các đảng nghĩa quân
5. Phong trào học sinh dâng thỉnh nguyện
6. Tống, Kim và Mông Cổ ở cuối thế kỷ XII
Tống, Kim đều suy
Mông Cổ mạnh lên
Tống vong tam kiệt
C. Kinh Tế – Xã Hội
1. Nông nghiệp
2. Công Nghiệp
3. Thương mãi
4. Đời sống thành thị
5. Hàng Châu – Đời sống các giới
D. VĂN HOÁ
1. Tôn giáo
2. Triết học
3. Văn, thơ
4. Sử học
Ngữ lục
Tiểu thuyết
Thơ
Từ
Họa
6. Khoa học
7. Phong hóa đời Tống
PHẦN III. THỜI QUÂN CHỦ (Tiếp)
Giai đoạn sau: Hán suy, Hồ mạnh
§I. Dưới Sự Thống Trị Của Mông Cổ: Nhà Nguyên (1277–1367)
Tổng Quan
A. Chính sách của Mông Cổ
1. Chính sách chung của các rợ
2. Kỳ thị Trung hoa
3. Nhưng tiếp đón mọi dân tộc
4. Tính mở mang thêm Đế Quốc
5. Chế độ chánh trị
B. Tình hình xã hội
1. Không tổ chức, bất công
2. Kinh Tế
3. Nguyên Nhân suy vi
C. Nhà Nguyên bị diệt
D. Văn hóa
Văn thơ
Tuồng
Khoa học
§II. Nhà Minh (1368–1644)
A. Thời thịnh
1. Thái Tổ (1368–1398), ông vua độc tài nhất trong lịch sử Trung Hoa
2. Huệ Đế– Loạn Tĩnh Nạn – Thành Tổ (1403–1424)
3. Thành Tổ (1403–1424)
B. Chính trị
1. Quân chủ chuyên chế
2. Binh chế
3. Hình pháp
4. Giáo dục – Thi cử
5. Canh nông – Thuế
C. Ngoại giao
1. Bảy lần đi sứ và thám hiểm của của Trịnh Hoà
2. Người Trung Hoa ra hải ngoại làm ăn
3. Người Âu vào Trung Quốc
D. Suy vong
Loạn ở trong
1. Đảng Đồng Lâm
2. Kinh tế lâm nguy
3. Họa Nhật Bản
4. Tệ tham nhũng
E. Nhà Minh sụp đổ
1. Mãn Châu đánh ở biên giới, giặc nổi ở trong
2. Tư Tôn tuẫn quốc. Lý Tự Thành lên ngôi
3. Ngô Tam Quế phản quốc – Thanh diệt Minh
G. Văn hoá
1. Xã hội – Tôn giáo
2. Triết học
3. Văn Nghệ
4. Mỹ Thuật
5. Khoa Học
§III. Dưới Sự Thống Trị Của Mãn Châu: Nhà Thanh (1644–1911)
Tổng quan
A. Thời thịnh trị
1. Thống nhất – củng cố
Dẹp các phong trào phản Thanh phục Minh
Triệt hạ ba phiên vương
2. Phát triển
Chế độ – Chính chế
Khang Hi (Thánh Tổ 1662–1722)
Ung Chính (Thế Tôn 1723–1735)
Càn Long (Cao Tôn 1736–1795)
Tại Sao Mãn Thanh thành công
Về Văn Hóa
1. Triết Học
Hoàng Tôn Hi
Vương Phu Chi
Cố Viêm Võ
Nhan Nguyên
Đái Chấn
Khang Hữu Vi
2. Sử học
3. Văn học
Thơ
Tuồng
Tiểu thuyết
Đoản thiên tiểu thuyết
Dịch sách Âu
Hội Họa
Đồ sứ
4. Khoa học
5. Kinh tế – Xã hội
B. Thời suy: Nội ưu và ngoại hoạn
1. Nguyên nhân suy bại
2. Nha phiến chiến tranh
3. Thái Bình Thiên Quốc
4. Loạn Niệm và Hồi Giáo
5. Chiến tranh nha phiến thứ nhì – Anh Pháp liên quân
6. Nga nhảy vô chia phần
7. Triều đình vãn Thanh – Từ Hi Thái Hậu
8. Cuộc vận động tự cường
9. Trung Hoa bị xâu xé
10. Trung – Nhật chiến tranh
11. Ba nước can thiệp vào Liêu Đông
12. Liệt cường qua phân Trung Quốc
C. Nhà Thanh sụp đổ
1. Vận động Duy Tân và chính biến Mậu Tuất (1898)
3. Nga – Nhật chiến tranh
4. Thanh dự bị lập hiến mà không thực tâm
5. Nhìn lại thời quân chủ
PHẦN IV. THỜI DÂN CHỦ
Lời nói đầu
§1. Những Năm Đầu Của Chế Độ Cộng Hòa
A. Chính phủ miền Bắc của Viên Thế Khải
1. Tôn Văn và cuộc cách mạng tiểu tư sản 1911 (Tân Hợi)
2. Vua Thanh thoái vị – Nhà Thanh chấm dứt
3. Viên Thế Khải phản cách mạng
4. Ngoại giao với liệt cường
5. Họa quân phiệt sau khi Viên chết
6. Ngũ tứ vận động
B. Chính phủ cách mạng ở miền nam
1. Tôn Văn lập chánh phủ, tiếp xúc với Nga
2. Học thuyết Tôn Văn
3. Công của Tôn Văn
C. Cách mạng Văn hoá
1. Vai trò của giới trí thức mới
2. Những nhà mở đường (1898–1916)
3. Cao trào cách mạng (1917–1927)
§2. Trung Hoa Dân Quốc
A. Thống nhất trở lại (1926–1928)
1. Tưởng Giới Thạch
2. Tưởng làm Tổng tư lệnh đem quân Bắc phạt
3. Bắc phạt, thống nhất quốc gia
B. Chống cộng (1926-1938)
1. Giai đoạn đầu (1926-1927): trục xuất Cộng ra khỏi Quốc Dân đảng
2. Giai đoạn thứ nhì (1927–37): tấn công Cộng
Cộng thua
Cộng thay đổi đường lối
Mao Trạch Đông
Tưởng tấn công Mao ở Giang Tây
3. Cuộc Trường hành (10.1934 đến 10.1935)
KIẾN THIẾT
C. Thực thi dân quyền
Người lãnh đạo
E. Lo cho dân sinh
1. Mở mang các ngành
Giao thông vận tải
Canh nông
Về kỹ nghệ
Ngân hàng
2. Kinh tế
3. Văn hóa
4. Giáo dục
5. Văn học
F. Bảo vệ dân tộc
Xoá bỏ các điều ước bất bình đẳng
Chống xâm lăng – Nhật chiếm Mãn Châu
Vụ Tây An
G. Chiến tranh Trung – Nhật
Giai đoạn I: Trung Hoa chiến đấu lẻ loi: 1937-1941
Lên Trùng Khánh
Cộng sản ở Diên An
Giai đoạn sau, trong thế chiến 1941–1945
H. Lại nội chiến – Tưởng thua
Hai bên chạy đua nước rút
Mỹ muốn hòa giải hai phe
Tại sao Tưởng thua?
§3. Trung Hoa Cộng Sản
A. Đảng và hiến pháp năm 1954
Thành phần của đảng
Qui chế
Ý thức hệ
Cấp bậc, quyền hành
Cán bộ
Hiến pháp 1954
Các nhà chỉ huy – Mao và các đồng chí
Quân đội
B. Tân dân chủ (1949-1952)
Nét căn bản của Tân dân chủ
C. Giai đoạn chuyển qua xã hội chủ nghĩa
Kế hoạch thứ nhất
Kế hoạch thứ nhì 1958-1962
Trăm hoa đua nở
Mao bị truất, Lưu Thiếu Kỳ lên thay
Cách mạng văn hoá
Kinh tế
a. Nông nghiệp
b. Kỹ nghệ
c. Chuyên chở
d. Ngoại thương
e. Các công trình lớn
Kinh Hồng Kỳ
Cầu Nam Kinh
Bom hạch tâm
g. Ngoại giao
Nga – Hoa
Hoa – Mỹ
Các nước châu Á
Châu Phi và Châu Mỹ la tinh
Xích mích Nga–Hoa
1. Xích mích về đường lối
2. Xích mích về ý thức hệ thời Kroutchev
3. Xích mích về quyền lợi, đất đai
4. Lý do quan trọng nhất
h. Xã hội
Đời sống của dân
Dân Trung Hoa có thực sự hạnh phúc không?
Văn học
Thời chống Nhật và thời nội chiến (1938–1949)
Thời kỳ chia hai (1949–1970)
Đài Loan
Kết Phần Tư
PHỤ LỤC. Bảng các triều đại
Phụ lục I. Bảng các triều đại
Phụ lục II. Sự việc quan trọng từ 1911 đến 1973
A. Cộng hòa tiểu tư sản (1911–1927)
B. Nội chiến đầu tiên (1927–1936)
C. Mặt trận thống nhất Quốc–Cộng để kháng Nhật
D. Nội chiến thứ nhì (1947–1949)
E. Thành lập chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (1949–1957)
F. Thời nhảy vọt và do dự về kinh tế 1958–1965
G. Cuộc cách mạng văn hóa và phản ứng (1966–1973)
H. Hướng mới ngoại giao
Phụ lục III. Sách tham khảo
A. Thông sử và đoạn đại sử
B. Đời một số vua chúa
C. Văn hoá – Xã hội
D. Từ cách mạng 1911 đến nay – Quốc Dân đảng và Cộng sản
Học giả Nguyễn Hiến Lê và tác phẩm cuối đời của ông
Nguyễn Hiến Lê hiệu là Lộc Đình, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1912 tại Hà Nội (giấy khai sinh ghi ngày
8-4-1912), quê làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây).
Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, thân phụ, bác ruột tham gia phong trào Duy tân ở
Trường Đông Kinh nghĩa thục, người bị mất tích ở nước ngoài, người bị thực dân truy nã, người lẻn
vào Sài Gòn rồi ẩn mình ở Đồng Tháp Mười. Từ đó, bác Ba ông sống lập nghiệp luôn ở miền Tây Nam
Việt.
Thuở nhỏ, Nguyễn Hiến Lê học ở trường tiểu học Yên Phụ, Trường Bưởi, Trường Cao đẳng Công
Chánh (Hà Nội). Năm 1934 tốt nghiệp được bổ làm việc tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long,
kể từ đó ông công tác và định cư luôn ở miền Nam cho đến ngày qua đời.
Năm 1935 bắt đầu viết du kí, kí sự, tiểu luận, dịch tác phẩm văn chương, đến năm 1945 có đến hàng
chục tác phẩm, nhưng đã thất lạc trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Vì ông từng làm
nhân viên Sở Công Chánh thuộc ngành Thuỷ lợi (Hydraulique) thường được đi các tỉnh miền Hậu
Giang, Tiền Giang nên biết tường tận về đất đai và con người ở các địa phương thuộc khu vực này.
Sau ngày Nam bộ kháng chiến (23-9-1945) ông bỏ đời sống công chức, tản cư về Đồng Tháp, Long
Xuyên, đi dạy học. Năm 1952 thôi dạy, lên Sài Gòn sinh sống bằng ngòi bút và chuyên tâm vào công
tác văn hoá.
Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn du kí khoa học có tên: Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, sách tuy
mỏng mà tác giả bỏ ra nhiều công sức. Nguyên sách được viết nhân một chuyến về Hà Nội thi lấy bằng
kĩ sư do đề nghị của bạn học hiện là Chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Thanh Nghị (Vũ Đình Hoè). Tác
phẩm viết xong, nhưng gởi ra Hà Nội không được (vì chiến tranh), bản thảo bị mất trong Đồng Tháp
Mười, năm 1954 ông viết lại, xuất bản trong năm đó và được tái bản nhiều lần. Từ đó, hàng năm ông
có đôi ba tác phẩm ra mắt công chúng độc giả.
Ngòi bút Nguyễn Hiến Lê đề cập đến nhiều lĩnh vực, mà ở lĩnh vực nào cũng có căn cứ khoa học, am
tường cặn kẽ về các đối tượng, sâu sắc về các vấn đề được nhắc tới mà không thiếu tính nghệ thuật.
Tác phẩm của ông bao gồm nhiều chủ đề, như:
1. Ngôn ngữ học
2. Gương danh nhân
3. Tự luyện đức trí
4. Giáo dục
5. Cảo luận
6. Du kí
7. Dịch thuật
8. Triết học: Gồm Đại cương triết học Trung Quốc (2 cuốn – 1996), Nho giáo một triết lí chính trị
(1958), Liệt tử và Dương tử (1972), Một lương tâm nổi loạn (1970), Bertrand Russell (1971),
Mạnh tử (1974)…
9. Văn học: Gồm một số tác phẩm đặc sắc và công phu như: Hương sắc trong vườn văn (2 cuốn,
1962), Luyện văn (3 cuốn, 1953), Tô Đông Pha (1970), Đại cương văn học sử Trung Quốc (3 cuốn,
1955), Văn học Trung Quốc hiện đại (2 cuốn, 1968)… giới thiệu được những tinh hoa của văn học
nói chung và văn chương Việt Nam, Trung Hoa nói riêng.
10. Sử học: Gồm một số tác phẩm về lịch sử và văn minh thế giới như: Lịch sử thế giới (4 cuốn, 1955),
Bài học Israël (1968), Bán đảo Ả Rập (1969), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Lịch sử văn minh Ấn
Độ (1974), Bài học của lịch sử (1972), Nguồn gốc văn minh (1971), Lịch sử văn minh Ả Rập
(1969), Sử kí Tư Mã Thiên (1970), và bộ sử này (Sử Trung Quốc 3 cuốn) là những cái nhìn xuyên
suốt về lịch sử văn minh và sử thế giới.
Sử Trung Quốc là một “tập đại thành” của tác giả về toàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ cổ đại đến
hiện đại (1982). Đây là tác phẩm lớn và tương đối đầy đủ nhất trong chương trình của ông về “Trung
Hoa học”.
Trong thư tịch Việt Nam, trước thế chiến chúng ta đã có Trung Hoa sử cương[1] của Đào Duy Anh và
những năm 50 có Trung Quốc sử lược[2] của Phan Khoang. Thật ra hai tác phẩm này được Đào Duy
Anh (1904-1988), Phan Khoang (1906-1971) viết cho chương trình Trung học và có tính cách phổ biến
kiến thức phổ thông nhằm giúp độc giả thiếu điều kiện ngoại ngữ (nhất là chữ Hán) có cái nhìn tổng
quan về lịch sử Trung Quốc. Tuy vậy, hai cuốn trên đã giúp ích được rất nhiều cho đa số bạn đọc Việt
Nam trên nửa thế kỉ nay.
Lần này với bộ Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê đã đầu tư trí tuệ và dụng công nhiều hơn. Có thể
nói đây là một tác phẩm lớn cuối đời ông, vì ông đã bỏ ra rất nhiều công sức và thời gian cho công
trình này.
Như trên đã nói, đây là một “tập đại thành” sử học của tác giả. Suốt mấy ngàn năm lịch sử Trung
Quốc đầy biến động, được ông tổng kết lại khoảng 1000 trang in. Nói về lượng thì 1000 trang này
không thể nào vẽ được toàn diện một tổng quan lịch sử Trung Hoa hơn mấy ngàn năm lập quốc, kiến
quốc… rồi “Hoa hoá” (Hán hoá) các dân tộc khác, nhất là các rợ phương Bắc, một thời bách chiến
bách thắng trên phần lớn lục địa Âu Á. Nhưng với dung lượng khiêm nhường này, tác giả đã phác thảo
được diện mạo của chiều dài lịch sử Trung Quốc. Tác phẩm này không những được tác giả trình bày
cặn kẻ các sự kiện lịch sử suốt cả không gian và thời gian với đầy đủ sử liệu và chứng cứ khoa học mà
còn đào sâu được bề dày lịch sử, một nền văn minh cổ nhất và lâu dài nhất của nhân loại.
Qua tác phẩm, tác giả giúp chúng ta tìm hiểu về toàn bộ lịch sử Trung Quốc, nhất là giai đoạn hiện
đại, một cách đầy đủ hơn. Dựa vào những tài liệu tương đối mới (lúc đó – xem thư mục ở cuối sách);
đặc biệt là tham khảo các tác phẩm của các học giả, sử gia Tây phương và Trung Quốc. Ông đã phác
họa được toàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ thời huyền sử tới hiện đại và tận đến năm 1982. Tác giả
chia lịch sử Trung Quốc ra làm 3 thời kì. Điều này khác hẳn các sử gia khác khi nghiên cứu sử Trung
Quốc. Đa số các học giả phương Tây chia (mà một số sử gia Trung Hoa theo) lịch sử thế giới cũng như
lịch sử Trung Quốc thành: thời thượng cổ, Trung cổ, Cận cổ, Cận đại, Hiện tại. Theo tác giả, các danh
từ trên chúng ta mượn của phương Tây và những khái niệm ấy cũng không thể áp dụng vào lịch sử
Trung Hoa được vì lịch sử Trung Hoa từ đời Hán đến cuối đời Thanh, diễn tiến đều đều, không thay
đổi gì nhiều như lịch sử phương Tây, không làm sao phân biệt được tới đâu là hết thời Trung cổ, tới
đâu là hết thời Cận cổ, rồi Cận cổ với Cận đại khác nhau ra sao? Có lẽ quan niệm như vậy, tác giả
chia sử Trung Quốc ra làm ba thời kì:
- Thời Nguyên thuỷ và thời Phong kiến gom làm một (gọi là phần 1) vì theo ông ngày nay chúng ta
không biết được chắc chắn tới đâu bắt đầu thời phong kiến.
- Thời Quân chủ từ Hán tới cách mạng Tân Hợi (1911). Đây là thời kì dài nhất trên 21 thế kỉ, thời
này ông tách làm hai:
* Từ Hán tới Nam Tống (phần II)
* Từ Nguyên tới cuối Thanh (phần III)
- Thời Dân chủ từ cách mạng Tân Hợi (1911) tới ngày nay (1982) (phần IV).
Một điểm độc đáo của bộ sách này như trên đã nói, tác giả không những vẽ được dung mạo sử
Trung Quốc mà đào sâu được bản chất của nền văn minh sử ấy. Dân tộc Trung Hoa là một dân tộc có
một nền văn minh vô cùng độc đặc (infiniment original). Tuy ra đời sau một vài nền văn minh khác
nhưng tồn tại lâu dài nhất (cho tới ngày nay). Khoảng 3000 năm trước, họ đã có một tổ chức xã hội
chặt chẽ, một tôn giáo có tính cách xã hội… nhất là có một lối chữ viết tượng hình và chính nhờ lối
chữ viết này (chữ Hán) mà họ thống nhất được một đất nước bao la với hàng trăm dân tộc khác nhau.
Và cũng chính nền văn minh ấy họ đã “Hoa hoá” được các nền văn minh khác, các tôn giáo khác, các
học thuyết khác trở thành màu sắc Trung Hoa mà các nền văn minh khác không có được.
Chính ở khía cạnh này, tác giả đã làm nổi bật được văn minh sử Trung Quốc trong cộng đồng văn
hóa, có ảnh hưởng ít nhiều đến nền văn hóa đậm nét Nho – Phật ở Á Đông. Điều đó được thấy rõ qua
cách phân tích, đánh giá của tác giả đối với lịch sử Trung Quốc. Âu đó cũng là điều nổi bất trong gần
1000 trang in mà các bộ sử khác chưa nêu được. Và có lẽ nặng về khía cạnh “nhân văn” này mà tác
giả phần nào làm loãng đi những chiến công của sử Trung Quốc. Độc giả khó tính chắc sẽ phiền sử gia
họ Nguyễn thiên vị? Có lẽ theo quan điểm nhân văn ấy ông kết luận về khía cạnh trên như sau:
“Đọc sử thời quân chủ của Trung Hoa, tôi buồn cho dân tộc đó thông minh, giỏi tổ chức mà không
diệt được cái họa ngoại thích và hoạn quan gây biết bao thống khổ cho dân chúng đời này qua đời
khác. Nhưng tôi rất trọng họ, mến họ vì triều đại nào cũng có hằng ngàn hằng vạn người coi cái chết
nhẹ như lông hồng, tuẫn tiết vì nước chứ không chịu nhục, và những thời triều đình “vô đạo” thì vô số
kẻ sĩ coi công danh, phú quý như dép cỏ, kiếm nơi non xanh nước biếc dắt vợ con theo, cày lấy ruộng
mà ăn, đào lấy giếng mà uống, sống một đời thanh khiết, làm thơ, vẽ để tiêu khiển, hoặc trứ tác về
triết, sử, tuồng, tiểu thuyết để lưu lại hậu thế. Đọc đời các vị đó tôi luôn luôn thấy tâm hồn nhẹ nhàng.
Chưa có một bộ sử nào của Tây phương cho tôi được cảm tưởng đó”. (Sđd trang 294)
Các nhận xét đó bàng bạc suốt tác phẩm.
Tính đến năm 1975 ông xuất bản đúng Một trăm tác phẩm (100) với các thể loại vừa kể. Từ năm 1975
cho đến khi qua đời, ông còn viết hơn 20 tác phẩm khác như: Tourguéniev, Gogol, Tchékhov, Đời nghệ sĩ,
Để tôi đọc lại, Tuân tử, Hàn Phi tử, Trang tử – Nam Hoa kinh, Lão tử – Đạo đức kinh, Khổng tử – Luận
ngữ, Đời viết văn của tôi (1966), Hồi kí (1992), nhất là bộ sử Trung Hoa mà chúng tôi vừa nhắc ở trên.
Những năm trước 1975 tại Sài Gòn, ông là một trong một vài người cầm bút được giới trí thức quí mến
về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuật. Đó là thành quả lao động nghiêm cẩn của
mình, ông được đa số quần chúng độc giả trân trọng kể cả học sinh, sinh viên. Những năm 60, 70 chính phủ
Sài Gòn đã trân tặng ông (cùng Giản Chi) Giải thưởng văn chương toàn quốc (1966) và Giải tuyên
dương sự nghiệp văn hóa (1973) với danh hiệu cao quí đương thời, cùng với một ngân phiếu lớn (tương
đương mấy chục lượng vàng). Ông đã công khai từ chối với lí do “dùng tiền ấy để giúp nạn nhân chiến
tranh” và bản thân tác giả không dự giải.
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê là những đóng góp lớn cho học thuật Việt Nam thời hiện đại.
Năm 1980, ông về ẩn cư ở Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang) đến ngày 22 tháng 12 năm 1984, ông
bệnh mất tại Sài Gòn, hưởng thọ 72 tuổi, thi hài được hoả táng ở Thủ Đức, để lại sự thương tiếc trong lòng
nhiều làm văn hóa và bạn đọc thương mến trong và ngoài nước.
Nguyễn Q. Thắng
(12-1966)
Ghi chú: Bài viết ở trên và phụ lục III (Sách tham khảo) ở cuối eBook là do tôi chép từ bản in của Nhà
xuất bản Tổng hợp Hồ Chí Minh, năm 2006 (trọn bộ 3 cuốn – 812 trang). Ngoài ra tôi còn dùng bản
này sửa lỗi và bổ sung các hình ảnh, các đoạn mà bản nguồn (tức bản đăng trên Việt Nam Thư Quán)
chép thiếu, trong đó có đoạn thiếu đến 27 trang, mà bản của nhà Tổng hợp Hồ Chí Minh cũng có nhiều
chỗ sai sót. Trong eBook này, để khỏi rườm, nhiều chỗ tôi sửa sai mà không chú thích. (Goldfish).
Tựa
Năm 1979, viết xong cuốn “Kinh Dịch, một tổng hợp Trung triết thời Tiên Tần”, tôi tính chấm dứt
công việc biên khảo để viết hồi ký, rồi nghỉ ngơi: đã gần thất tuần rồi.
Năm 1981, bộ Hồi ký viết xong, tôi sắp đặt lại các tủ sách ở Sài Gòn và Long Xuyên, không ngờ có
tới non năm chục cuốn về lịch sử, văn minh Trung Hoa. Tôi lấy ra đọc lại hết, mượn thêm được của
bạn 6–7 cuốn nữa; và cũng như trên ba chục năm trước khi tìm hiểu văn học Trung Quốc, tôi vừa đọc
vừa ghi chép, và rốt cuộc viết thành bộ sử này, ngoài dự định của tôi.
Trung Hoa ngày nay lớn gần bằng cả châu Âu, dân số trên một tỉ (1 phần 5 dân số thế giới), có
truyền thống trọng sử, từ thế kỷ thứ VIII trước Tây Lịch (đời Tuyên Vương nhà Chu) đã có tín sử, và từ
đó đời nào cũng có những sử quan chép sử kỹ lưỡng, có công tâm, cho nên tài liệu về sử của họ nhiều
vô cùng, rất có giá trị. Bốn năm chục cuốn tôi được đọc, chỉ như một bụi cây trong một khu rừng rộng,
có thấm gì đâu, cho nên tôi phải hạn chế sự tìm hiểu của tôi.
Tôi cho lịch sử Trung Hoa là lịch sử của một nền văn minh vô cùng độc đặc (infiniment originale:
Guillermaz), tuy ra đời sau vài nền văn minh khác: Ai Cập, Lưỡng Hà… nhưng tồn tại lâu nhất.
Khoảng 3.000 năm trước, nó xuất hiện từ miền trung du sông Hoàng Hà. Trong khi các bộ lạc chung
quanh đều bán khai thì nhà Ân (cuối nhà Thương) và nhà Chu đã giỏi về nông tang, đồ đồng, có một tổ
chức xã hội chặt chẽ, một tôn giáo có tính cách xã hội (thờ Thượng đế, thần xã tắc, cha mẹ…), rất ít
mê tín, một vũ trụ quan duy vật (thuyết âm dương) và một lối chữ tượng hình, hội ý mà một số nhà
ngôn ngữ học hiện nay khen là có thể dùng làm lối chữ quốc tế được; mà sự thực trong non 3.000 năm,
nó đã đóng vai trò ngôn ngữ quốc tế trong “thế giới” của Trung Hoa gồm cả chục dân tộc ở Đông Á.
Văn minh đó truyền bá lần lần ra các miền chung quanh mà không phải dùng tới võ lực; nó thu phục
rồi khai hóa, đồng hóa nhiều bộ lạc dã man, và cuối thời Chiến Quốc nó đã lan rộng ra gần hết lưu
vực hai con sông lớn nhất của Trung Quốc: Hoàng Hà và Dương Tử giang. Rồi nhà Tần thống nhất
Trung Quốc, chấm dứt chế độ phong kiến, lại mở mang thêm đất đai tới hạ lưu sông Tây Giang (Quảng
Đông ngày nay).
Phía đông là biển. Phía tây và phía bắc là những cánh đồng cỏ, những sa mạc mênh mông, bạt ngàn,
từ đó, các dân tộc du mục hết lớp này tới lớp khác, đột nhập vào đất Trung Hoa, cướp phá mùa màng,
súc vật…, người Trung Hoa phải xây trường thành để chặn họ; từ nhà hán phải chiến đấu với họ, dồn
họ về các cánh đồng cỏ, mới đầu có lẽ chỉ là để tự vệ, sau nhân đó mà mở mang thêm bờ cõi, thành một
cuộc tranh dành đất đai suốt hai ngàn năm, tới cuối nhà Thanh. Hễ Hán (Trung Hoa) thịnh thì Hồ (du
mục) lùi về phương Bắc để đợi thời Hán suy để vượt trường thành vào chiếm đất: mới đầu họ chiếm
được một phần miền Hoa bắc (các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây…), lần lần họ mạnh lên, chiếm trọn được
Hoa bắc, tới bờ sông Dương Tử, sau cùng, đời Nguyên, Thanh, có thời họ làm chủ hoàn toàn non sông
của người Hán hai lần: lần đầu một thế kỷ (Nguyên), lần sau hai thế kỷ rưỡi (Thanh). Họ chiếm đất,
cai trị dân tộc Hán, dùng văn tự, ngôn ngữ Hán, chỉ trong vài thế hệ Hán hóa, thành người Hán, và khi
người Hán dành lại được chủ quyền, thì đất đai của Hồ thành đất đai của Hán, con dân Hồ cũng thành
con dân Hán, nhờ vậy mà sau thời Nam Bắc triều dân tộc Hán thêm được dòng máu Tiên Ti, Tây Tạng,
Thác Bạt, sau thời Ngũ Đại, thêm được dòng máu Sa Đà; sau thời Thanh thêm được dòng máu Mãn,
Mông, Hồi Hột và đế quốc của họ rộng hơn tất cả các đời trước, trừ đời Nguyên. Hiện tượng đó có thể
nói là độc nhất trong lịch sử nhân loại.
Hơn nữa, họ tiếp thu các văn minh khác, một cách có “sáng tác” – theo ngôn ngữ ngày nay – như
tiếp thu đạo Phật của Ấn mà làm giàu cho triết học của họ, cho cả triết học Ấn nữa. Ngày nay họ
đương tiếp thu văn minh phương Tây và đã có ý muốn sửa đổi chính sách của Nga: họ còn dò dẫm, ta
chờ xem họ có thành công hay không.
Một điểm nữa tôi muốn nhấn mạnh: ảnh hưởng của Khổng Tử tới lịch sử Trung Hoa. Ông chủ
trương vua phải là người có tài, đức; ngôi vua không truyền cho con mà truyền cho người hiền như
Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn cho Vũ; nhưng thời ông, sự truyền tử đã có từ lâu đời, không thể bỏ
được; ông chỉ có thể cải thiện chế độ, đào tạo những kẻ sĩ có tài, để giúp bọn quý tộc và lần lần thay
họ mà trị nước. Những kẻ sĩ đó đều được tuyển trong dân chúng, và từ Hán, Đường trở đi, chế độ quân
chủ Trung Hoa có tính cách sĩ trị, không còn giai cấp quý tộc cha truyền con nối nắm hết các chức vụ
lớn ở trong triều, ngoài quận nữa. Đó là một tiến bộ rất lớn, người phương Tây phải khen.
Ông lại giảm bớt quyền chuyên chế của vua bằng cách đề cao nhiệm vụ, tư cách của sử quan, gián
quan; dạy cho vua, quan, kẻ sĩ và thường dân rằng vua phải thương dân như con, phải tôn trọng
nguyện vọng của dân…; phải chăm lo cho dân đủ ăn, tài sản trong nước phải quân bình, đừng có kẻ
nghèo quá, kẻ giàu quá. Suốt thời quân chủ, ông vua sáng lập một triều đại nào cũng nghĩ ngay đến
vấn đề quân điền, chia đất cho dân cày trước hết. Ngày nay Tôn Văn và Mao Trạch Đông cũng theo
chính sách đó.
Sau cùng Khổng Tử có tinh thần nhân bản rất cao. Ông hiếu hoà trọng trung dung, rất ghét sự tàn
bạo, và đa số các vua chúa Trung Hoa theo ông. Học thuyết của Thương Ưởng, Hàn Phi làm cho Tần
mạnh lên, thống nhất được Trung Quốc, nhưng khi thống nhất rồi, dân tộc Trung Hoa không dùng nó
nữa, từ Hán tới Tống, trên 1.500 năm, không có một bạo chúa nào như Tần Thủy Hoàng. Khi đạo
Khổng suy rồi, nhà Minh mới theo nhà Nguyên (Mông Cổ) dùng chính sách độc tài; nhà Thanh (Mãn
Châu) cũng vậy, và gần đây, còn tệ hơn nữa, Mao Trạch Đông đã tự hào rằng đã giết kẻ sĩ gấp trăm
lần Tần Thủy Hoàng! Nhưng ông ta chưa chết thì “cách mạng văn hóa” của ông ta đã phải dẹp bỏ.
Về việc phân chia thời đại, tôi không theo cách của đa số học giả phương Tây (và học giả Trung
Hoa bắt chước họ), chia thành thời Thượng Cổ, Trung Cổ, Cận Cổ, Cận Đại, Hiện Đại. Những danh từ
đó mượn của phương Tây, không áp dụng vào lịch sử Trung Hoa được, trừ hai danh từ Thượng Cổ và
hiện đại. Vì lịch sử Trung Hoa từ Hán cho tới cuối Thanh, tiến đều đều, không thay đổi gì nhiều như
lịch sử phương Tây, không làm sao phân biệt được tới đâu là hết thời Trung Cổ, tới đâu hết thời Cận
cổ, rồi Cận cổ với Cận đại khác nhau ra sao. Vả lại những danh từ đó không cho ta một ý niệm gì rõ
rệt, mỗi người một khác. Chẳng hạn danh từ thời Cận đại (Temps moderne), người thì cho bắt đầu từ
thời Nguyên (Eberhard), người lại cho từ cách mạng 1911 (Dubarbier) khác nhau 632 năm, còn gì vô
lý bằng!
Tôi chỉ chia làm ba thời đại thôi:
- Thời Nguyên thủy và thời Phong kiến tôi gom làm một (phần 1) vì không biết chắc tới đâu hết thời
phong kiến; vả lại thời nguyên thủy không có gì đáng chép, chỉ có 8–9 trang, không tiện đặt riêng
vào một phần.
- Thời Quân chủ từ nhà Hán tới cách mạng Tân Hợi (1911). Thời này dài nhất – trên 21 thế kỷ –
tôi tách làm hai:
+ Từ Hán tới cuối Nam Tống, thời thịnh nhất của văn hóa (Phần II).
+ Từ Nguyên tới cuối Thanh, thời suy của dân tộc Hán (Phần III).
- Thời Dân chủ từ cách mạng 1911 tới ngày nay (Phần IV).
Tôi nghĩ như vậy vừa gọn vừa sáng, chỉ đọc tên thời đại chúng ta cũng hiểu ngay đặc điểm của nó
và biết nó bắt đầu từ thế kỷ nào, chấm dứt ở thế kỷ nào.
Nguyễn Hiến Lê
Long Xuyên, ngày 15 tháng 5 năm 1983
Đọc và sửa tại Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 1983
PHẦN I. THỜI NGUYÊN THỦY VÀ THỜI PHONG KIẾN
Chương I. Khối Trung Hoa
1. Một khối biệt lập
Nhìn bản đồ thế giới chúng ta thấy trong các nước thời thượng cổ có một nền văn minh rực rỡ thì Trung
Hoa sống cách biệt hơn cả, gần như không tiếp xúc với các nền văn minh khác. Ai Cập, Lưỡng Hà
(Mésopotamie), Ba Tư ở gần nhau, thường qua lại với nhau; nhất là Hy Lạp, La Mã ở trên bờ Địa Trung
Hải, là nơi các thương thuyền của Crète, Tiểu Á, Phécinie, Ai Cập… lui tới hàng ngày, trao đổi hàng hóa
và văn minh, ngay đến Ấn Độ, một bán đảo mênh mông hình tam giác hai cạnh là bở biển, nhưng về phía
tây sát với Ba Tư, rồi từ Ba Tư qua Lưỡng Hà, Địa Trung Hải để tiếp xúc với Hy Lạp, Ai Cập; còn về
phía đông thì qua Miến Điện, xuống Mã Lai rất dễ dàng. Chỉ có Trung Hoa là một khối gần tròn, ba phía
Bắc, Tây, Nam là núi cao, đồng cỏ và sa mạc, phía đông nhìn ra Thái Bình Dương mênh mông; nó như
quay lưng lại với các nước văn minh ở Trung Á, Tây Á, sống một đời sống riêng biệt. Nó tuy có bờ biển
dài đấy, nhưng ở miền Bắc, bờ biển thấp, lầy, lại thiếu đảo ở gần, nên người Trung Hoa thời cổ không
muốn mạo hiểm ra khơi; còn ở miền Nam (sau này lần lần mới thuộc về Trung Hoa) thì bờ biển lại không
bằng phẳng, khí hậu xấu, dông tố nhiều, không có gì là khuyến khích họ cả. Tóm lại núi và biển gần như
ngăn chặn ảnh hưởng của các nền văn minh Tây Á, không cho ảnh hưởng tới Trung Hoa, và trong thời
thượng cổ, ít nhất là tới đầu kỷ nguyên Tây lịch, dân tộc ...
 





