Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Quang Tri 1972 - Nguyen Quang Vinh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 14h:01' 26-04-2024
Dung lượng: 1'014.6 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 14h:01' 26-04-2024
Dung lượng: 1'014.6 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Lời Tác Giả
Lời Giới Thiệu
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Nhập Ngũ
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Huấn Luyện Tân Binh
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Về Phép
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Trên Đường Đi B (1)
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Trên Đường Đi B (2)
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Trên Đường Đi B (3)
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Chiến Trường B5
Phần Thứ Hai: Chiến Trận - Trận Thành Cổ (1)
Phần Thứ Hai: Chiến Trận - Trận Thành Cổ (2)
Phần Thứ Ba: Mặt Trận Nam Cửa Việt (1)
Phần Thứ Ba: Mặt Trận Nam Cửa Việt (2)
Phần Thứ Ba: Mặt Trận Nam Cửa Việt (3)
Vĩ Thanh
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Lời Tác Giả
Tôi tin rằng, trên đời này, mỗi người đều có một số phận riêng, không ai
giống ai.
Từ lâu, ca dao Việt Nam đã nói về thân phận con người, đó là sự mặc
định, thiên định:
Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày...
Tôi coi mình là người may mắn và hạnh phúc khi được làm con bố mẹ tôi,
những người không chỉ cho tôi cuộc sống, mà còn dạy tôi biết hướng về
những điều cao đẹp như chính cuộc đời của ông bà, luôn nặng lòng với quê
hương đất nước và tương lai của con cháu.
Tôi coi mình là người hạnh phúc và may mắn khi được sinh ra và lớn lên
ở Hà Nội, Hà Nội hào hùng lịch sử, hào hoa cốt cách, thủ đô của phẩm giá
con người.
Tôi có Hà Nội lại được có Hà Tĩnh, Hương Sơn quê hương. Cái vùng đất
địa linh nhân kiệt; vùng đất của thơ ca, của sự trung dũng kiên cường, đậm đà
tình nghĩa ấy đã bồi đắp cho tôi những phẩm tính đặc biệt để dễ dàng vượt
qua những thử thách trong cuộc sống và biết chắt lọc niêm vui, hạnh phúc
ngay cả trong những ngày gian khổ nhất.
Bố tôi là Nguyễn Đình Kỳ, người Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh; tham
gia cách mạng năm 1946, vào Đảng năm 1948, trải qua nhiều công tác, đến
khi nghỉ hưu là Phó Trưởng ban Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình, trực
thuộc UBND TP Hà Nội trước đây và thuộc Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ
Chí Minh ngày nay.
Mẹ tôi là Đỗ Thị Nhu, người làng Mọc, Thượng Đình, Hà Nội. Thuở nhỏ
bà đã học hết Tiểu học thời Tây, có bằng Primaire Certificate nên tiếng Pháp
rất khá. Tôi được thừa hưởng nhiều trí tuệ và lòng đam mê văn học của bà.
Cho đến lúc nghỉ hưu mẹ tôi là Trưởng Phòng Tài vụ Sở Xây dựng Hà Nội.
Tôi sinh năm 1954. Lính Hà Nội nhập ngũ 27- 04-1972 và vào Nam chiến
đấu ở mặt trận B5, Quảng Trị. Nguyên là chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn
48, Sư đoàn 320B “Tử thủ Cổ thành”. Bị thương nặng, được đưa ra Bắc điều
trị tháng 01-1973, rồi đi học đại học. Hiện nay đang sống và làm việc ở
CHLB Đức.
Tôi không phải nhà văn và viết cuốn sách này không để làm văn.
Nó chỉ là hồi ức của một người lính, kể về một đoạn đời ngắn nhưng đáng
ghi nhớ nhất trong cuộc đời tôi ở Mặt trận Quảng Trị, trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước vô cùng ác liệt. Ở đó, cái sống và cái chết tranh chấp
nhau từng giây một. Ở đó, trắng đen rõ rệt. Trần trụi sự thật. Trần trụi bản
năng và mọi khía cạnh con người. Tất cả được phơi bày hết, phơi bày đến tận
cùng cái tốt và cái xấu; dũng cảm và hèn nhát; nhân đạo và nhẫn tâm; cao cả
và thấp hèn; có lý và phi lý... Cuốn sách được viết dựa trên những hồi ức của
tôi và các Đồng đội của tôi, đặc biệt là hai cuốn nhật ký của chính bản thân
tôi, ghi lại chân thực nhiều chi tiết.
Tôi biết ơn bố tôi, người đã giữ cho tôi những cuốn nhật ký đó và nhiều
tài liệu khác trong hơn 40 năm và khuyến khích tôi viết cuốn sách này.
Tôi biết ơn, nhà báo Vũ Đình Hương, bệnh nhân cùng phòng với bố tôi tại
Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội đã động viên tạo nhiều điêu kiện để cuốn sách
được hoàn thành.
Tôi trân trọng ghi nhận những đóng góp của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại,
người đồng hương Hà Tĩnh. Anh cũng từng là một quân nhân trong chiến
tranh chống Mỹ. Với tình cảm của một người đồng đội, đồng hương; anh đã
dành nhiều ngày tháng để biên tập, chú giải, liên hệ xuất bản, in ấn để cuốn
sách hoàn thiện hơn và ra đời được vào dịp kỷ niệm 30-4-2017, kỷ niệm 42
năm Ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ông Nguyễn Anh Vũ,
bà La Kim Liên, lãnh đạo NXB Văn học, và anh chị em biên tập của nhà xuất
bản đã nâng đỡ rất nhiều để cuốn sách của tôi được ra mắt bạn đọc.
Hy vọng các đồng đội tôi ở Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B sẽ tìm thấy ở
đây những kỷ niệm về một thời hoa lửa.
Hy vọng các bạn trẻ sẽ hiếu hơn về thế hệ chúng tôi, những người đã sống
và chiến đấu cho Tổ quốc như thế nào. Trong sách có sử dụng một số hình
ảnh tư liệu.
CHLB Đức, ngày 10-03-2017
Nguyễn Quang Vinh
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Lời Giới Thiệu
Trong lịch sử dân tộc ta, có nhiều thời kỳ võ công oanh liệt gắn liền với sự
phát triển rực rỡ của văn học nghệ thuật. Thời Lý - Trần; thời kháng chiến
chống quân Minh; thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ cứu nước là những thời kỳ
như vậy.
Những bài thơ như Nam quốc sơn hà, những câu thơ như “Người lính già
đầu bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong” (niên hiệu vua Trần Thái Tông, gắn
với chiến thắng Nguyên Mông tần thứ nhất 1258); “Xã tắc hai phen chôn
ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng” đã vượt qua mọi thử thách của
thời gian. Văn học, từ chỗ phản ánh hiện thực đời sống; đã trở thành giá trị
tinh thần, hào khí, cốt cách của dân tộc.
Đến nay, 2017, hòa bình đã được lập lại 42 năm. Nhưng ký ức chiến tranh
vẫn còn tươi nguyên, nhất là với những chiến sĩ đã trực tiếp cầm súng. Họ
không chỉ xả thân vì độc lập dân tộc mà còn là những nhà văn trung úy,
những nhà văn binh nhì đã và đang làm nên những chiến tích mới trong văn
học nghệ thuật. Đã có hàng trăm, hàng nghìn tiểu thuyết đồ sộ, đã có tủ sách
“Mãi mãi tuổi hai mươi” rực lửa, chan chứa giá trị nhân văn khiến cả thế giới
kinh ngạc, khâm phục. Song vẫn chưa hết. Những hồi ức binh nhì tiếp tục ra
đời.
“Quảng Trị 1972” của Nguyễn Quang Vinh là một cuốn sách như vậy,
cuốn sách hấp dẫn từ đầu chí cuối, với những chi tiết hết sức sống động và
chân thực về chiến tranh, tôi nghĩ rằng, không phải người cầm súng, không
thể viết được. Nguyễn Quang Vinh, vốn là học sinh Trường Phổ thông Công
nghiệp Hai Bà Trưng, hăng hái ra trận năm 1972, như tất cả mọi thanh niên
thời ấy, với tâm thế “Chiến đấu là cao quý nhất. Cuộc đời đẹp nhất là trên
trận tuyến đánh quân thù” (Nhật ký Lê Mã Lương). Chân dung người chiến sĩ
Giải phóng quân hồi ấy được Nguyễn Quang Vinh vẽ ra thật lãng mạn: “Có
đoạn đi bên sườn núi, nhìn ra phía đông xuyên qua tán lá rừng, có thể nhìn
thấy biển xa tít tắp. Rồi những cồn cát trắng nhỏ xíu, đồng ruộng, làng mạc
xanh mờ và một dòng sông bạc đang uốn khúc, y như trên máy bay nhìn
xuống. Tự nhiên lúc đó tôi thấy tự hào vô cùng. Dầu sao đôi chân của tôi
cũng đã in dấu trong rừng Trường Sơn, in dấu lên con đường lớn của dân tộc,
và lòng tôi cứ ngân lên hai câu thơ của Tố Hữu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai"... Nhưng rồi thực tế chiến trường đã
không chỉ có sự phơi phới. Anh là chiến sĩ rồi Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4,
Trung đội 2, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48, Trung đoàn Thép
của Sư đoàn 320B tử thủ ở Thành cổ Quảng Trị và Mặt trận Cửa Việt. Đường
hành quân, chủ yếu đi bộ từ Bắc vào Nam đã được anh nhớ lại: “Cả lũ đi mò
trong đêm. Tôi bị ngã vào vũng nước, ướt sạch, quai dép bị đứt, đành phải đi
đất. Hình như bị lạc rồi, ánh hỏa châu chập chờn khắp nơi. Đường bờ ruộng
trơn như đổ mỡ, tôi nghiến răng dùng hết sức bấm ngón chân xuống đất mà
vẫn ngã. Mỗi bước đi là một bước ngã. Súng ống đồ đạc quật oành oạch,
quần áo bẩn thỉu như trâu vấy. Nhiều lúc mệt quá, tôi cứ chống hai tay ngồi
phệt dưới bùn mà nuốt nước mắt: cuộc đời chưa bao giờ bị cực khổ như thế
này"! Cuộc sống ở chiến trường có những điều mà bây giờ lớp trẻ không thể
hiểu nổi: “Sau bữa trưa chỉ có cơm với muối chúng tôi rửa bát bằng cách sục
ca nhôm vào cát rồi chùi. Ở đây thì lấy đâu ra nước mà rửa bát. Có nước ở hố
bom cách đó vài chục mét, nhưng ra lấy lại sợ bị pháo kích”...
Quảng Trị năm 1972 là đất của bom pháo và chết chóc. Đụng vào đâu
cũng thấy xác chết, cả ta lẫn địch. Tiểu đoàn 3 của anh đã hai lần bị xóa
sổ trong vòng ba tháng. Chỉ có tinh thần chiến đấu kiên cường của người
chiến sĩ là không chết. Đây là một đoạn viết về những người lính trẻ: “Từ cửa
hãm đối diện, Lâm Thành xả một tràng AK hạ gục tên địch vừa bắn Chí
Thành. Nhưng lúc này bốn bề đều có địch. Hai chiến sĩ trẻ của C11, là Lâm
Thành và Tường “Hải Phòng”, đã dựa lưng vào nhau, chĩa súng AK ra hai
phía bắn như điên. Mặc cho máu đang ròng chảy trên mặt một người và máu
thấm đẫm vạt sườn người kia, hai anh vẫn bắn không ngừng, bắn mãi... Cách
đó khoảng 100m, Tiểu đội trưởng Quế "Khương Trung” mang khẩu DKZ82
ra định lắp vào giá súng, nhưng không kịp. Thấy xe tăng địch đang rầm rầm
xông đến, Quế hô chiến sĩ Quỳnh “Thái Bình” đem đạn ra ngay, nạp vào
súng. Rồi không cần giá súng, Quế vác nòng khẩu DKZ82 lên vai, nhằm
thẳng chiếc M48 đang chạy xế trước mặt bóp cò. Một quầng lửa da cam cùng
tiếng nổ chói óc vang lên, chiếc xe tăng bốc cháy ngùn ngụt, không một tên
địch nào sống sót”...
Mọi sự thật của chiến tranh đều được phơi bày một cách trần trụi. Cả dũng
cảm và hèn nhát. Không ít cán bộ, chiến sĩ đã thoái lui, không đập bệnh cũng
đảo ngũ. Nhưng trên tất cả là bản anh hùng ca của tuổi trẻ từ bộ đội chủ lực
đến giao liên, du kích. Tác giả, trong hoàn cảnh cụ thể của mình đã có những
trang viết xúc động, rất đáng tự hào về tuổi trẻ Hà Nội trong những ngày
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có chính tác giả.
Văn học gần đây có khuynh hướng thiên về ký sự, mô tả sự thật như nó
vốn có. Sự thật cuộc chiến đấu Quảng Trị năm 1972 hào hùng và tiêu biểu
đến nỗi, không cần tới hư cấu, và bởi không cần đến hư cấu nên lay động sâu
xa tới người đọc. Cuốn sách này của Nguyễn Quang Vinh không chỉ có giá trị
lịch sử mà còn góp phần khẳng định một khuynh hướng mới có nhiều triển
vọng trong đời sống văn học hiện nay.
Nguyễn Quang Vinh kể lại những ngày tháng của các anh ở Quảng Trị
không để làm văn chương; mà là nén hương lòng tưởng niệm và tri ân những
đồng đội đã hy sinh vì Tổ quốc:
Thế hệ chúng con đi như gió thổi
Quân phục xanh đồng sắc với chân trời
Chưa kịp yêu một người con gái
Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai.
(Trần Mạnh Hảo)
Khép lại trang cuối cùng của cuốn sách; tôi hết sức khâm phục, biết ơn và
càng thương nhớ các anh chị đã chiến đấu và hy sinh ở Quảng Trị; trong đó
hai người anh của tôi là Liệt sĩ Nguyễn Đức Thúy và Liệt sĩ Nguyễn Sĩ
Đường.
Tôi nhận thấy ở Nguyễn Quang Vinh một nhà văn - chiến sĩ. Dù anh
không viết gì nữa, tôi tin anh đã có một chỗ đứng trên văn đàn.
Cuốn sách “Quảng Trị 1972" chắc chắn sẽ ghi được dấu ấn đặc biệt trong
lòng bạn đọc.
Hồ Gươm, 21-3-2017
Nguyễn Sĩ Đại
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Nhập Ngũ
Ngày 16-04-1972 máy bay Mỹ ném bom trở lại Hà Nội, sau gần bốn năm
ngừng oanh kích.
Khoảng 11 giờ trưa còi báo động từ phía Nhà hát Lớn rú vang, rồi tiếng
súng cao xạ nổ ầm ầm. Tôi chạy từ trong lớp học ra ban công tầng 2 Trường
Phổ thông Công nghiệp Hai Bà Trưng, ngó lên bầu trời. Những chiếc phản
lực Mỹ hình vỉ ruồi nhỏ xíu, mình bạc cánh đen, đang lao vun vút trên thành
phố, phía sau chúng là từng đám hoa khói của đạn cao xạ nổ lụp bụp. Nhà
trường cho học sinh nghỉ học. Thành phố ban bố lệnh sơ tán.
Ngày hôm sau chỉ mình tôi đạp chiếc xe đạp Mifa chở theo đồ đạc lên chỗ
sơ tán. Đó là làng Giang Xá, gần Trạm Trôi, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây
(nay thuộc Hà Nội), nơi chúng tôi đã từng sơ tán từ tháng 06-1966 đến tháng
07-1969. Tôi lại đến nhà bà Phó Tiến ở Xóm Trong xin ở nhờ. Đó là một bà
già nông dân tốt bụng, ở một mình trong căn nhà lá 5 gian và một khu vườn
rộng. Các con bà, anh con trai cả và cô con gái thứ, đều đã có gia đình và ra ở
riêng cả. Bà chỉ xót xa cậu con út, chú Hinh, đi bộ đội đã mấy năm mà không
có tin tức gì. Bà vẫn thường kể từ ngày chú Hinh cùng đơn vị “kéo cờ lên
đường” sang Cao Miên (Căm-pu-chia) là bặt vô âm tín.
Đến hôm trước thì hôm sau tôi đã ra vườn giúp bà làm việc: bóc lá mía,
tưới khoai tây, trèo hái ổi cho bà đi chợ bán… Những lúc nhàn rỗi tôi lại giở
sách ra ôn tập, lòng bâng khuâng tự hỏi, còn vài tháng nữa là thi tốt nghiệp
lớp 10 và thi đại học, không biết rồi sẽ ra sao đây? Một buổi chiều tôi ra ngồi
câu cá ở ao sau vườn, nhìn bầu trời trong xanh phản chiếu xuống mặt ao, lại
nhớ hơn 4 năm về trước, từ chỗ này tôi đã quan sát cảnh máy bay Mỹ lao vào
ném bom Hà Nội. Khi bay vào thì hùng hổ, hàng ngũ chỉnh tề; khi quay ra thì
tán loạn, cái lao lên cái nhào xuống, lăn lộn cố thoát khỏi lưới lửa phòng
không nhiều tầng nhiều lớp. Khẩu thượng liên 12ly7 trên cổng làng Giang Xá
cũng nổ từng loạt giòn giã, xen lẫn những tiếng bì bọp của súng trường dân
quân. Đang mơ màng hồi tưởng thì chợt thấy phao nhấp nháy rồi bềnh lên, tôi
vội giật cần. Một chú trắm đen bằng cổ tay bị lôi lên bờ, giãy đành đạch và
phát ra những tiếng kêu chít chít nghe rất lạ. Chợt Huệ, cô bạn học cùng lớp
sơ tán hồi trước, sang chơi. Huệ người làng này, là em của Giang, người bạn
thân nhất của tôi thời sơ tán, tuy là hai anh em nhưng lại học cùng một lớp
với tôi. Từ hôm về đây tôi chưa tới thăm bạn cũ nào cả. Huệ cho biết Giang
đã nhập ngũ được mấy tháng, thanh niên làng này đã đi bộ đội vãn cả, ở làng
hầu như chỉ còn phụ nữ, trẻ con và người già. Ai ngờ đó là lần cuối cùng tôi
biết tin Giang, hai mươi mấy năm sau mới có dịp lần hỏi tin tức, thì được biết
Giang đã hy sinh ở chiến trường B5 rồi. Dạo này tình hình chiến sự ở Miền
Nam đang cực kỳ sôi động. Từ cuối tháng 03-1972 quân ta đã đồng loạt mở
các cuộc tấn công lớn ở 3 mặt trận Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên và Lộc Ninh
- Đông Nam Bộ.
Hàng ngày chiếc loa phóng thanh trên nóc đình làng vẫn vang lên những
tin thắng trận liên tiếp. Đặc biệt ấn tượng là tin cả một trung đoàn quân ngụy
do Trung tá Đính cầm đầu ra hàng Quân Giải phóng (1). Kiểu này thì chắc
sắp giải phóng Miền Nam đến nơi rồi. Tuy nhiên buổi tối trước hôm đi sơ tán
tôi có bật Radio nghe trộm đài Gươm thiêng ái quốc của Sài Gòn, thì thấy nói
“xác của hàng ngàn thiếu niên Bắc Việt đang rải khắp các chiến trường Miền
Nam trong cuộc tấn công này”.
------------(1) Về chuyện đầu hàng của trung đoàn này, lịch sử chép như sau: 10 giờ
55 phút, ngày 30-3-1972, từ Sở chỉ huy Bộ Chỉ huy chiến dịch, Tư lệnh mặt
trận Lê Trọng Tấn phát lệnh "Bão táp", mở màn chiến dịch tấn công giải
phóng Quảng Trị. Trung đoàn pháo binh Bông Lau (Trung đoàn 38) do Cao
Sơn làm Trung đoàn trưởng và Trần Thông làm Trung đoàn phó được giao
nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn 304, tấn công ở hướng chủ yếu, theo đường
số 9 từ hướng Tây xuống Đông Hà. Mục tiêu đầu tiên là đánh cụm cứ điểm
kiên cố do Trung đoàn pháo binh 56 ngụy chốt giữ. Phía địch gọi là căn cứ
Carroll (Cà - ròn), phía ta gọi là cao điểm 241. Trung đoàn này doTrung tá
Phạm Văn Đính quê Thừa Thiên làm Trung đoàn trưởng. Trước tình trạng cá
nằm trên thớt, Đính liên lạc yêu cầu thương lượng nhưng ta không đồng ý,
chỉ chấp nhận đầu hàng. Đính triệu tập các sĩ quan và thông báo ý định đầu
hàng Quân Giải phóng. Hầu hết các sĩ quan đồng ý với quyết định này trừ
Thiếu tá Tôn Thất Mãn. Trong vụ đầu hàng này có hai chi tiết thể hiện sự
nhân đạo của Quân Giải phóng: Một là, khi binh lính kéo cờ trắng đầu hàng
ra tập hơp trước sân thì có hai trực thăng Mỹ đến bốc hai cố vấn Mỹ là Thiếu
tá Joseph Brown và Trung tá William Camper. Mặc dù ở trong tầm hỏa lực
của ta nhưng Sư trưởng Hoàng Đan đã không cho bắn để khỏi giết hại binh
lính đầu hàng. Hai là, dù bị bức hàng, dù để cố vấn Mỹ trốn thoát, Phạm Văn
Đính và binh lính Trung đoàn 56 vẫn được giữ nguyên quân hàm khi theo
Quân Giải phóng và được bố trí công việc thích hợp (BT).
Ở nơi sơ tán được gần 1 tuần, bỗng một buổi sáng, Tiến Dũng, người bạn
cùng lớp thân thiết nhất của tôi tìm tới. Tiến Dũng thông báo rằng tôi đã có
giấy gọi nhập ngũ, và bố mẹ tôi nhờ Tiến Dũng vào báo tin cho hộ. Tôi vội
vàng thu dọn đồ đạc trở về ngay Hà Nội. Trong giấy có nói 9h sáng ngày 2704-1972 tôi phải có mặt ở Tây Tựu, huyện Từ Liêm để nhập ngũ. Như vậy là
chỉ còn vài ngày nữa thôi. Thực sự hồi đó tôi cũng hơi bị bất ngờ. Cho đến
những ngày đó, chiến tranh đối với tôi dường như là sự việc của những người
khác, ở một nơi nào đó xa lắc, và chỉ tồn tại trong những bản tin của báo, đài.
Hơn nữa tôi chưa tròn 18 tuổi, là một trong những học sinh giỏi nhất trường.
Những học sinh như vậy sau khi tốt nghiệp lớp 10 thường được các trường
đại học của Quân đội hoặc Công an đến chiêu sinh, hoặc được các Binh
chủng kỹ thuật như Không quân, tên lửa, xe tăng, pháo binh đến thu nạp, chứ
ít khi phải đi lính trơn “Bò binh” như thế này. Tôi tranh thủ lên thăm gia đình
cô An ở Nông trường Tam Đảo một ngày. Những ngày còn lại lo mua sắm
vài vật dụng cần thiết, và cùng gia đình đi chụp ảnh kỷ niệm. Những bức ảnh
chụp đại gia đình hồi đó, gồm bố mẹ tôi, hai em Hà, Hiển cùng bà nội, bà
ngoại vẫn còn đến ngày nay. Nhìn nét mặt người nào cũng đượm vẻ lo âu và
buồn rười rượi. Buổi sáng ngày 27-04-1972 cả gia đình đưa tiễn tôi đến nơi
tập trung tại xã Tây Tựu, ngoại thành Hà Nội. Đến nơi đã thấy rất đông
người.
Cùng lớp tôi có các bạn Chí Thành, Lê Thanh Bình, Phổ Thọ. Bạn Tiến
Dũng chạy theo chúng tôi suốt, và rất muốn đi cùng cho vui, nhưng bạn ấy
không có giấy gọi mà cũng không có tên trong danh sách. Sau này tôi nghĩ
chắc người họ hàng làm trên Khu đội đã ỉm giấy của bạn ấy đi. Nhà tôi gần
nhà Quang Vinh nên mẹ bạn ấy bắt hai đứa phải khoác chặt tay nhau để
“cùng đi cùng ở”. Tôi còn nhận ra một số khuôn mặt quen thuộc hoặc ở cùng
Khu tập thể như Mai Quý Cường, Dũng “Patinhom”, Vân số 6, Bình “Cống”,
Châm “thối tai”, Ngô Duy Minh, Bùi Ngọc Toàn 10A….
Có một tay đeo xắc-cốt lụng thụng, đi lại bắng nhắng, làm bộ phỏng vấn
mọi người, nói nhiều câu đao to búa lớn, có biệt danh là Nhuận “nhà báo”.
Không ngờ sau này hắn là một trong những tên đảo ngũ đầu tiên. Sau khi
nhận quân trang gồm quần áo, mũ dép, chăn màn, bi-đông… tôi được phân
về Tiểu đội 3, Trung đội 1, C49, D58, E59 Bộ Tư lệnh Thủ đô. Tiểu đội
trưởng Thành 19 tuổi, nhập ngũ trước chúng tôi một năm, mới đi học A
trưởng về, mặc bộ quân phục bạc phếch, hay cười khoe chiếc răng khểnh, và
tỏ ra rất thân thiện với tôi. Buổi tối đầu tiên trong đời bộ đội, toàn Trung đội
tập hợp ở sân đình, nghe Quyền Trung đội trưởng Nghĩa huấn thị. Anh Nghĩa
23 tuổi, là người vui tính thích thơ ca hò vè, nhưng cũng rất nghiêm, làm
chúng tôi nể sợ răm rắp. Anh bắt nhịp cho chúng tôi đồng ca bài “Vì nhân
dân quên mình”, rồi đọc một bài vè rất ngộ về lính mới ở Bãi Nai, Hòa Bình
làm mọi người cười vui vẻ. Tôi được chỉ định làm A phó A3.
Sáng hôm sau cả lũ kéo nhau ra giếng ao gần đó đánh răng rửa mặt, tôi
gặp Lục Thế Bảo và Định, tán gẫu vài câu, rồi mỗi đứa được phát một cái
bánh mì để ăn sáng. Đúng 7h30 Đại đội tập hợp điểm danh, phổ biến lệnh
hành quân, sau đó theo đội hình hàng dọc lên đường. Sau khoảng hai tiếng
đồng hồ, tự nhiên tôi thấy mình đang đi trên bờ một con kênh quen quen,
giống như con kênh ở gần làng Giang Xá. Tôi nghĩ bụng chắc sắp đi qua
làng, biết đâu gặp được vài người quen nào đó. Nhưng không, đi một lúc nữa
thì thấy mình đang ở vùng Sấu Giá rợp bóng dừa xanh, với những người dân
nói tiếng trọ trẹ rất khó nghe. Ngày hôm sau, khi đã tối mịt một lúc lâu thì
chúng tôi mới tới nơi. Đó là một sườn đồi thoai thoải trong vùng rừng núi Bãi
Nai, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Một lô nhà lán lợp nứa đứng xiêu vẹo.
Chúng tôi chia nhau mỗi tiểu đội vào một nhà, đứa nào cũng mệt rũ. Tôi lần
mò lấy ra gói sữa bột, hòa vào bát nước chè để uống, rồi rải chiếu ra nằm ngủ
như chết.
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Huấn Luyện Tân Binh
Sáng hôm sau nghe phổ biến nhiệm vụ: các Tiểu đội chia thành tổ Tam
tam vào rừng đẵn gỗ nứa về làm nhà. Tổ Tam tam của tôi ngoài tôi làm tổ
trưởng còn có Mai Quý Cường và Tôn, đều to cao như phi công cả. Chỉ tiêu
ngày đầu mỗi người một cây gỗ bằng bắp chân, những ngày sau mỗi người
20 cây nứa. Chúng tôi phải leo những con dốc dựng đứng, đi rất sâu vào rừng
mới tới nơi nứa mọc. Trai Hà Nội lần đầu thấy những con vắt nâu đen, đứng
trên những chiếc lá, quơ quơ cái vòi đánh hơi, thấy người đi qua thì nhảy tanh
tách đeo bám. Thấy những vạt rừng thưa có những cây bưởi dại, cây sung,
cây vả quả đeo lúc lỉu và cây dương xỉ đầy lông tơ vàng. Tôi chưa có kinh
nghiệm chặt nứa nên bị 1 cây xiên xuống trúng mu bàn chân trái, mấy hôm
sau mưng mủ, đau nhức. Bắp chân nổi hạch, sưng to, nhưng tôi vẫn cố gắng
cà nhắc đi làm, nên được Đại đội biểu dương. Sau hơn một tuần thì nơi ăn
chốn ở đã ổn định. Mỗi tiểu đội ở một nhà lợp nứa, vách nứa, và có một chiếc
giường tập thể lát nứa chạy dọc căn nhà. Ngoài ra chúng tôi còn làm một hội
trường lớn, một nhà ăn tập thể và một khu bếp cạnh suối. Sau đó chúng tôi đi
nhận vũ khí, chủ yếu là AK47 và K63 (súng trường Trung Quốc) có gắn lưỡi
lê. Tôi được nhận một khẩu AK Ba Lan có tay nắm phụ ở ốp phía trên và một
bao xe 3 băng đạn trước bụng. Mỗi người còn phải đeo hai quả lựu đạn tập và
tự làm vòng tre để cắm lá ngụy trang sau lưng. Tôi đươc thuyên chuyển sang
Trung đội 2 làm A phó A4. Ở Trung đội này tôi gặp lại bạn thân Chí Thành
và Ngô Duy Minh.
Mỗi buổi sáng sau kẻng báo thức, chúng tôi xuống suối đánh răng rửa
mặt, làm vệ sinh cá nhân rồi tập thể dục theo Trung đội. Sau đó xuống nhà ăn
ăn sáng, chủ yếu là bánh đúc ngô hoặc bột mì luộc, rồi ra thao trường tập
luyện. Đến 11h về nghỉ ăn trưa, cơm độn ngô với bí đỏ xào, hoặc măng nứa
xào, hoặc rau muống luộc, thỉnh thoảng mới có chút thịt. Có một tiểu đội “chị
nuôi” ở khu nhà bếp gồm các cô gái 18-20 tuổi, thỉnh thoảng thấy mấy vị cán
bộ Đại đội, Trung đội xuống tán tỉnh. Buổi chiều lại tiếp tục ra thao trường.
Sau bữa tối toàn đại đội tập hợp, sinh hoạt tập thể như nghe đọc báo, văn
nghệ cây nhà lá vườn hoặc nghe một vài cá nhân kể chuyện bản thân. 21h
kẻng tắt đèn đi ngủ. Các tiểu đội đều có lịch gác đêm. Mỗi lần đến lượt tôi
đều chọn một khẩu K63 gắn lưỡi lê, vừa gác vừa tập mấy bài cận chiến bằng
lưỡi lê và báng súng. Các bài huấn luyện cứ phức tạp dần, từ xếp đội hình đội
ngũ, lăn lê bò toài, kỹ thuật xạ kích, ném lựu đạn, đánh bộc phá…đến kỹ
thuật ngụy trang, chiến thuật Tiểu đội, Trung đội giữ chốt…Tóm lại là ngày
nào cũng mệt nhoài, nhưng tinh thần chúng tôi rất hăng hái. Có những hôm
trên đường đi tập về, nghe mấy cậu lính gốc gia đình buôn bán thất thểu vừa
đi vừa rên rỉ mấy câu nhạc vàng: “Ngày mai anh đi/ Lòng xao xuyến xa nơi
Hà thành/ Đời lính chiến không mong ngày về/ Héo mòn cả tuổi xanh…”
hoặc “Mai mốt anh trở về/ Anh kéo lê chân què/ Cuộc đời anh sẽ bò lê/ Cuộc
đời anh sẽ bò lê…” là chúng tôi phản ứng dữ dội. Khi nghe một cậu hát “Yêu
anh không phải vì đẹp trai, không phải vì sang giầu, mà cùng chung chí
hướng…” tôi quặc luôn: “Chí hướng gì? Chí hướng Bắc tiến diệt Cộng hả?”
làm cậu ta tịt ngóm. Đặc biệt là mỗi tuần có hai buổi tập hành quân mang vác
nặng. Anh nào cũng phải lèn gạch đá vào ba-lô cho đủ 30kg, mang súng và
tất cả trang bị trên người. Quãng đường hành quân càng ngày càng dài, lên
núi xuống đèo, băng qua đồng ruộng, sông suối…Nhiều cậu mồ hôi ra như
tắm, tôi thì lại không ra mồ hôi mấy. Buổi trưa trời nắng chang chang, khát
khô cổ, chúng tôi vục cả nước ruộng để uống, mà không thấy đau bụng gì.
Tuy nhiên tôi có cậu bạn nhà ở số 10 Đoàn Trần Nghiệp, một hôm vì quá
khát nên uống nước ở một mương nhỏ. Sau đó bị đau bụng khủng khiếp, kêu
khóc vật vã, mắt vàng da vàng, phải đưa đi Trạm xá cấp cứu, nghe nói bị
xoắn trùng. Có những buổi tập hành quân đêm trời tối đen như mực, người đi
sau phải bám vai người đi trước, thế mà vẫn có cậu thụt xuống hố nước. Dần
dần những địa danh Dốc Cun, Suối Mon, Bãi Nai… trở thành rất quen thuộc.
Ở Bãi Nai được khoảng ba tuần thì một buổi sáng chủ nhật gia đình tôi,
gồm bà nội, mẹ tôi và hai em Hà, Hiển lên thăm. Tôi được Trực ban Đại đội
gọi ra Trạm đón tiếp cách doanh trại khoảng 200m để gặp gia đình. Tới nơi
đã thấy nhiều người lố nhố, mỗi chỗ có một anh lính mới với người nhà ngồi
vây quanh, chuyện trò rôm rả. Gặp lại tôi cả nhà mừng rỡ, đặc biệt là bà nội
và mẹ tôi, những người có tình thương con cháu vô biên, gần như mù quáng.
Những anh lính mới như tôi được gia đình mang đủ thứ lên tiếp tế, nào là xôi
chả, thịt gà, thịt lợn, ruốc thịt, bánh dày, bánh giò… thứ ép ăn tại chỗ, thứ cho
vào bao để cất ăn dần. Mẹ tôi kể chuyến này cùng đi còn có mẹ Chí Thành và
mẹ Phổ Thọ. Phổ Thọ gốc Miền Nam tập kết, mẹ Phổ Thọ là Bác sĩ Bệnh
viện Việt Xô, thương con thì thôi rồi. Bà mang đòn gánh trên vai, một đầu
treo hai cái bánh tét, đầu kia treo một con vịt, tính lên đến nơi sẽ làm thịt cho
thằng Hai (Phổ Thọ) ăn. Ai ngờ khi lội qua Suối Mon, nước lên đến bụng, bà
bị trượt ngã, con vịt bơi theo dòng nước đi mất. Nói chung tôi biết các gia
đình đều phải tằn tiện chắt bóp để tiếp tế cho chúng tôi, vì tiêu chuẩn thực
phẩm tem phiếu thời chiến chẳng dư dả gì. Ngồi bên cạnh gia đình tôi là gia
đình Mai Quý Cường, bạn cùng khu tập thể Nguyễn Công Trứ. Mẹ bạn ấy
làm ở Quầy đổi bánh mì (thuộc ngành lương thực - đổi bánh mì thu tem gạo)
nên tôi rất quen mặt. Cường có cô người yêu mũm mĩm, nghe nói là nhân
viên bán hàng ở phố Huế, đang ngồi đút cho Cường ăn từng miếng xôi chả
rất tình tứ. Tôi tranh thủ đưa em Hiển, em út của gia đình, vào thăm chỗ
chúng tôi ăn ở. Hiển hồi đó 11 tuổi, có khuôn mặt bầu bĩnh, được tôi khoác
khẩu AK vào cổ, đi đi lại lại, lấy làm khoái chí lắm. Sau khi tiễn gia đình về,
trên đường trở vào doanh trại, tôi đi cạnh Hoàng Hữu Hạnh. Mỗi đứa đều ôm
một bọc tiếp tế trước bụng, tôi nhìn sang thấy Hạnh đang ngân ngấn nước
mắt (Sau này Hạnh hy sinh ở chốt Làng 8, Thanh hội)...
Những tối thứ bảy, chủ nhật, thường được nghỉ sinh hoạt, chúng tôi hay ra
bản người Mường gần đó chơi. Nhiều cậu có tiền thì trèo lên những ngôi nhà
sàn, mua rượu sắn ngồi uống, hoặc tán tỉnh trêu đùa các cô gái Mường.
Người Mường rất hiền lành, thật thà, các cô gái hay mặc váy đen, áo trắng
dài tay nhưng vạt ngắn cũn cỡn. Khi bị chúng tôi buông lời trêu ghẹo “Ủn ơi,
ché Ủn có to không?” (Em ơi, l. em có to không?) là các cô thẹn đỏ mặt bỏ
chạy hết. Nhiều cậu khác hoặc không có tiền, hoặc không muốn ra ngoài
chơi, thì túm tụm đánh bài Tiến lên. Có hôm, tôi cũng ngồi đánh bài cho vui,
lúc tàn cuộc, quờ chân xuống giường tìm dép, thì đôi dép đúc Trung quốc
được cấp phát đã không cánh mà bay. Chắc bị thằng nào ăn cắp đi đổi rượu
uống rồi. Báo hại tôi phải báo về gia đình, nhờ ra Chợ Giời (1) mua cho đôi
khác gửi lên. Tôi có thói quen ngày nào cũng viết nhật ký, rồi đem cái kèn
Harmonica thổi những bài tôi yêuthích. Người bạn nằm cạnh tôi cũng hay
viết nhật ký, nhưng bằng tiếng Nga. Đó là anh Toàn già, người thấp bé, hơn
chúng tôi chừng dăm tuổi, để ria mép, khuôn mặt lúc nào cũng rầu rĩ. Anh kể
anh đã đi học nghề ở Nga ba năm về, giờ lại bị bắt đi lính, nên rất bất mãn.
Anh thường cáo bệnh nằm nhà, không đi tập luyện. Hình như về sau anh
được loại ngũ, đúng như mong muốn.
------------(1) Chợ Giời (Trời), hay còn có tên là Chợ Hòa Bình, một chợ rất nổi
tiếng ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, họp ngoài trời từ năm 1954 ở các phố
Thịnh Yên, Chùa Vua, Lê Gia Định, Trần Cao Vân, Nguyễn Công Trứ, Yên
Bái 2, Đỗ Ngọc Du. Chợ Giời nổi tiếng vì có bán đủ mọi thứ trên đời, kể cả
hàng đặc dụng, hàng cấm (BT).
Từ hồi còn đi học tôi đã luôn nghiêm chỉnh gương mẫu trong mọi việc.
Mười năm liền là lớp trưởng, luôn đứng đầu lớp, nhiều lần đoạt giải trong các
cuộc thi học sinh giỏi, làm Đội trưởng Đội Cờ đỏ của trường… Tôi thường
tâm niệm: đã là học sinh phải học thật giỏi, là công nhân phải sản xuất tốt, là
người lính phải chiến đấu dũng cảm. Tuy nhiên cái nhìn và cách hành xử
thẳng băng như vậy trong cuộc đời thường gặp phải nhiều chống đối, đặc biệt
từ phía những kẻ xuất thân buôn bán, thành phần bất hảo, lưu manh đường
phố, vì nhiều đứa như vậy cũng được gọi nhập ngũ đợt này.
Chúng cho tôi là một tên “Bôn sệt”, và nhiều khi tỏ ra khó chịu, khi bị tôi
với tư cách A phó nhắc nhở chấp hành nghiêm kỷ luật. Thậm chí có tên còn
dọa sẽ “trùm chăn đánh hội đồng” tôi. Nhưng sau lưng tôi luôn có nhiều
người bạn chí cốt ủng hộ, đặc biệt là anh Long “cồ”. Anh người to cao như
gấu, khuôn mặt bèn bẹt có cái mũi sư tử trông rất ngầu. Anh thường rủ tôi lên
đồi tập võ Tàu, và lớn tiếng tuyên bố: “Tao với thằng Vinh là anh em kết
nghĩa, đứa nào đụng đến nó nghĩa là đụng đến tao, tao sẽ cho ăn quết trầu bét
nhè”. Thế là chả đứa nào dám đụng đến tôi cả. Tôi cũng rút ra được phương
châm hành xử trong đời lính, là luôn phải “Khôn ngoan đứng đắn/ Thân mật
tươi cười/ Nắm được lòng người/ Kịp thời cương quyết”.
Anh bạn Chí Thành của tôi ở A5 cùng nhiều bạn học sinh khác cũng phải
chịu cảnh tương tự. Anh bị mấy tên bất hảo ở A5 đe dọa, ton hót nhiều
chuyện bịa đặt với A trưởng để cô lập anh. Anh rất buồn và thường gặp tôi để
tâm sự. Tình hình A6 cũng chẳng khá hơn. Tôi vẫn nhớ cậu Khánh ở Vân Hồ,
người thư sinh mảnh dẻ, có khuôn mặt như con gái, bị lão Lân A trưởng A6
rất ghét, hay kiếm cớ chửi mắng, nhiều hôm bị lão phạt quỳ ở ngoài sân. A6
còn có cậu Lâm Thành, thuộc loại thấp bé nhẹ cân, nhưng lại hay bị sai đi
khiêng thực phẩm.
Hòa Bình là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô, nên thỉnh
thoảng thấy máy bay Mỹ đi tập kích Hà Nội bay qua. Có những hôm thấy
những sợi giấy bạc lấp lánh mỏng manh bay trắng trời, rơi phủ đầy cây cối và
mặt đất, về sau tôi mới biết đó là do máy bay Mỹ thả nhiễu thụ động để
chống Ra-đa phòng không.
Tình hình chiến sự ở Miền Nam ngày càng căng thẳng. Ngày 01-05-1972
báo đài đồng loạt đưa tin giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, nhưng sau đó
phía đối phương liên tục phản kích trên các mặt trận. Nhu cầu bổ sung sức
người sức của cho tiền phương là rất lớn.
Chúng tôi đã bắt đầu bước vào giai đoạn huấn luyện nước rút, gồm bắn
đạn thật, ném lựu đạn thật, đánh bộc phá thật. Những buổi học về kỹ thuật xạ
kích ở hội trường do Đại đội trưởng Mạnh lên lớp rất tẻ nhạt. Trung úy Mạnh
gốc người dân tộc Tày thì phải, trình độ văn hóa không cao, nên nói năng có
phần lúng túng. Tôi nhớ mãi câu “từ từ lổ cò, từ từ lổ cò” của anh khi hướng
dẫn bắn súng. Ngược lại, anh Hồng, Chính trị viên đại đội, ăn nói rất lưu loát.
Các buổi học tập chính trị, anh hăng...
Lời Tác Giả
Lời Giới Thiệu
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Nhập Ngũ
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Huấn Luyện Tân Binh
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Về Phép
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Trên Đường Đi B (1)
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Trên Đường Đi B (2)
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Trên Đường Đi B (3)
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Chiến Trường B5
Phần Thứ Hai: Chiến Trận - Trận Thành Cổ (1)
Phần Thứ Hai: Chiến Trận - Trận Thành Cổ (2)
Phần Thứ Ba: Mặt Trận Nam Cửa Việt (1)
Phần Thứ Ba: Mặt Trận Nam Cửa Việt (2)
Phần Thứ Ba: Mặt Trận Nam Cửa Việt (3)
Vĩ Thanh
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Lời Tác Giả
Tôi tin rằng, trên đời này, mỗi người đều có một số phận riêng, không ai
giống ai.
Từ lâu, ca dao Việt Nam đã nói về thân phận con người, đó là sự mặc
định, thiên định:
Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày...
Tôi coi mình là người may mắn và hạnh phúc khi được làm con bố mẹ tôi,
những người không chỉ cho tôi cuộc sống, mà còn dạy tôi biết hướng về
những điều cao đẹp như chính cuộc đời của ông bà, luôn nặng lòng với quê
hương đất nước và tương lai của con cháu.
Tôi coi mình là người hạnh phúc và may mắn khi được sinh ra và lớn lên
ở Hà Nội, Hà Nội hào hùng lịch sử, hào hoa cốt cách, thủ đô của phẩm giá
con người.
Tôi có Hà Nội lại được có Hà Tĩnh, Hương Sơn quê hương. Cái vùng đất
địa linh nhân kiệt; vùng đất của thơ ca, của sự trung dũng kiên cường, đậm đà
tình nghĩa ấy đã bồi đắp cho tôi những phẩm tính đặc biệt để dễ dàng vượt
qua những thử thách trong cuộc sống và biết chắt lọc niêm vui, hạnh phúc
ngay cả trong những ngày gian khổ nhất.
Bố tôi là Nguyễn Đình Kỳ, người Sơn Tân, Hương Sơn, Hà Tĩnh; tham
gia cách mạng năm 1946, vào Đảng năm 1948, trải qua nhiều công tác, đến
khi nghỉ hưu là Phó Trưởng ban Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình, trực
thuộc UBND TP Hà Nội trước đây và thuộc Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ
Chí Minh ngày nay.
Mẹ tôi là Đỗ Thị Nhu, người làng Mọc, Thượng Đình, Hà Nội. Thuở nhỏ
bà đã học hết Tiểu học thời Tây, có bằng Primaire Certificate nên tiếng Pháp
rất khá. Tôi được thừa hưởng nhiều trí tuệ và lòng đam mê văn học của bà.
Cho đến lúc nghỉ hưu mẹ tôi là Trưởng Phòng Tài vụ Sở Xây dựng Hà Nội.
Tôi sinh năm 1954. Lính Hà Nội nhập ngũ 27- 04-1972 và vào Nam chiến
đấu ở mặt trận B5, Quảng Trị. Nguyên là chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn
48, Sư đoàn 320B “Tử thủ Cổ thành”. Bị thương nặng, được đưa ra Bắc điều
trị tháng 01-1973, rồi đi học đại học. Hiện nay đang sống và làm việc ở
CHLB Đức.
Tôi không phải nhà văn và viết cuốn sách này không để làm văn.
Nó chỉ là hồi ức của một người lính, kể về một đoạn đời ngắn nhưng đáng
ghi nhớ nhất trong cuộc đời tôi ở Mặt trận Quảng Trị, trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước vô cùng ác liệt. Ở đó, cái sống và cái chết tranh chấp
nhau từng giây một. Ở đó, trắng đen rõ rệt. Trần trụi sự thật. Trần trụi bản
năng và mọi khía cạnh con người. Tất cả được phơi bày hết, phơi bày đến tận
cùng cái tốt và cái xấu; dũng cảm và hèn nhát; nhân đạo và nhẫn tâm; cao cả
và thấp hèn; có lý và phi lý... Cuốn sách được viết dựa trên những hồi ức của
tôi và các Đồng đội của tôi, đặc biệt là hai cuốn nhật ký của chính bản thân
tôi, ghi lại chân thực nhiều chi tiết.
Tôi biết ơn bố tôi, người đã giữ cho tôi những cuốn nhật ký đó và nhiều
tài liệu khác trong hơn 40 năm và khuyến khích tôi viết cuốn sách này.
Tôi biết ơn, nhà báo Vũ Đình Hương, bệnh nhân cùng phòng với bố tôi tại
Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội đã động viên tạo nhiều điêu kiện để cuốn sách
được hoàn thành.
Tôi trân trọng ghi nhận những đóng góp của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại,
người đồng hương Hà Tĩnh. Anh cũng từng là một quân nhân trong chiến
tranh chống Mỹ. Với tình cảm của một người đồng đội, đồng hương; anh đã
dành nhiều ngày tháng để biên tập, chú giải, liên hệ xuất bản, in ấn để cuốn
sách hoàn thiện hơn và ra đời được vào dịp kỷ niệm 30-4-2017, kỷ niệm 42
năm Ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ông Nguyễn Anh Vũ,
bà La Kim Liên, lãnh đạo NXB Văn học, và anh chị em biên tập của nhà xuất
bản đã nâng đỡ rất nhiều để cuốn sách của tôi được ra mắt bạn đọc.
Hy vọng các đồng đội tôi ở Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B sẽ tìm thấy ở
đây những kỷ niệm về một thời hoa lửa.
Hy vọng các bạn trẻ sẽ hiếu hơn về thế hệ chúng tôi, những người đã sống
và chiến đấu cho Tổ quốc như thế nào. Trong sách có sử dụng một số hình
ảnh tư liệu.
CHLB Đức, ngày 10-03-2017
Nguyễn Quang Vinh
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Lời Giới Thiệu
Trong lịch sử dân tộc ta, có nhiều thời kỳ võ công oanh liệt gắn liền với sự
phát triển rực rỡ của văn học nghệ thuật. Thời Lý - Trần; thời kháng chiến
chống quân Minh; thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ cứu nước là những thời kỳ
như vậy.
Những bài thơ như Nam quốc sơn hà, những câu thơ như “Người lính già
đầu bạc/ Kể mãi chuyện Nguyên Phong” (niên hiệu vua Trần Thái Tông, gắn
với chiến thắng Nguyên Mông tần thứ nhất 1258); “Xã tắc hai phen chôn
ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng” đã vượt qua mọi thử thách của
thời gian. Văn học, từ chỗ phản ánh hiện thực đời sống; đã trở thành giá trị
tinh thần, hào khí, cốt cách của dân tộc.
Đến nay, 2017, hòa bình đã được lập lại 42 năm. Nhưng ký ức chiến tranh
vẫn còn tươi nguyên, nhất là với những chiến sĩ đã trực tiếp cầm súng. Họ
không chỉ xả thân vì độc lập dân tộc mà còn là những nhà văn trung úy,
những nhà văn binh nhì đã và đang làm nên những chiến tích mới trong văn
học nghệ thuật. Đã có hàng trăm, hàng nghìn tiểu thuyết đồ sộ, đã có tủ sách
“Mãi mãi tuổi hai mươi” rực lửa, chan chứa giá trị nhân văn khiến cả thế giới
kinh ngạc, khâm phục. Song vẫn chưa hết. Những hồi ức binh nhì tiếp tục ra
đời.
“Quảng Trị 1972” của Nguyễn Quang Vinh là một cuốn sách như vậy,
cuốn sách hấp dẫn từ đầu chí cuối, với những chi tiết hết sức sống động và
chân thực về chiến tranh, tôi nghĩ rằng, không phải người cầm súng, không
thể viết được. Nguyễn Quang Vinh, vốn là học sinh Trường Phổ thông Công
nghiệp Hai Bà Trưng, hăng hái ra trận năm 1972, như tất cả mọi thanh niên
thời ấy, với tâm thế “Chiến đấu là cao quý nhất. Cuộc đời đẹp nhất là trên
trận tuyến đánh quân thù” (Nhật ký Lê Mã Lương). Chân dung người chiến sĩ
Giải phóng quân hồi ấy được Nguyễn Quang Vinh vẽ ra thật lãng mạn: “Có
đoạn đi bên sườn núi, nhìn ra phía đông xuyên qua tán lá rừng, có thể nhìn
thấy biển xa tít tắp. Rồi những cồn cát trắng nhỏ xíu, đồng ruộng, làng mạc
xanh mờ và một dòng sông bạc đang uốn khúc, y như trên máy bay nhìn
xuống. Tự nhiên lúc đó tôi thấy tự hào vô cùng. Dầu sao đôi chân của tôi
cũng đã in dấu trong rừng Trường Sơn, in dấu lên con đường lớn của dân tộc,
và lòng tôi cứ ngân lên hai câu thơ của Tố Hữu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai"... Nhưng rồi thực tế chiến trường đã
không chỉ có sự phơi phới. Anh là chiến sĩ rồi Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4,
Trung đội 2, Đại đội 11, Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48, Trung đoàn Thép
của Sư đoàn 320B tử thủ ở Thành cổ Quảng Trị và Mặt trận Cửa Việt. Đường
hành quân, chủ yếu đi bộ từ Bắc vào Nam đã được anh nhớ lại: “Cả lũ đi mò
trong đêm. Tôi bị ngã vào vũng nước, ướt sạch, quai dép bị đứt, đành phải đi
đất. Hình như bị lạc rồi, ánh hỏa châu chập chờn khắp nơi. Đường bờ ruộng
trơn như đổ mỡ, tôi nghiến răng dùng hết sức bấm ngón chân xuống đất mà
vẫn ngã. Mỗi bước đi là một bước ngã. Súng ống đồ đạc quật oành oạch,
quần áo bẩn thỉu như trâu vấy. Nhiều lúc mệt quá, tôi cứ chống hai tay ngồi
phệt dưới bùn mà nuốt nước mắt: cuộc đời chưa bao giờ bị cực khổ như thế
này"! Cuộc sống ở chiến trường có những điều mà bây giờ lớp trẻ không thể
hiểu nổi: “Sau bữa trưa chỉ có cơm với muối chúng tôi rửa bát bằng cách sục
ca nhôm vào cát rồi chùi. Ở đây thì lấy đâu ra nước mà rửa bát. Có nước ở hố
bom cách đó vài chục mét, nhưng ra lấy lại sợ bị pháo kích”...
Quảng Trị năm 1972 là đất của bom pháo và chết chóc. Đụng vào đâu
cũng thấy xác chết, cả ta lẫn địch. Tiểu đoàn 3 của anh đã hai lần bị xóa
sổ trong vòng ba tháng. Chỉ có tinh thần chiến đấu kiên cường của người
chiến sĩ là không chết. Đây là một đoạn viết về những người lính trẻ: “Từ cửa
hãm đối diện, Lâm Thành xả một tràng AK hạ gục tên địch vừa bắn Chí
Thành. Nhưng lúc này bốn bề đều có địch. Hai chiến sĩ trẻ của C11, là Lâm
Thành và Tường “Hải Phòng”, đã dựa lưng vào nhau, chĩa súng AK ra hai
phía bắn như điên. Mặc cho máu đang ròng chảy trên mặt một người và máu
thấm đẫm vạt sườn người kia, hai anh vẫn bắn không ngừng, bắn mãi... Cách
đó khoảng 100m, Tiểu đội trưởng Quế "Khương Trung” mang khẩu DKZ82
ra định lắp vào giá súng, nhưng không kịp. Thấy xe tăng địch đang rầm rầm
xông đến, Quế hô chiến sĩ Quỳnh “Thái Bình” đem đạn ra ngay, nạp vào
súng. Rồi không cần giá súng, Quế vác nòng khẩu DKZ82 lên vai, nhằm
thẳng chiếc M48 đang chạy xế trước mặt bóp cò. Một quầng lửa da cam cùng
tiếng nổ chói óc vang lên, chiếc xe tăng bốc cháy ngùn ngụt, không một tên
địch nào sống sót”...
Mọi sự thật của chiến tranh đều được phơi bày một cách trần trụi. Cả dũng
cảm và hèn nhát. Không ít cán bộ, chiến sĩ đã thoái lui, không đập bệnh cũng
đảo ngũ. Nhưng trên tất cả là bản anh hùng ca của tuổi trẻ từ bộ đội chủ lực
đến giao liên, du kích. Tác giả, trong hoàn cảnh cụ thể của mình đã có những
trang viết xúc động, rất đáng tự hào về tuổi trẻ Hà Nội trong những ngày
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong đó có chính tác giả.
Văn học gần đây có khuynh hướng thiên về ký sự, mô tả sự thật như nó
vốn có. Sự thật cuộc chiến đấu Quảng Trị năm 1972 hào hùng và tiêu biểu
đến nỗi, không cần tới hư cấu, và bởi không cần đến hư cấu nên lay động sâu
xa tới người đọc. Cuốn sách này của Nguyễn Quang Vinh không chỉ có giá trị
lịch sử mà còn góp phần khẳng định một khuynh hướng mới có nhiều triển
vọng trong đời sống văn học hiện nay.
Nguyễn Quang Vinh kể lại những ngày tháng của các anh ở Quảng Trị
không để làm văn chương; mà là nén hương lòng tưởng niệm và tri ân những
đồng đội đã hy sinh vì Tổ quốc:
Thế hệ chúng con đi như gió thổi
Quân phục xanh đồng sắc với chân trời
Chưa kịp yêu một người con gái
Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai.
(Trần Mạnh Hảo)
Khép lại trang cuối cùng của cuốn sách; tôi hết sức khâm phục, biết ơn và
càng thương nhớ các anh chị đã chiến đấu và hy sinh ở Quảng Trị; trong đó
hai người anh của tôi là Liệt sĩ Nguyễn Đức Thúy và Liệt sĩ Nguyễn Sĩ
Đường.
Tôi nhận thấy ở Nguyễn Quang Vinh một nhà văn - chiến sĩ. Dù anh
không viết gì nữa, tôi tin anh đã có một chỗ đứng trên văn đàn.
Cuốn sách “Quảng Trị 1972" chắc chắn sẽ ghi được dấu ấn đặc biệt trong
lòng bạn đọc.
Hồ Gươm, 21-3-2017
Nguyễn Sĩ Đại
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Nhập Ngũ
Ngày 16-04-1972 máy bay Mỹ ném bom trở lại Hà Nội, sau gần bốn năm
ngừng oanh kích.
Khoảng 11 giờ trưa còi báo động từ phía Nhà hát Lớn rú vang, rồi tiếng
súng cao xạ nổ ầm ầm. Tôi chạy từ trong lớp học ra ban công tầng 2 Trường
Phổ thông Công nghiệp Hai Bà Trưng, ngó lên bầu trời. Những chiếc phản
lực Mỹ hình vỉ ruồi nhỏ xíu, mình bạc cánh đen, đang lao vun vút trên thành
phố, phía sau chúng là từng đám hoa khói của đạn cao xạ nổ lụp bụp. Nhà
trường cho học sinh nghỉ học. Thành phố ban bố lệnh sơ tán.
Ngày hôm sau chỉ mình tôi đạp chiếc xe đạp Mifa chở theo đồ đạc lên chỗ
sơ tán. Đó là làng Giang Xá, gần Trạm Trôi, huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây
(nay thuộc Hà Nội), nơi chúng tôi đã từng sơ tán từ tháng 06-1966 đến tháng
07-1969. Tôi lại đến nhà bà Phó Tiến ở Xóm Trong xin ở nhờ. Đó là một bà
già nông dân tốt bụng, ở một mình trong căn nhà lá 5 gian và một khu vườn
rộng. Các con bà, anh con trai cả và cô con gái thứ, đều đã có gia đình và ra ở
riêng cả. Bà chỉ xót xa cậu con út, chú Hinh, đi bộ đội đã mấy năm mà không
có tin tức gì. Bà vẫn thường kể từ ngày chú Hinh cùng đơn vị “kéo cờ lên
đường” sang Cao Miên (Căm-pu-chia) là bặt vô âm tín.
Đến hôm trước thì hôm sau tôi đã ra vườn giúp bà làm việc: bóc lá mía,
tưới khoai tây, trèo hái ổi cho bà đi chợ bán… Những lúc nhàn rỗi tôi lại giở
sách ra ôn tập, lòng bâng khuâng tự hỏi, còn vài tháng nữa là thi tốt nghiệp
lớp 10 và thi đại học, không biết rồi sẽ ra sao đây? Một buổi chiều tôi ra ngồi
câu cá ở ao sau vườn, nhìn bầu trời trong xanh phản chiếu xuống mặt ao, lại
nhớ hơn 4 năm về trước, từ chỗ này tôi đã quan sát cảnh máy bay Mỹ lao vào
ném bom Hà Nội. Khi bay vào thì hùng hổ, hàng ngũ chỉnh tề; khi quay ra thì
tán loạn, cái lao lên cái nhào xuống, lăn lộn cố thoát khỏi lưới lửa phòng
không nhiều tầng nhiều lớp. Khẩu thượng liên 12ly7 trên cổng làng Giang Xá
cũng nổ từng loạt giòn giã, xen lẫn những tiếng bì bọp của súng trường dân
quân. Đang mơ màng hồi tưởng thì chợt thấy phao nhấp nháy rồi bềnh lên, tôi
vội giật cần. Một chú trắm đen bằng cổ tay bị lôi lên bờ, giãy đành đạch và
phát ra những tiếng kêu chít chít nghe rất lạ. Chợt Huệ, cô bạn học cùng lớp
sơ tán hồi trước, sang chơi. Huệ người làng này, là em của Giang, người bạn
thân nhất của tôi thời sơ tán, tuy là hai anh em nhưng lại học cùng một lớp
với tôi. Từ hôm về đây tôi chưa tới thăm bạn cũ nào cả. Huệ cho biết Giang
đã nhập ngũ được mấy tháng, thanh niên làng này đã đi bộ đội vãn cả, ở làng
hầu như chỉ còn phụ nữ, trẻ con và người già. Ai ngờ đó là lần cuối cùng tôi
biết tin Giang, hai mươi mấy năm sau mới có dịp lần hỏi tin tức, thì được biết
Giang đã hy sinh ở chiến trường B5 rồi. Dạo này tình hình chiến sự ở Miền
Nam đang cực kỳ sôi động. Từ cuối tháng 03-1972 quân ta đã đồng loạt mở
các cuộc tấn công lớn ở 3 mặt trận Quảng Trị, Bắc Tây Nguyên và Lộc Ninh
- Đông Nam Bộ.
Hàng ngày chiếc loa phóng thanh trên nóc đình làng vẫn vang lên những
tin thắng trận liên tiếp. Đặc biệt ấn tượng là tin cả một trung đoàn quân ngụy
do Trung tá Đính cầm đầu ra hàng Quân Giải phóng (1). Kiểu này thì chắc
sắp giải phóng Miền Nam đến nơi rồi. Tuy nhiên buổi tối trước hôm đi sơ tán
tôi có bật Radio nghe trộm đài Gươm thiêng ái quốc của Sài Gòn, thì thấy nói
“xác của hàng ngàn thiếu niên Bắc Việt đang rải khắp các chiến trường Miền
Nam trong cuộc tấn công này”.
------------(1) Về chuyện đầu hàng của trung đoàn này, lịch sử chép như sau: 10 giờ
55 phút, ngày 30-3-1972, từ Sở chỉ huy Bộ Chỉ huy chiến dịch, Tư lệnh mặt
trận Lê Trọng Tấn phát lệnh "Bão táp", mở màn chiến dịch tấn công giải
phóng Quảng Trị. Trung đoàn pháo binh Bông Lau (Trung đoàn 38) do Cao
Sơn làm Trung đoàn trưởng và Trần Thông làm Trung đoàn phó được giao
nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn 304, tấn công ở hướng chủ yếu, theo đường
số 9 từ hướng Tây xuống Đông Hà. Mục tiêu đầu tiên là đánh cụm cứ điểm
kiên cố do Trung đoàn pháo binh 56 ngụy chốt giữ. Phía địch gọi là căn cứ
Carroll (Cà - ròn), phía ta gọi là cao điểm 241. Trung đoàn này doTrung tá
Phạm Văn Đính quê Thừa Thiên làm Trung đoàn trưởng. Trước tình trạng cá
nằm trên thớt, Đính liên lạc yêu cầu thương lượng nhưng ta không đồng ý,
chỉ chấp nhận đầu hàng. Đính triệu tập các sĩ quan và thông báo ý định đầu
hàng Quân Giải phóng. Hầu hết các sĩ quan đồng ý với quyết định này trừ
Thiếu tá Tôn Thất Mãn. Trong vụ đầu hàng này có hai chi tiết thể hiện sự
nhân đạo của Quân Giải phóng: Một là, khi binh lính kéo cờ trắng đầu hàng
ra tập hơp trước sân thì có hai trực thăng Mỹ đến bốc hai cố vấn Mỹ là Thiếu
tá Joseph Brown và Trung tá William Camper. Mặc dù ở trong tầm hỏa lực
của ta nhưng Sư trưởng Hoàng Đan đã không cho bắn để khỏi giết hại binh
lính đầu hàng. Hai là, dù bị bức hàng, dù để cố vấn Mỹ trốn thoát, Phạm Văn
Đính và binh lính Trung đoàn 56 vẫn được giữ nguyên quân hàm khi theo
Quân Giải phóng và được bố trí công việc thích hợp (BT).
Ở nơi sơ tán được gần 1 tuần, bỗng một buổi sáng, Tiến Dũng, người bạn
cùng lớp thân thiết nhất của tôi tìm tới. Tiến Dũng thông báo rằng tôi đã có
giấy gọi nhập ngũ, và bố mẹ tôi nhờ Tiến Dũng vào báo tin cho hộ. Tôi vội
vàng thu dọn đồ đạc trở về ngay Hà Nội. Trong giấy có nói 9h sáng ngày 2704-1972 tôi phải có mặt ở Tây Tựu, huyện Từ Liêm để nhập ngũ. Như vậy là
chỉ còn vài ngày nữa thôi. Thực sự hồi đó tôi cũng hơi bị bất ngờ. Cho đến
những ngày đó, chiến tranh đối với tôi dường như là sự việc của những người
khác, ở một nơi nào đó xa lắc, và chỉ tồn tại trong những bản tin của báo, đài.
Hơn nữa tôi chưa tròn 18 tuổi, là một trong những học sinh giỏi nhất trường.
Những học sinh như vậy sau khi tốt nghiệp lớp 10 thường được các trường
đại học của Quân đội hoặc Công an đến chiêu sinh, hoặc được các Binh
chủng kỹ thuật như Không quân, tên lửa, xe tăng, pháo binh đến thu nạp, chứ
ít khi phải đi lính trơn “Bò binh” như thế này. Tôi tranh thủ lên thăm gia đình
cô An ở Nông trường Tam Đảo một ngày. Những ngày còn lại lo mua sắm
vài vật dụng cần thiết, và cùng gia đình đi chụp ảnh kỷ niệm. Những bức ảnh
chụp đại gia đình hồi đó, gồm bố mẹ tôi, hai em Hà, Hiển cùng bà nội, bà
ngoại vẫn còn đến ngày nay. Nhìn nét mặt người nào cũng đượm vẻ lo âu và
buồn rười rượi. Buổi sáng ngày 27-04-1972 cả gia đình đưa tiễn tôi đến nơi
tập trung tại xã Tây Tựu, ngoại thành Hà Nội. Đến nơi đã thấy rất đông
người.
Cùng lớp tôi có các bạn Chí Thành, Lê Thanh Bình, Phổ Thọ. Bạn Tiến
Dũng chạy theo chúng tôi suốt, và rất muốn đi cùng cho vui, nhưng bạn ấy
không có giấy gọi mà cũng không có tên trong danh sách. Sau này tôi nghĩ
chắc người họ hàng làm trên Khu đội đã ỉm giấy của bạn ấy đi. Nhà tôi gần
nhà Quang Vinh nên mẹ bạn ấy bắt hai đứa phải khoác chặt tay nhau để
“cùng đi cùng ở”. Tôi còn nhận ra một số khuôn mặt quen thuộc hoặc ở cùng
Khu tập thể như Mai Quý Cường, Dũng “Patinhom”, Vân số 6, Bình “Cống”,
Châm “thối tai”, Ngô Duy Minh, Bùi Ngọc Toàn 10A….
Có một tay đeo xắc-cốt lụng thụng, đi lại bắng nhắng, làm bộ phỏng vấn
mọi người, nói nhiều câu đao to búa lớn, có biệt danh là Nhuận “nhà báo”.
Không ngờ sau này hắn là một trong những tên đảo ngũ đầu tiên. Sau khi
nhận quân trang gồm quần áo, mũ dép, chăn màn, bi-đông… tôi được phân
về Tiểu đội 3, Trung đội 1, C49, D58, E59 Bộ Tư lệnh Thủ đô. Tiểu đội
trưởng Thành 19 tuổi, nhập ngũ trước chúng tôi một năm, mới đi học A
trưởng về, mặc bộ quân phục bạc phếch, hay cười khoe chiếc răng khểnh, và
tỏ ra rất thân thiện với tôi. Buổi tối đầu tiên trong đời bộ đội, toàn Trung đội
tập hợp ở sân đình, nghe Quyền Trung đội trưởng Nghĩa huấn thị. Anh Nghĩa
23 tuổi, là người vui tính thích thơ ca hò vè, nhưng cũng rất nghiêm, làm
chúng tôi nể sợ răm rắp. Anh bắt nhịp cho chúng tôi đồng ca bài “Vì nhân
dân quên mình”, rồi đọc một bài vè rất ngộ về lính mới ở Bãi Nai, Hòa Bình
làm mọi người cười vui vẻ. Tôi được chỉ định làm A phó A3.
Sáng hôm sau cả lũ kéo nhau ra giếng ao gần đó đánh răng rửa mặt, tôi
gặp Lục Thế Bảo và Định, tán gẫu vài câu, rồi mỗi đứa được phát một cái
bánh mì để ăn sáng. Đúng 7h30 Đại đội tập hợp điểm danh, phổ biến lệnh
hành quân, sau đó theo đội hình hàng dọc lên đường. Sau khoảng hai tiếng
đồng hồ, tự nhiên tôi thấy mình đang đi trên bờ một con kênh quen quen,
giống như con kênh ở gần làng Giang Xá. Tôi nghĩ bụng chắc sắp đi qua
làng, biết đâu gặp được vài người quen nào đó. Nhưng không, đi một lúc nữa
thì thấy mình đang ở vùng Sấu Giá rợp bóng dừa xanh, với những người dân
nói tiếng trọ trẹ rất khó nghe. Ngày hôm sau, khi đã tối mịt một lúc lâu thì
chúng tôi mới tới nơi. Đó là một sườn đồi thoai thoải trong vùng rừng núi Bãi
Nai, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Một lô nhà lán lợp nứa đứng xiêu vẹo.
Chúng tôi chia nhau mỗi tiểu đội vào một nhà, đứa nào cũng mệt rũ. Tôi lần
mò lấy ra gói sữa bột, hòa vào bát nước chè để uống, rồi rải chiếu ra nằm ngủ
như chết.
QUẢNG TRỊ 1972
Nguyễn Quang Vinh
www.dtv-ebook.com
Phần Thứ Nhất: Đường Vào Quảng Trị - Huấn Luyện Tân Binh
Sáng hôm sau nghe phổ biến nhiệm vụ: các Tiểu đội chia thành tổ Tam
tam vào rừng đẵn gỗ nứa về làm nhà. Tổ Tam tam của tôi ngoài tôi làm tổ
trưởng còn có Mai Quý Cường và Tôn, đều to cao như phi công cả. Chỉ tiêu
ngày đầu mỗi người một cây gỗ bằng bắp chân, những ngày sau mỗi người
20 cây nứa. Chúng tôi phải leo những con dốc dựng đứng, đi rất sâu vào rừng
mới tới nơi nứa mọc. Trai Hà Nội lần đầu thấy những con vắt nâu đen, đứng
trên những chiếc lá, quơ quơ cái vòi đánh hơi, thấy người đi qua thì nhảy tanh
tách đeo bám. Thấy những vạt rừng thưa có những cây bưởi dại, cây sung,
cây vả quả đeo lúc lỉu và cây dương xỉ đầy lông tơ vàng. Tôi chưa có kinh
nghiệm chặt nứa nên bị 1 cây xiên xuống trúng mu bàn chân trái, mấy hôm
sau mưng mủ, đau nhức. Bắp chân nổi hạch, sưng to, nhưng tôi vẫn cố gắng
cà nhắc đi làm, nên được Đại đội biểu dương. Sau hơn một tuần thì nơi ăn
chốn ở đã ổn định. Mỗi tiểu đội ở một nhà lợp nứa, vách nứa, và có một chiếc
giường tập thể lát nứa chạy dọc căn nhà. Ngoài ra chúng tôi còn làm một hội
trường lớn, một nhà ăn tập thể và một khu bếp cạnh suối. Sau đó chúng tôi đi
nhận vũ khí, chủ yếu là AK47 và K63 (súng trường Trung Quốc) có gắn lưỡi
lê. Tôi được nhận một khẩu AK Ba Lan có tay nắm phụ ở ốp phía trên và một
bao xe 3 băng đạn trước bụng. Mỗi người còn phải đeo hai quả lựu đạn tập và
tự làm vòng tre để cắm lá ngụy trang sau lưng. Tôi đươc thuyên chuyển sang
Trung đội 2 làm A phó A4. Ở Trung đội này tôi gặp lại bạn thân Chí Thành
và Ngô Duy Minh.
Mỗi buổi sáng sau kẻng báo thức, chúng tôi xuống suối đánh răng rửa
mặt, làm vệ sinh cá nhân rồi tập thể dục theo Trung đội. Sau đó xuống nhà ăn
ăn sáng, chủ yếu là bánh đúc ngô hoặc bột mì luộc, rồi ra thao trường tập
luyện. Đến 11h về nghỉ ăn trưa, cơm độn ngô với bí đỏ xào, hoặc măng nứa
xào, hoặc rau muống luộc, thỉnh thoảng mới có chút thịt. Có một tiểu đội “chị
nuôi” ở khu nhà bếp gồm các cô gái 18-20 tuổi, thỉnh thoảng thấy mấy vị cán
bộ Đại đội, Trung đội xuống tán tỉnh. Buổi chiều lại tiếp tục ra thao trường.
Sau bữa tối toàn đại đội tập hợp, sinh hoạt tập thể như nghe đọc báo, văn
nghệ cây nhà lá vườn hoặc nghe một vài cá nhân kể chuyện bản thân. 21h
kẻng tắt đèn đi ngủ. Các tiểu đội đều có lịch gác đêm. Mỗi lần đến lượt tôi
đều chọn một khẩu K63 gắn lưỡi lê, vừa gác vừa tập mấy bài cận chiến bằng
lưỡi lê và báng súng. Các bài huấn luyện cứ phức tạp dần, từ xếp đội hình đội
ngũ, lăn lê bò toài, kỹ thuật xạ kích, ném lựu đạn, đánh bộc phá…đến kỹ
thuật ngụy trang, chiến thuật Tiểu đội, Trung đội giữ chốt…Tóm lại là ngày
nào cũng mệt nhoài, nhưng tinh thần chúng tôi rất hăng hái. Có những hôm
trên đường đi tập về, nghe mấy cậu lính gốc gia đình buôn bán thất thểu vừa
đi vừa rên rỉ mấy câu nhạc vàng: “Ngày mai anh đi/ Lòng xao xuyến xa nơi
Hà thành/ Đời lính chiến không mong ngày về/ Héo mòn cả tuổi xanh…”
hoặc “Mai mốt anh trở về/ Anh kéo lê chân què/ Cuộc đời anh sẽ bò lê/ Cuộc
đời anh sẽ bò lê…” là chúng tôi phản ứng dữ dội. Khi nghe một cậu hát “Yêu
anh không phải vì đẹp trai, không phải vì sang giầu, mà cùng chung chí
hướng…” tôi quặc luôn: “Chí hướng gì? Chí hướng Bắc tiến diệt Cộng hả?”
làm cậu ta tịt ngóm. Đặc biệt là mỗi tuần có hai buổi tập hành quân mang vác
nặng. Anh nào cũng phải lèn gạch đá vào ba-lô cho đủ 30kg, mang súng và
tất cả trang bị trên người. Quãng đường hành quân càng ngày càng dài, lên
núi xuống đèo, băng qua đồng ruộng, sông suối…Nhiều cậu mồ hôi ra như
tắm, tôi thì lại không ra mồ hôi mấy. Buổi trưa trời nắng chang chang, khát
khô cổ, chúng tôi vục cả nước ruộng để uống, mà không thấy đau bụng gì.
Tuy nhiên tôi có cậu bạn nhà ở số 10 Đoàn Trần Nghiệp, một hôm vì quá
khát nên uống nước ở một mương nhỏ. Sau đó bị đau bụng khủng khiếp, kêu
khóc vật vã, mắt vàng da vàng, phải đưa đi Trạm xá cấp cứu, nghe nói bị
xoắn trùng. Có những buổi tập hành quân đêm trời tối đen như mực, người đi
sau phải bám vai người đi trước, thế mà vẫn có cậu thụt xuống hố nước. Dần
dần những địa danh Dốc Cun, Suối Mon, Bãi Nai… trở thành rất quen thuộc.
Ở Bãi Nai được khoảng ba tuần thì một buổi sáng chủ nhật gia đình tôi,
gồm bà nội, mẹ tôi và hai em Hà, Hiển lên thăm. Tôi được Trực ban Đại đội
gọi ra Trạm đón tiếp cách doanh trại khoảng 200m để gặp gia đình. Tới nơi
đã thấy nhiều người lố nhố, mỗi chỗ có một anh lính mới với người nhà ngồi
vây quanh, chuyện trò rôm rả. Gặp lại tôi cả nhà mừng rỡ, đặc biệt là bà nội
và mẹ tôi, những người có tình thương con cháu vô biên, gần như mù quáng.
Những anh lính mới như tôi được gia đình mang đủ thứ lên tiếp tế, nào là xôi
chả, thịt gà, thịt lợn, ruốc thịt, bánh dày, bánh giò… thứ ép ăn tại chỗ, thứ cho
vào bao để cất ăn dần. Mẹ tôi kể chuyến này cùng đi còn có mẹ Chí Thành và
mẹ Phổ Thọ. Phổ Thọ gốc Miền Nam tập kết, mẹ Phổ Thọ là Bác sĩ Bệnh
viện Việt Xô, thương con thì thôi rồi. Bà mang đòn gánh trên vai, một đầu
treo hai cái bánh tét, đầu kia treo một con vịt, tính lên đến nơi sẽ làm thịt cho
thằng Hai (Phổ Thọ) ăn. Ai ngờ khi lội qua Suối Mon, nước lên đến bụng, bà
bị trượt ngã, con vịt bơi theo dòng nước đi mất. Nói chung tôi biết các gia
đình đều phải tằn tiện chắt bóp để tiếp tế cho chúng tôi, vì tiêu chuẩn thực
phẩm tem phiếu thời chiến chẳng dư dả gì. Ngồi bên cạnh gia đình tôi là gia
đình Mai Quý Cường, bạn cùng khu tập thể Nguyễn Công Trứ. Mẹ bạn ấy
làm ở Quầy đổi bánh mì (thuộc ngành lương thực - đổi bánh mì thu tem gạo)
nên tôi rất quen mặt. Cường có cô người yêu mũm mĩm, nghe nói là nhân
viên bán hàng ở phố Huế, đang ngồi đút cho Cường ăn từng miếng xôi chả
rất tình tứ. Tôi tranh thủ đưa em Hiển, em út của gia đình, vào thăm chỗ
chúng tôi ăn ở. Hiển hồi đó 11 tuổi, có khuôn mặt bầu bĩnh, được tôi khoác
khẩu AK vào cổ, đi đi lại lại, lấy làm khoái chí lắm. Sau khi tiễn gia đình về,
trên đường trở vào doanh trại, tôi đi cạnh Hoàng Hữu Hạnh. Mỗi đứa đều ôm
một bọc tiếp tế trước bụng, tôi nhìn sang thấy Hạnh đang ngân ngấn nước
mắt (Sau này Hạnh hy sinh ở chốt Làng 8, Thanh hội)...
Những tối thứ bảy, chủ nhật, thường được nghỉ sinh hoạt, chúng tôi hay ra
bản người Mường gần đó chơi. Nhiều cậu có tiền thì trèo lên những ngôi nhà
sàn, mua rượu sắn ngồi uống, hoặc tán tỉnh trêu đùa các cô gái Mường.
Người Mường rất hiền lành, thật thà, các cô gái hay mặc váy đen, áo trắng
dài tay nhưng vạt ngắn cũn cỡn. Khi bị chúng tôi buông lời trêu ghẹo “Ủn ơi,
ché Ủn có to không?” (Em ơi, l. em có to không?) là các cô thẹn đỏ mặt bỏ
chạy hết. Nhiều cậu khác hoặc không có tiền, hoặc không muốn ra ngoài
chơi, thì túm tụm đánh bài Tiến lên. Có hôm, tôi cũng ngồi đánh bài cho vui,
lúc tàn cuộc, quờ chân xuống giường tìm dép, thì đôi dép đúc Trung quốc
được cấp phát đã không cánh mà bay. Chắc bị thằng nào ăn cắp đi đổi rượu
uống rồi. Báo hại tôi phải báo về gia đình, nhờ ra Chợ Giời (1) mua cho đôi
khác gửi lên. Tôi có thói quen ngày nào cũng viết nhật ký, rồi đem cái kèn
Harmonica thổi những bài tôi yêuthích. Người bạn nằm cạnh tôi cũng hay
viết nhật ký, nhưng bằng tiếng Nga. Đó là anh Toàn già, người thấp bé, hơn
chúng tôi chừng dăm tuổi, để ria mép, khuôn mặt lúc nào cũng rầu rĩ. Anh kể
anh đã đi học nghề ở Nga ba năm về, giờ lại bị bắt đi lính, nên rất bất mãn.
Anh thường cáo bệnh nằm nhà, không đi tập luyện. Hình như về sau anh
được loại ngũ, đúng như mong muốn.
------------(1) Chợ Giời (Trời), hay còn có tên là Chợ Hòa Bình, một chợ rất nổi
tiếng ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, họp ngoài trời từ năm 1954 ở các phố
Thịnh Yên, Chùa Vua, Lê Gia Định, Trần Cao Vân, Nguyễn Công Trứ, Yên
Bái 2, Đỗ Ngọc Du. Chợ Giời nổi tiếng vì có bán đủ mọi thứ trên đời, kể cả
hàng đặc dụng, hàng cấm (BT).
Từ hồi còn đi học tôi đã luôn nghiêm chỉnh gương mẫu trong mọi việc.
Mười năm liền là lớp trưởng, luôn đứng đầu lớp, nhiều lần đoạt giải trong các
cuộc thi học sinh giỏi, làm Đội trưởng Đội Cờ đỏ của trường… Tôi thường
tâm niệm: đã là học sinh phải học thật giỏi, là công nhân phải sản xuất tốt, là
người lính phải chiến đấu dũng cảm. Tuy nhiên cái nhìn và cách hành xử
thẳng băng như vậy trong cuộc đời thường gặp phải nhiều chống đối, đặc biệt
từ phía những kẻ xuất thân buôn bán, thành phần bất hảo, lưu manh đường
phố, vì nhiều đứa như vậy cũng được gọi nhập ngũ đợt này.
Chúng cho tôi là một tên “Bôn sệt”, và nhiều khi tỏ ra khó chịu, khi bị tôi
với tư cách A phó nhắc nhở chấp hành nghiêm kỷ luật. Thậm chí có tên còn
dọa sẽ “trùm chăn đánh hội đồng” tôi. Nhưng sau lưng tôi luôn có nhiều
người bạn chí cốt ủng hộ, đặc biệt là anh Long “cồ”. Anh người to cao như
gấu, khuôn mặt bèn bẹt có cái mũi sư tử trông rất ngầu. Anh thường rủ tôi lên
đồi tập võ Tàu, và lớn tiếng tuyên bố: “Tao với thằng Vinh là anh em kết
nghĩa, đứa nào đụng đến nó nghĩa là đụng đến tao, tao sẽ cho ăn quết trầu bét
nhè”. Thế là chả đứa nào dám đụng đến tôi cả. Tôi cũng rút ra được phương
châm hành xử trong đời lính, là luôn phải “Khôn ngoan đứng đắn/ Thân mật
tươi cười/ Nắm được lòng người/ Kịp thời cương quyết”.
Anh bạn Chí Thành của tôi ở A5 cùng nhiều bạn học sinh khác cũng phải
chịu cảnh tương tự. Anh bị mấy tên bất hảo ở A5 đe dọa, ton hót nhiều
chuyện bịa đặt với A trưởng để cô lập anh. Anh rất buồn và thường gặp tôi để
tâm sự. Tình hình A6 cũng chẳng khá hơn. Tôi vẫn nhớ cậu Khánh ở Vân Hồ,
người thư sinh mảnh dẻ, có khuôn mặt như con gái, bị lão Lân A trưởng A6
rất ghét, hay kiếm cớ chửi mắng, nhiều hôm bị lão phạt quỳ ở ngoài sân. A6
còn có cậu Lâm Thành, thuộc loại thấp bé nhẹ cân, nhưng lại hay bị sai đi
khiêng thực phẩm.
Hòa Bình là tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô, nên thỉnh
thoảng thấy máy bay Mỹ đi tập kích Hà Nội bay qua. Có những hôm thấy
những sợi giấy bạc lấp lánh mỏng manh bay trắng trời, rơi phủ đầy cây cối và
mặt đất, về sau tôi mới biết đó là do máy bay Mỹ thả nhiễu thụ động để
chống Ra-đa phòng không.
Tình hình chiến sự ở Miền Nam ngày càng căng thẳng. Ngày 01-05-1972
báo đài đồng loạt đưa tin giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, nhưng sau đó
phía đối phương liên tục phản kích trên các mặt trận. Nhu cầu bổ sung sức
người sức của cho tiền phương là rất lớn.
Chúng tôi đã bắt đầu bước vào giai đoạn huấn luyện nước rút, gồm bắn
đạn thật, ném lựu đạn thật, đánh bộc phá thật. Những buổi học về kỹ thuật xạ
kích ở hội trường do Đại đội trưởng Mạnh lên lớp rất tẻ nhạt. Trung úy Mạnh
gốc người dân tộc Tày thì phải, trình độ văn hóa không cao, nên nói năng có
phần lúng túng. Tôi nhớ mãi câu “từ từ lổ cò, từ từ lổ cò” của anh khi hướng
dẫn bắn súng. Ngược lại, anh Hồng, Chính trị viên đại đội, ăn nói rất lưu loát.
Các buổi học tập chính trị, anh hăng...
 





