Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Phep La Cua Su Tinh Thuc Thich Nhat Hanh.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:56' 05-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:56' 05-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hơi thở của Zoe
Thiều ơi,
Ngày hôm qua Steve tới thăm với chú bé Mickey 7 tuổi. Gớm, thằng
bé lớn mau quá đi thôi và nghịch ghê. Nó nói giỏi cả tiếng Pháp lẫn
tiếng Anh. Nó còn nói được tiếng lóng học ở ngoài đường nữa. Trẻ
con bên này được nuôi dạy khác với lối nuôi dạy trẻ con bên mình.
Cha mẹ chúng để chúng "tự do phát triển". Suốt hai giờ ngồi nói
chuyện, Steve phải để ý tới thằng bé. Nó chơi, nó nghịch, nó xen vào
cả câu chuyện của người lớn. Nó làm cho người lớn không nói
chuyện với nhau được. Tôi đưa cho nó mấy quyển sách hình của trẻ
con, nhưng nó chỉ lật xem sơ sơ rồi lại bỏ sách, xen vào giữa tôi và
ba nó. Nó đòi sự chú ý của thế giới người lớn.
Sau đó nó ra ngoài sân chơi với một đứa trẻ con Tây hàng xóm. Tôi
mới hỏi Steve đời sống gia đình có dễ chịu không? Steve không có
câu trả lời dứt khoát. Năm ngoái hai vợ chồng và thằng bé đi
Indonesia trong một chuyến du khảo và ở lại đấy một năm. Đi ba
người, về bốn người. Họ mới trở lại Paris tháng trước.
Marie là một họa sĩ, Steve nói từ khi sanh Zoe, Marie buông bút
không vẽ nữa. Tất cả thì giờ, cuộc sống, thân mạng là để dành cho
cô bé mới ra đời. Marie cũng ít nói đến Mickey nữa. "Không phải là
Marie không thương Mickey" Steve nói "Nó thương thằng bé lắm,
nhưng hiện giờ nó chỉ sống cho Zoe. Chừng một năm nữa tôi biết nó
sẽ cầm bút trở lại và xem Zoe ngang hàng với Mickey".
Steve nói mấy tuần nay, ít khi Steve ngủ được một giấc dài. “Trong
đêm, Marie cứ thức dậy, giựt mình và vì mệt quá nó bảo tôi trở dậy
xem bé Zoe còn thở không. Tôi chiều Marie, trở chừng em bé rồi lại
trở về ngủ lại. Có lần mệt quá tôi nói: thì mới một giờ trước đây nó
đang thở mà, không lý gì bây giờ nó hết thở. Marie năn nỉ, tôi lại
chiều lòng, có khi bực quá, tôi không chịu trở dậy, và Marie phải trở
dậy. Có đêm chuyện đó xảy ra tới hai lần”.
ố
ễ
ố
Đời sống gia đình có dễ chịu hơn đời sống độc thân không? Steve
không có câu trả lời dứt khoát. Nhiều người nói: "Có đời sống gia
đình thì cuộc sống ổn định hơn, thăng bằng hơn. Steve không nói
điều đó đúng mà cũng không nói điều đó sai. Anh ta chỉ ậm ừ, nhưng
mà tôi hiểu. Steve nói "Tôi mới tìm ra một cách để có thật nhiều thì
giờ", Tôi hỏi: "Cách gì?", Steve nói: "Trước kia tôi thường chia thời
giờ của tôi ra làm nhiều phần, một phần tôi dành cho Mickey, học bài
với nó, đọc truyện cho nó, tắm rửa nó. Một phần tôi dành cho Marie,
giúp nàng trong việc lo lắng cho Zoe, đi chợ cho nàng, mang quần áo
và tã đi tiệm giặt, nói chuyện với nàng khi mấy đứa nhỏ đã đi ngủ.
Ngoài những thì giờ dành cho 2 người (Tôi xem Marie và Zoe là 1
người. Bởi vì hơi thở của Zoe cũng là hơi thở của Marie. Nếu một
bên không thở được thì bên kia cũng bị ngạt hơi), tôi còn có thì giờ
dành cho riêng tôi. Tôi đọc, viết khảo cứu, đi bách bộ, còn thì giờ đi
làm kiếm ăn ở Sở thì khác. Đó là thì giờ của Sở".
"Nhưng bây giờ tôi không còn phân chia thời giờ như vậy nữa. Tôi
lấy luôn thời giờ của Marie và của Mickey làm thời giờ của tôi. Khi tôi
học bài chung với Mickey, tôi không còn có ý niệm: đây là thời giờ
của tôi dành cho Mickey, sau khi xong việc này tôi mới thật có thời
giờ cho tôi. Trái lại, tôi tìm cách sống cho tôi trong khi học bài với
Mickey, tôi chia sẻ sự có mặt của nó. Tôi tìm được hứng thú trong khi
học bài với nó và như thế là thời giờ cho nó trở thành thì giờ của tôi.
Đối với Marie cũng vậy, bất ngờ, tự nhiên tôi có vô khối thì giờ cho
tôi".
Steve vừa nói vừa cười. Tôi thì ngạc nhiên. A! Cái anh chàng này
khôn nhỉ! Điều này đâu phải anh ta nhờ đọc sách mà biết. Điều này
là điều anh ta tự tìm ra trong đời sống hàng ngày.
Mấy tháng nay tôi giảng kinh quán niệm mỗi chiều thứ bảy. Và sau
khi giảng, những người trẻ đặt các câu hỏi về những phương thức
áp dụng các nguyên tắc nêu ra trong kinh này về đời sống hàng
ngày. Chúng tôi cùng bàn luận về phương cách dùng thì giờ... Điều
làm tôi ngạc nhiên là tuy Steve chưa dự buổi giảng nào về kinh quán
niệm trong mấy tháng qua, Steve cũng đã đi tới một nhận xét mà vài
ổ
ế
anh chị đã nêu ra trong các buổi thảo luận. Khả năng tiếng Việt của
anh chàng còn yếu khiến chúng tôi không mời tham dự buổi giảng
kinh và đàm luận.
Nguyên tắc rửa bát để mà rửa bát
Thứ bảy tuần rồi, tôi có đem chuyện Steve kể lại cho những người
tham dự buổi giảng kinh, có một anh nói: "Steve đã tìm ra nguyên tắc
nhưng chưa tìm ra phương pháp. Tôi nói: "Tìm ra nguyên tắc được
thì cũng tìm ra phương pháp được". Nếu Steve tìm được hứng thú
trong lúc học bài với Mickey thì tức là Steve áp dụng hữu hiệu một
vài phương pháp nào đó mà Steve đã tự tìm ra một mình. Đâu có
phải chỉ có kinh quán niệm mới cung cấp được cho mình những
phương pháp. Steve tuy có học Phật và đọc được Sanscrit, nhưng
Steve không phải là người đã qui y. Nhưng không ai cấm người
không Phật tử thực hành những phương pháp Phật Giáo, với lại
phương pháp Phật giáo không phải là những phương pháp duy nhất.
Lại còn điều này nữa, không phải chỉ những Phật tử mới tìm ra
phương pháp Phật Giáo. Đức Thích Ca Mâu Ni, các bậc Duyên Giác
và Bích Chi Phật cũng đâu có là Phật tử trước khi tìm được con
đường và những phương pháp đạt đạo, phải không?
Một chị nói: "Thế thì một hôm nào đó, mình sẽ mời Steve tới nói về
kinh nghiệm của Steve cho mình nghe, mình có thể học hỏi những
kinh nghiệm của Steve. Tôi nghĩ khi chị ấy nói như thế, chị xác nhận
một điều quan trọng: người Phật tử không nắm hết chân lý, người
Phật tử có thể học được kinh nghiệm của những người không phải
Phật tử và quan hệ hơn nữa, người Phật tử có thể học hỏi Phật pháp
với những người không Phật. Tôi nhớ lại câu nói quen thuộc trong
Phật Giáo Đại Thừa: "Phật Pháp tức là thế gian pháp". (Phương
pháp của Phật cũng là phương pháp của cuộc sống) và "Phật pháp
tại thế gian, bất ly thế gian giác" (Phương pháp của Phật áp dụng
trong cuộc sống không thể tách ra ngoài sự thức tỉnh của cuộc sống).
Vậy ta có thể nói: Phương pháp của kinh quán niệm cũng dính líu tới
sự thức tỉnh của Steve phải không?
Nhưng mà Steve cũng cô thể áp dụng những phương pháp dạy
trong kinh quán niệm, nếu Steve muốn, chắc đâu là những phương
pháp mà Steve tìm ra đã đủ để đưa Steve tới chỗ thành công hoàn
ỗ
ầ
ể
toàn. Mỗi đêm mà phải thức dậy chừng mười lần để xem thử bé Zoe
còn thở không, điều đó cũng hơi làm mình bực mình đấy chứ. Nhiều
người mới nghe đã có thề gắt lên rồi, huống hồ là tự họ phải làm như
Steve. Biết đâu trong kinh quán niệm lại chẳng có phương pháp giúp
Steve xem thì giờ ngủ và thì giờ dậy của bé Zoe là một.
Các tác viên Xã Hội của trường chắc hẳn cũng muốn biết xem thành
quả của Steve đạt được lớn lao tới chừng nào, có phải không? Có
tác viên nào mà lại chẳng thấy thời giờ dành riêng cho mình quá ít ỏi.
Tôi cũng là một loại tác viên. Thiều cũng là một loại tác viên. Chúng
mình cùng muốn biết làm thế nào Steve đã giật được vô khối thì giờ
cho Steve. Steve đã đạt được "vô khối thì giờ" thật chưa! Hay chỉ
mới đạt trên nguyên tắc?
Bên Mỹ có một anh chàng rất thân với tôi. Tên anh là Jim Forest. Anh
ta ở trong tổ chức Catholic Peace Fellowship. Ngày xưa anh ta đã
đốt thẻ trưng binh chống chiến tranh và đi ở tù hơn 1 năm. Hồi đó,
nghe anh ta ở tù, tôi hơi ngại, bởi tánh anh ta rất hoạt động, nôn nóng
muốn hành động, sợ không kham nổi sự tù túng trong phòng giam.
Tôi viết cho anh một lá thư rất ngắn rằng: "Hãy nếm trái quýt của anh,
hãy hợp nhất với trái quýt của anh, bởi vì ngày mai trái quýt ấy không
còn nữa". Tôi không ngờ câu nói của tôi có hiệu quả. Ba năm sau hồi
tưởng lại chuyện ấy, Jim viết: "Câu ấy giúp cho tôi nhiều hơn là thầy
có thể tưởng tượng!" Nhờ câu ấy mà tôi tìm được sự an lạc nơi lao
tù, làm bạn được với lao tù và sống trong lao tù những ngày lợi lạc".
Jim đã tìm được tự do trong lao tù, khôi phục được thì giờ và sự
sống của mình ngay trong lao tù. Jim cũng khá đấy chứ, phải không
Thiều?.
Mùa đông năm kia Jim qua đây chơi. Tôi thường hay rửa bát sau khi
ăn cơm xong trước khi lên ngồi uống trà. Một tối Jim đòi rửa bát. Tôi
nói "Rửa thì rửa nhưng phải biết cách rửa" Jim nói: "Bộ Thầy nói tôi
không biết cách rửa chén hay sao?". Tôi nói: "Có hai cách rửa chén.
Cách thứ nhất là rửa để cho rửa xong, cách thứ hai là rửa không
phải để cho rửa xong". Jim thích quá nói "Tôi sẽ chọn cách thứ hai,
ể
ấ
rửa chỉ để rửa mà thôi". Từ đấy Jim hay giành rửa chén. Tôi giao
"trách nhiệm" cho anh ta trong cả tuần. Sau đó về xứ, anh đã tuyên
truyền "chủ nghĩa rửa chén để mà rửa chén" trong nhiều bài báo.
Anh ta tuyên truyền nhiều quá, ngay cả trong gia đình nữa. Khiến
Laura cười bảo anh "Ở dưới bếp chỉ còn chén bát sạch, nếu anh
thích rửa bát để mà rửa bát quá như vậy thì sao anh không xuống
đem chén bát sạch ra mà rửa lại một lần nữa đi".
Hồi tôi còn làm "Điệu" tại chùa Từ Hiếu, cách đây 30 năm, rửa chén
bát không phải là một việc làm dễ chịu lắm đâu nhé! Vào những mùa
an cư, hai người trực nhật phải nấu cơm và rửa bát có khi cho hơn
100 thầy. Xà phòng không có, chỉ có tro trấu và bẹ dừa mà thôi. Ngồi
trước một đống chén bát lớn như vậy rất nản. Nhất là nhằm mùa
đông phải nấu một nồi nước nóng khá lớn mới rửa được vì nước
lạnh, lạnh buốt. Bây giờ đứng rửa bát trong bếp, có xà phòng nước,
có tissus Metalliques, có nước ấm chảy dưới tay mình, thật là dễ chịu
hơn nhiều quá. Ấy vậy mà ai đã rửa bát ai cũng muốn rửa thật mau
cho xong, để mà lên ngồi chơi, có nhiều bà đòi chồng mua cho được
cái máy rửa chén. Thiều à! Cái máy giặt tôi còn chịu được (Mấy năm
ở ngoại quốc tôi chỉ giặt bằng tay) chứ còn cái máy rửa chén thật
tình tôi không chịu nổi. Các bà ở quê mình sẽ chép miệng “Mèng đéc
ơi, làm biếng đến vậy là cùng...”.
Theo tinh thần của kinh quán niệm thì trong khi rửa bát mình chỉ nên
rửa bát mà thôi: có nghĩa là khi rửa bát mình có ý thức được rằng sự
kiện chính mình đang rửa bát? Mới nghe qua thì thấy buồn cười.
Rửa bát thì có gì hay ho đâu mà tập trung ý lực vào đấy nhiều như
thế. Nhưng quả thực tất cả sự hay ho là nằm chỗ đó nghe Thiều. Sự
kiện tôi đứng đây rửa và rửa những cái bát này là một sự kiện mầu
nhiệm. Tôi hoàn toàn là tôi, làm chủ được hơi thở tôi, ý thức được sự
có mặt, ý thức tâm, ý thức ý và hành động của tôi. Tôi không bị động
trong hoàn cảnh như mộ cái nút chai bị những đợt sóng trên mặt biển
vùi dập và lôi kéo, tâm ý tôi không tán thất trong loạn tưởng như một
mớ bọt biển trên đầu sóng, tan nát thảm thương khi làn sóng đập
đầu vào ghềnh đá.
Làm hòa với múi quýt
Nếu trong lúc rửa bát mà ta chỉ nghĩ tới tách trà, nghĩ tới sự nghỉ
ngơi hay bất cứ một công chuyện nào trong tương lai, và chỉ muốn
cho việc rửa bát qua mau, xem việc rửa bát như một cực hình thì ta
không "rửa bát để mà rửa bát", ta không sống trong thời gian rửa bát,
ta không chứng thật được phép lạ của sự sống trong thời gian rửa
bát.
Không biết rửa bát thì khi cầm tách trà lên, có thể ta cũng không biết
uống trà. Cầm tách trà lên ta có thể chỉ nghĩ đến những chuyện khác
mà không biết là ta đang nâng tách trà trong tay. Cứ như thế, ta bị
thâu hút vào trong tương lai, bị con ma vị lai thâu hút hết hỗn vía, đi
ngang sự sống mà không sống được giây phút nào của sự sống.
Câu chuyện múi quýt của Jim cũng đã xảy ra trong trường hợp này.
Có lần, lâu lắm rồi, Jim ngồi ăn quýt với tôi mà cứ phóng tưởng về
công việc trong tương lai. Hồi ấy mỗi khi nghĩ tới một dự tính nào có
tánh cách hấp dẫn là Jim hoàn toàn bị thu hút vào đó và quên hẳn
thực tại trong hiện tại. Tay Jim bóc vỏ quýt mà miệng Jim như nhai
hết vỏ quýt này tới vỏ quýt nọ. Thế mà Jim đâu có biết mình đang ăn
quýt. Tôi mới nói với chàng ta: "Thì anh hãy ăn múi quýt của anh đi
đã". Jim giật mình thức giấc. Lúc đó anh ta đang ăn hết múi quýt này
đến múi quýt khác, không ngưng. Thế mà tôi lại nhắc anh ta ăn quýt,
làm như anh ta đang không ăn quýt. Mà thực ra anh đâu có đang ăn
quýt. Anh ta đang "ăn" cái dự tính của anh ta mà. Người xưa nói:
"Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ
vị" (Tâm ý không có mặt, thì nhìn mà không thấy, nghe mà không rõ,
ăn mà không biết mùi vị). "Tâm bất tại", tức là sự vắng mặt của ý
thức. Một trái quýt có nhiều múi, ăn được một múi quýt thì có thể ăn
được hết trái quýt, còn nếu một múi mà cũng không ăn được, thì cả
trái quýt cũng không ăn được. Jim là một anh chàng thông minh. Anh
ta dừng tay lại nghe sự có mặt của múi quýt trên lưỡi mình, ăn múi
quýt một cách thật đàng hoàng và gật đầu trước khi đưa tay gỡ một
múi khác. Sau cùng, như Thiều biết, anh ta đã có thể xem lao tù như
một múi quýt và làm hòa bình với múi quýt đó.
ồ
ề
Hồi tôi mới vào thiền viện, cách đây cũng đã trên ba mươi năm, các
thầy trao cho tôi tập 'Tỳ Ni nhật dụng thiết yếu" của Thiền Sư Độc
Thể chùa Bảo Sơn và bảo tôi học thuộc lòng. Đây là một tập sách
mỏng chừng bốn mươi trang thôi, ghi chép những ý tưởng mà Thiền
Sư Độc Thể đã dùng để thắp sáng tâm ý của ông trong mọi cử chỉ,
hành động. Ví dụ khi mới thức giấc vào lúc ban mai, ông cho khởi
dậy ý tưởng này trong trí: “Vừa mới tỉnh giấc, tôi mong cho mọi
người sớm đạt được trạng thái tỉnh thức lớn, hiểu biết thấu suốt
mười phương”. Khi múc nước rửa tay, ông sử dụng ý tưởng này để
tự đưa mình về trạng thái ý thức: “Múc nước rửa tay, tôi mong cho
mọi người có những bàn tay trong sạch để đón nhận lấy chân lý”.
Toàn tập "Tỳ Ni Nhật Dụng thiết yếu" chỉ có những câu như thế. Mục
đích là giúp người hành giả mới vào đạo nắm lấy được tâm ý mình.
Thiền Sư Độc Thể đã giúp cho hành giả mới vào đạo thực hiện
những điều dạy trong kinh quán niệm một cách tương đối dễ dàng.
Mỗi khi mặc áo, rửa chân, đi cầu, trải chiếu, gánh nước, súc miệng...
Người hành giả đều có thể mượn một ý tưởng trong "Tỳ Ni Nhật
Dụng" để nắm bắt tâm ý.
Kinh Quán Niệm nói: "Khi đi hành giả ý thức rằng mình đang đi, khi
dừng ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi ý thức rằng mình đang
ngồi, khi nằm ý thức rằng mình đang nằm, bất cứ thân thể mình đang
được sử dụng trong tư thế nào, hành giả cũng ý thức được tư thế ấy
của thân thể. Cứ như thế hành giả sống trong sự thường trực quán
niệm thân thể... ý thức được những tư thế của thân thể. Tuy vậy vẫn
chưa đủ, Kinh Quán niệm nói ta phải ý thức về mọi hơi thở, mọi động
tác, mọi hiện tượng sinh lý, vật lý, cảm giác và tư duy liên hệ tới bản
thân nữa.
Nhưng quán niệm như thế để làm gì? Thì giờ đâu mà quán niệm?
Một tác viên nếu bỏ cả ngày để làm việc quán niệm thì còn thì giờ
đâu nữa để làm công việc tác động quần chúng trong phạm vi tái
thiết và phát triển xã hội ? Anh chàng Steve của chúng ta làm thế nào
mà có thì giờ để vừa làm việc vừa quán niệm, vừa học bài với
Mickey, vừa đem tã lót của Zoe tới tiệm giặt.
Phép lạ là đi trên mặt đất
Steve nó nói là từ khi biết lấy thì giờ của Mickey và của Marie làm thì
giờ của mình thì chàng ta có "vô khối", nhưng đó có thể là đứng trên
nguyên tắc mà thôi. Bởi vì Steve có thể quên lãng trong khi học bài
với Mickey. Steve có thề quên rằng thì giờ của Mickey cũng là thì giờ
của mình, và như vậy Steve có thể đánh mất thì giờ như chơi. Steve
có thể mong cho thì giờ ấy chóng qua hoặc sinh ra cáu kỉnh vì thì giờ
ấy không thú vị, không phải là thì giờ của mình.
Vì vậy muốn thật sự có vô khối thì giờ (nghĩa là không chỉ trên
nguyên tắc), Steve cần giữ ý thức "Đây là thì giờ của ta" sáng tỏ mãi
trong suốt thời gian học bài với con. Trong khi ấy tâm ý con người
hay buông lung và từ ý tưởng này, tâm ý bắt sang ý tưởng khác như
con vượn chuyền cành. Muốn giữ cho ý thức hiện thực sáng tỏ (từ
đây về sau tôi sẽ dùng danh từ "chánh niệm" để thay thế cho mệnh
đề "ý thức sáng tỏ về hiện thực") thì cần đôi chút luyện tập. Tập luyện
ngay trong đời sống hàng ngày và thực tập trong những buổi Thiền
Quán. Trong khi một tác viên đi bộ trên con đường đất đỏ để tới đầu
làng, anh cũng có thể thực tập quán niệm. Anh đi từng bước vững
chãi trên con đường đất đỏ hai bên có viền cỏ xanh và khởi chánh
niệm trong trí anh, ý thức được là mình đang đi trên con đường đó,
con đường dẫn tới làng. Anh tập trung ý tưởng vào đối tượng quán
chiếu duy nhất ấy. Ta đi trên con đường đầu làng, trời lạnh hoặc trời
mưa. đường khô hay con đường lầy lội. Anh cũng duy trì chánh
niệm. Anh không lập đi lập lại trong trí một cách máy móc "Tôi đang
đi trên con đường đầu làng!". Máy móc là sự ngược lại của chánh
niệm. Có người niệm Phật như một cái máy trong lúc tâm trí đi phiêu
lưu xa thực tại ngoài ngàn dặm. Tôi nghĩ niệm Phật như thế còn tệ
hơn là không niệm Phật. Nếu ta thực sự duy trì được chánh niệm
trong khi ta đang bước trên con đường làng, ta sẽ thấy sự kiện ta
đang bước trên con đường làng là một sự kiện mầu nhiệm. Một niềm
vui nở ra từ tim ta như một đóa hoa và bao trùm lấy thế giới hiện
thực. Tôi ưa đi bộ một mình trên những con đường quê, hai bên có
những bông lúa hay cỏ đại và đặt từng bước chân ý thức trên đất,
ế
biết mình trong hiện tại đang đi trên hành tinh màu xanh kỳ diệu.
Những lúc như thế tôi thấy hiện hữu mầu nhiệm một cách lạ kỳ.
Người ta thường nghĩ rằng đi trên mặt nước hay đi trên than hồng là
thực hành phép lạ. Tôi nghĩ phép lạ không phải là đi trên mặt nước
hay đi trên than hồng mà là đi trên mặt đất.
Hàng ngày ta thực hiện phép lạ mà ta thường không hay biết. Thiều
nhìn thử lại xem trời xanh, mây trắng, lá đục và đôi mắt bé Thi Hải
Thiều Âm đan lay láy. Hai mắt của Hải Thiều cũng là một phép lạ mà
trời kia, mây ấy, lá nọ cũng là phép lạ phải không.
Thiền Sư Độc Thể nói: "Khi ngồi nên ngồi thật ngay thẳng và khởi
niệm". Ngồi đây cũng như ngồi trên pháp tọa Bồ Đề. Pháp Tọa Bồ Đề
là chỗ một Đức Phật đã ngồi mà chứng ngộ. Nếu có hằng hà sa số
Phật tức là đã có sa số người đã giác ngộ, và chỗ bãi cỏ tôi ngồi hôm
trước ấy thế nào cũng có một Đức Phật đã ngồi.
Thi sĩ Nguyễn Công Trứ cũng có ý thức sáng khi ông ngồi xuống một
chỗ ngồi và thấy được rằng ngày xưa, cổ nhân đã từng ngồi trên chỗ
ông đang ngồi, và ngàn muôn năm sau cũng sẽ có người tới ngồi
chỗ ấy.
"Ngã kim nhật tại tọa chi địa
Cổ chi ngân tằng tiên ngã tọa chi
(Ngàn muôn năm âu cũng thế ni
Ai hay hát mà ai hay nghe hát)".
Chỗ ngồi và thời gian trong giờ phút ấy trở thành hợp nhất trong một
hiện tại vĩnh cửu.
Nhưng người tác viên không phải có thì giờ để suốt ngày thong thả
chơi trên những con đường cỏ xanh và ngồi dưới gốc cây. Người tác
viên phải soạn thảo, dự án công tác, bàn bạc với dân làng, giải quyết
trăm vàn khó khăn lao động nơi ruộng vườn, đối phó với cường hào
ác bá. Trong thời gian thực hiện công tác đó. Anh hoặc chị phải để
tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản ứng một cách
ấ
ề ấ
thông minh và hữu hiệu. Tất cả những điều ấy chính là quán niệm.
Thực tập quán cũng là để có thể để hết tâm ý vào công việc, đề cao
cảnh giác và phản ứng thông minh. Trong lúc bàn cãi giải quyết và
đối phó, sự bình tâm và tự chủ là những yếu tố cần thiết để đi tới kết
quả tốt đẹp, anh chị tác viên nào cũng rõ điều ấy. Nếu ta không tự
chủ mà để cho sự nóng giận hoặc đãng trí kéo đi thì hiệu năng của ta
không còn bao lăm nữa.
Quán niệm là một phép lạ mà ta có thề sử dụng để khôi phục và thâu
hồi tự thân. Giả dụ một nhà ảo thuật nào đó đem thân thể ta chia làm
nhiều phần và dặt mỗi phần ở một địa phương khác nhau. Bàn tay
đặt nam, bắp chân đặt ở bắc, cánh tay đặt đông... Rồi dùng phép lạ
hô lên một tiếng. Mỗi phần của thân thể lặp tức liền lại với nhau, để
thân thể ta trở nên toàn vẹn trở lại. Quán niệm cũng thế, đó là phép
lạ để tụ họp trong chớp nhoáng tâm ý phiêu lưu, tản mát khắp chốn
và thực hiện tự tâm toàn vẹn trong giây phút hiện tại của sự sống.
Nắm lấy hơi thở chánh niệm
Như vậy quán niệm vừa là một phương tiện vừa là một cứu cánh,
vừa là nhân, vừa là quả. Khi thực tập quán niệm để luyện định tâm
thì ta gọi quán niệm là nhân. Nhưng quán niệm vốn là sự sống tỉnh
thức (sự có mặt của quán niệm là sự có mặt của sự sống mầu
nhiệm), do đó ta cũng gọi quán niệm là quả. Quán niệm để xua đuổi
quên lãng và phân tán. Quán niệm để thực sự sống từng giây, từng
phút của cuộc sống. Quán niệm để duy trì chánh niệm và duy trì sự
sống.
Người tác viên biết sử dụng hơi thở để duy trì chánh niệm, bởi vì hơi
thở là dụng cụ rất mầu nhiệm để đình chỉ loạn tưởng. Hơi thở là cây
cầu bắt từ bờ sinh lý sang bờ tâm lý, là môi giới giữa thân và tâm.
Mỗi khi chợt nhớ ra rằng tâm ý mình đang phân tán, rong ruổi, người
tác viên nên dùng hơi thở để nắm giữ nó lại. Anh thở vào nhè nhẹ
một hơi thở khá dài và ý thức rằng mình đang thở vào một hơi dài.
Anh lại thở ra một hơi dài, đưa ra ngoài hết không khí trong buồng
phổi anh và ý thức rằng mình đang làm như thế. Kinh quán niệm dạy
về cách nắm lấy hơi thở như sau:
"Hành giả thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào. Người
ấy thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở ra. Thở vào một hơi
dài người ấy ý thức rằng ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi
dài, người ấy ý thức rằng ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một
hơi ngắn, người ấy ý thức là ta đang thở ra một hơi ngắn. Người ấy
tự mình luyện tập như sau: "Tôi có ý thức rõ rệt về trọn cả hơi thở mà
tôi đang thở vào. Tôi có ý thức về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra.
Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên
tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi
trở nên tĩnh lặng".
Trong một tu viện Phật giáo, vị nào cũng được khuyến khích sử dụng
hơi thở để đình chỉ loạn tưởng, tập trung tâm ý và thực hiện định lực.
Định lực là sức mạnh của sự tập trung tâm ý, là năng lực có thể phát
khởi sự tỉnh thức lớn. Nhưng sự tỉnh thức lớn cũng là một sự tỉnh
thức. Khi người tác viên nắm lấy hơi thở mình, anh ấy đã là một
người tỉnh thức rồi. Để duy trì chính niệm lâu dài, ta nên tiếp tục nắm
lấy hơi thở. Mùa này ở đây lá vàng rơi đẹp lắm. Đi ở ven rừng
khoảng mười lăm phút trong chánh niệm, giữ lấy hơi thở tôi thấy
khỏe khoắn và tỉnh táo lạ. Tôi tiếp xúc được với từng chiếc lá.
Khi Thiều đi một mình trên con đường quê, Thiều dễ nắm giữ chánh
niệm hơn. Nếu Thiều có một người bạn cùng đi bên cạnh không nói
năng gì, cùng nắm lấy hơi thở thì Thiều vẫn nắm giữ chánh niệm một
cách dễ dàng. Nhưng khi người bạn đi bên cạnh hỏi chuyện Thiều thì
sự tình trở nên khó khăn hơn chút ít.
Nếu Thiều khởi ra trong tâm ý niệm "Cái anh chàng này cứ hỏi
chuyện hoài, không để cho mình chánh niệm" thì Thiều dễ trở thành
bực mình. Nhưng nếu Thiều tự nhủ: "Anh chàng hỏi chuyện thì hỏi
chuyện, mình trả lời thì trả lời, nhưng mình vẫn nắm giữ chánh niệm,
biết mình với anh chàng đang đi trên đường với nhau, biết anh chàng
hỏi gì, biết mình trả lời những gì, và dù sao mình vẫn còn có thể nắm
lấy hơi thở". Nghĩ như vậy, Thiều tiếp tục duy trì chánh niệm, biết
rằng trường hợp này hơi khó hơn trường hợp đi bộ một mình, nhưng
cứ thực tập để từ từ đạt tới một khả năng tập trung ý lớn lơn. Có câu
ca dao nói: "Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa".
Trong hoàn cảnh náo nhiệt phiền toái mà giữ được chánh niệm, đó
mới là làm được chuyện khó, có phải không?
Đếm hơi thở và theo dõi hơi thở
Trong kinh điển Phật thường dạy nên sử dụng hơi thở để luyện
thành sự định tâm. Có một bài kinh đặc biệt nói về sự sử dụng hơi
thở để duy trì hơi thở, gọi là kinh An Ban Thủ Ý (Anapana sati Sutta).
Kinh này được thiền sư Việt Nam gốc Trung Á tên là Khương Tăng
Hội dịch và chú giải vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba Tây lịch. Anapana
là hơi thở (dịch âm là An Na Pan Na), Tăng Hội viết tắt là An Ban,
còn Sati (tiếng Bắc Phạn gọi là Sam ti) có nghĩa là niệm quán niệm
hay chánh niệm, thời ấy Tăng Hội dịch là Thủ ý (gìn giữ tâm ý).
Vậy Kinh An Ban Thủ Ý là kinh dạy "gìn giữ tâm ý bằng cách sử dụng
hơi thở". Kinh này là kinh thứ 118 trong Trung Bộ Kinh (Maijhina
Nikaya) dạy rõ phương pháp sử dụng hơi thở. Tôi sẽ đính kèm theo
đây một bản dịch kinh quán niệm và bản tóm tắt kinh An ban Thủ ý
cùng một vài đoạn kinh khác để Thiều và các bạn bên nhà dùng.
Trong những lớp hướng dẫn thiền tập (cho người ngoại quốc) bên
này, tôi thường đề nghị những phương pháp mà tôi đã từng thí
nghiệm, những phương pháp thật đơn giản. Ví dụ đối với người mới
tập, tôi đề nghị phương pháp "đo chiều dài" của hơi thở. Tôi mời một
học viên nằm xuống và thở tự nhiên, rồi tôi mới mời người quan sát
và chỉ cho họ thấy những điều đơn giản như sau:
1. Tuy thở ra và thở vào là việc làm của phổi, tức là của ngực, nhưng
không phải vì thế mà bụng không có tham dự. Sự lên xuống của
bụng hòa nhịp với sự lên xuống của ngực. Ta nhận thấy khi ta bắt
đầu thở vào thì bụng bắt đầu lên cao. Nhưng khi hơi thở vào đi được
hai phần ba con đường của nó thì bụng bắt đầu xuống bớt.
2. Giữa ngực và bụng có một ranh giới gọi là hoành cách mạc. Khi ta
thở vào đúng phép, ta đưa không khí vào phần dưới của phổi trước
khi ta thở đầy phần trên của phổi. Khi phần dưới của phổi có đầy
không khí vào nó đẩy hoành cách mạc xuống dưới. Do đó bụng ta
ắ
ầ
ầ
ầ
ổ
bắt đầu phình lên cao. Khi ta thở đầy phần trên lá phổi, ngực ta căng
đầy và do đó bụng ta bắt đầu xuống bớt.
3. Vì vậy cho nên người xưa hay nói "Hơi thở bắt đầu từ rốn và
chấm dứt ở chót mũi.
Đối với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi. Phải để ý là
không nên thở dài với mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho
phổi, nhất là trong trường hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở.
Ban đầu người hành giả nên nằm xuống, hai tay xuôi theo hai chân,
đầu không gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả
tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi
thở ra xem nó kéo dài bao lâu, có thể đếm thầm trong trí: một, hai,
ba... Sau vài lần như thế, ta biết được "chiều dài" của hơi thở ra. Ví
dụ chiều dài ấy là 5, sau đó ta dự tính thêm vào một hay hai nữa để
cho hơi thở ra của ta dài tới 6 hay 7. Thế là lần này khi thở ra ta bắt
đầu đếm từ 1 đến 5. Đến 5 thay vì chuẩn bị hít thở vào, ta cứ tiếp tục
thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp là 6 đến 7. Như vậy có nghĩa là ta đưa
thêm không khí tồn dư trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông tay để
hai phổi tự động đưa không khí trong lành vào. Chúng đưa vào được
bao nhiêu không khí thì đưa. Mình không nên cố gắng hít thêm. Cố
nhiên là chiều dài của hơi thở vào sẽ ngắn hơn chiều dài của hơi thở
ra. Nhưng ta nên đếm thầm dể biết nó dài bao nhiêu.
Người mới tập nên tập như thế trong nhiều tuần. Trong khi thở luôn ý
thức được mình đang thở và ý thức được chiều dài của hơi thở vào
và ra (nếu có chiếc đồng hồ trong phòng có nhịp tíc tắc chậm thì ta
cũng có thể sử dụng nhịp ấy làm nhịp đếm). Trong khi đi bộ, đứng,
ngồi, nhất là ở những nơi thoáng khí ta cũng nên tập như thế. Khi đi
bộ ta có thể dùng bước chân để đếm rất tốt.
Chừng một thoáng sau khoảng cách giữa chiều dài của hơi thở vào
và chiều dài của hơi thở ra sẽ rút ngắn lại. Bây giờ ta có thể cho hơi
thở vào và ra bằng nhau, nghĩa là nếu thở ra sâu thì thở vào cũng
sâu. Tuy nhiên, nếu thấy hơi mệt thì nên dừng lại. Nếu không mệt, ta
cũng nên thực tập có giới hạn, ví dụ từ 10 đến 20 hơi thở. Khi thấy
ẩ
ấ ố
ể
hơi mệt là tiêu chuẩn rất tốt, nó báo hiệu cho ta nên nghỉ hay có thể
tiếp tục. Khi đếm ta có thể dùng con số hay dùng mệnh đề ta ưa
thích, ví dụ nếu đó là số 6, ta có thể dùng mệnh đề "Hiện hữu quanh
tôi mầu nhiệm" hay "Tâm tôi thanh tịnh an lạc". Nếu đó là số 7, ta có
thể dùng mệnh đề 'Tôi bước từng bước trên trái đất" hay "Nam mô
bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật". Khi đi bách bộ, mỗi tiếng nhịp theo
mỗi bước chân.
Hơi thở phải thật nhẹ nhàng, đều đặn, trôi chảy tiếp nối như một lạch
nước trôi trên cát mịn. Hơi thở phải thật im lặng, im lặng đến nỗi
người gần cũng không nghe thấy mình thở. Hơi thở nên uyển
chuyển như một dòng sông, một con rắn đang bò, chứ không thể
như một dãy núi lởm chởm, hay như nhịp phi của một con ngựa. Chủ
động được hơi thở của mình như thế tức là chủ động được thân tâm
mình. Mỗi khi tâm ý tán loạn mà ta khó dùng những biện pháp khác
để nhiếp phục thì phương pháp quán sát hơi thở phải được đem ra
áp dụng. Mới ngồi xuống để thiền định, người hành giả sau khi điều
chỉnh tư thế ngồi liền điều chỉnh ngay hơi thở. Ban đầu thở tự nhiên
rồi làm cho hơi thở dịu dần, êm dần, lắng dần, sâu dần và dài dần.
Trong suốt thời gian ngồi xuống cho đến khi hơi thở đã trở nên im
lặng sâu thẳm, hành giả ý thức được tất cả những gì đang trải qua.
Kinh quán niệm nói: "Tôi đang hít vào và biết rõ là tôi đang hít vào.
Tôi đang thở ra và biết rõ là tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào một hơi
ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi ngắn. Tôi đang thở ra
một hơi ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi ngắn. Tôi đang
thở vào một hơi dài và biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi dài. Tôi
đang thở ra một hơi dài và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi dài.
Tôi ý thức trọn vẹn về cả chiều dài hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi ý
thức trọn vẹn chiều dài hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào
và điều hòa cho thân thể tôi trở nên tĩnh lặng".
Trong khoảng 10 đến 20 phút, tâm ý của hành giả lặng xuống như hồ
nước trong và không bị lôi kéo và phân tán nữa. Phương pháp theo
dõi hơi thở tĩnh lặng và điều phục hoàn toàn hơi thở được gọi là
phương pháp "tuỳ tức". Tùy là theo dõi, tức là hơi thở, tuỳ tức là theo
dõi hơi thở.
Nếu thấy phương pháp theo dõi hơi thở hơi khó, ta có thể theo dõi
bằng phương pháp đếm hơi thở. Thở vào đếm "1", thở ra đếm "1".
Thở vào đếm "2", thở ra đếm "2". Thở cho đến hơi thở thứ 10 thì bắt
đầu đếm lại từ 1. Trong lúc thở như vậy, sự đếm là sợi dây buộc tâm
vào hơi thở. Ban đầu đếm là để chú ý, kẻo nếu không chú ý thì đếm
lộn. Đó là hình thức định tâm sơ đẳng nhất, cột được tâm vào sự
đếm rồi, đạt tới cái định tâm sơ đẳng ấy rồi thì bắt đầu bỏ sự đếm và
chuyển sang theo dõi hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở được gọi là
phương pháp sổ tức. Sổ là đếm, tức là hơi thở.
Những lúc tâm trí bị phân tán khó tập trung để quán niệm, ta lại nắm
lấy hơi thở, nắm lấy hơi thở cũng là quán niệm. Hơi thở là một
phương tiện thần diệu để nắm lấy tâm ý. Giới thứ bảy của dòng tu
Tiếp Hiện cũng dặc biệt chú trọng tới hơi thở: "Không được buông
thả theo (vọng) loạn tưởng và hoàn cảnh để tự đánh mất mình, Phải
biết dùng hơi thở để nắm lấy thân tâm, thực hiện chánh niệm, phát
triển định tuệ và đi tới trên đường thành tựu đạo nghệ.
Mỗi động tác là một lễ nghi
Thiều ơi, tôi thường nghe một ví dụ này khá hay về hơi thở. Có một
bức tường cao không có cách gì leo lên đứng phía trên được, duy
chỉ có sợi chỉ mong manh vắt qua bức tường. Người khôn khéo sẽ
buộc đầu sợi chỉ ấy vào dây gai rồi qua bên kia kéo đầu sợi chỉ
xuống để cho sợi dây gai vắt lên thay thế. Xong rồi, lại buộc đầu sợi...
Thiều ơi,
Ngày hôm qua Steve tới thăm với chú bé Mickey 7 tuổi. Gớm, thằng
bé lớn mau quá đi thôi và nghịch ghê. Nó nói giỏi cả tiếng Pháp lẫn
tiếng Anh. Nó còn nói được tiếng lóng học ở ngoài đường nữa. Trẻ
con bên này được nuôi dạy khác với lối nuôi dạy trẻ con bên mình.
Cha mẹ chúng để chúng "tự do phát triển". Suốt hai giờ ngồi nói
chuyện, Steve phải để ý tới thằng bé. Nó chơi, nó nghịch, nó xen vào
cả câu chuyện của người lớn. Nó làm cho người lớn không nói
chuyện với nhau được. Tôi đưa cho nó mấy quyển sách hình của trẻ
con, nhưng nó chỉ lật xem sơ sơ rồi lại bỏ sách, xen vào giữa tôi và
ba nó. Nó đòi sự chú ý của thế giới người lớn.
Sau đó nó ra ngoài sân chơi với một đứa trẻ con Tây hàng xóm. Tôi
mới hỏi Steve đời sống gia đình có dễ chịu không? Steve không có
câu trả lời dứt khoát. Năm ngoái hai vợ chồng và thằng bé đi
Indonesia trong một chuyến du khảo và ở lại đấy một năm. Đi ba
người, về bốn người. Họ mới trở lại Paris tháng trước.
Marie là một họa sĩ, Steve nói từ khi sanh Zoe, Marie buông bút
không vẽ nữa. Tất cả thì giờ, cuộc sống, thân mạng là để dành cho
cô bé mới ra đời. Marie cũng ít nói đến Mickey nữa. "Không phải là
Marie không thương Mickey" Steve nói "Nó thương thằng bé lắm,
nhưng hiện giờ nó chỉ sống cho Zoe. Chừng một năm nữa tôi biết nó
sẽ cầm bút trở lại và xem Zoe ngang hàng với Mickey".
Steve nói mấy tuần nay, ít khi Steve ngủ được một giấc dài. “Trong
đêm, Marie cứ thức dậy, giựt mình và vì mệt quá nó bảo tôi trở dậy
xem bé Zoe còn thở không. Tôi chiều Marie, trở chừng em bé rồi lại
trở về ngủ lại. Có lần mệt quá tôi nói: thì mới một giờ trước đây nó
đang thở mà, không lý gì bây giờ nó hết thở. Marie năn nỉ, tôi lại
chiều lòng, có khi bực quá, tôi không chịu trở dậy, và Marie phải trở
dậy. Có đêm chuyện đó xảy ra tới hai lần”.
ố
ễ
ố
Đời sống gia đình có dễ chịu hơn đời sống độc thân không? Steve
không có câu trả lời dứt khoát. Nhiều người nói: "Có đời sống gia
đình thì cuộc sống ổn định hơn, thăng bằng hơn. Steve không nói
điều đó đúng mà cũng không nói điều đó sai. Anh ta chỉ ậm ừ, nhưng
mà tôi hiểu. Steve nói "Tôi mới tìm ra một cách để có thật nhiều thì
giờ", Tôi hỏi: "Cách gì?", Steve nói: "Trước kia tôi thường chia thời
giờ của tôi ra làm nhiều phần, một phần tôi dành cho Mickey, học bài
với nó, đọc truyện cho nó, tắm rửa nó. Một phần tôi dành cho Marie,
giúp nàng trong việc lo lắng cho Zoe, đi chợ cho nàng, mang quần áo
và tã đi tiệm giặt, nói chuyện với nàng khi mấy đứa nhỏ đã đi ngủ.
Ngoài những thì giờ dành cho 2 người (Tôi xem Marie và Zoe là 1
người. Bởi vì hơi thở của Zoe cũng là hơi thở của Marie. Nếu một
bên không thở được thì bên kia cũng bị ngạt hơi), tôi còn có thì giờ
dành cho riêng tôi. Tôi đọc, viết khảo cứu, đi bách bộ, còn thì giờ đi
làm kiếm ăn ở Sở thì khác. Đó là thì giờ của Sở".
"Nhưng bây giờ tôi không còn phân chia thời giờ như vậy nữa. Tôi
lấy luôn thời giờ của Marie và của Mickey làm thời giờ của tôi. Khi tôi
học bài chung với Mickey, tôi không còn có ý niệm: đây là thời giờ
của tôi dành cho Mickey, sau khi xong việc này tôi mới thật có thời
giờ cho tôi. Trái lại, tôi tìm cách sống cho tôi trong khi học bài với
Mickey, tôi chia sẻ sự có mặt của nó. Tôi tìm được hứng thú trong khi
học bài với nó và như thế là thời giờ cho nó trở thành thì giờ của tôi.
Đối với Marie cũng vậy, bất ngờ, tự nhiên tôi có vô khối thì giờ cho
tôi".
Steve vừa nói vừa cười. Tôi thì ngạc nhiên. A! Cái anh chàng này
khôn nhỉ! Điều này đâu phải anh ta nhờ đọc sách mà biết. Điều này
là điều anh ta tự tìm ra trong đời sống hàng ngày.
Mấy tháng nay tôi giảng kinh quán niệm mỗi chiều thứ bảy. Và sau
khi giảng, những người trẻ đặt các câu hỏi về những phương thức
áp dụng các nguyên tắc nêu ra trong kinh này về đời sống hàng
ngày. Chúng tôi cùng bàn luận về phương cách dùng thì giờ... Điều
làm tôi ngạc nhiên là tuy Steve chưa dự buổi giảng nào về kinh quán
niệm trong mấy tháng qua, Steve cũng đã đi tới một nhận xét mà vài
ổ
ế
anh chị đã nêu ra trong các buổi thảo luận. Khả năng tiếng Việt của
anh chàng còn yếu khiến chúng tôi không mời tham dự buổi giảng
kinh và đàm luận.
Nguyên tắc rửa bát để mà rửa bát
Thứ bảy tuần rồi, tôi có đem chuyện Steve kể lại cho những người
tham dự buổi giảng kinh, có một anh nói: "Steve đã tìm ra nguyên tắc
nhưng chưa tìm ra phương pháp. Tôi nói: "Tìm ra nguyên tắc được
thì cũng tìm ra phương pháp được". Nếu Steve tìm được hứng thú
trong lúc học bài với Mickey thì tức là Steve áp dụng hữu hiệu một
vài phương pháp nào đó mà Steve đã tự tìm ra một mình. Đâu có
phải chỉ có kinh quán niệm mới cung cấp được cho mình những
phương pháp. Steve tuy có học Phật và đọc được Sanscrit, nhưng
Steve không phải là người đã qui y. Nhưng không ai cấm người
không Phật tử thực hành những phương pháp Phật Giáo, với lại
phương pháp Phật giáo không phải là những phương pháp duy nhất.
Lại còn điều này nữa, không phải chỉ những Phật tử mới tìm ra
phương pháp Phật Giáo. Đức Thích Ca Mâu Ni, các bậc Duyên Giác
và Bích Chi Phật cũng đâu có là Phật tử trước khi tìm được con
đường và những phương pháp đạt đạo, phải không?
Một chị nói: "Thế thì một hôm nào đó, mình sẽ mời Steve tới nói về
kinh nghiệm của Steve cho mình nghe, mình có thể học hỏi những
kinh nghiệm của Steve. Tôi nghĩ khi chị ấy nói như thế, chị xác nhận
một điều quan trọng: người Phật tử không nắm hết chân lý, người
Phật tử có thể học được kinh nghiệm của những người không phải
Phật tử và quan hệ hơn nữa, người Phật tử có thể học hỏi Phật pháp
với những người không Phật. Tôi nhớ lại câu nói quen thuộc trong
Phật Giáo Đại Thừa: "Phật Pháp tức là thế gian pháp". (Phương
pháp của Phật cũng là phương pháp của cuộc sống) và "Phật pháp
tại thế gian, bất ly thế gian giác" (Phương pháp của Phật áp dụng
trong cuộc sống không thể tách ra ngoài sự thức tỉnh của cuộc sống).
Vậy ta có thể nói: Phương pháp của kinh quán niệm cũng dính líu tới
sự thức tỉnh của Steve phải không?
Nhưng mà Steve cũng cô thể áp dụng những phương pháp dạy
trong kinh quán niệm, nếu Steve muốn, chắc đâu là những phương
pháp mà Steve tìm ra đã đủ để đưa Steve tới chỗ thành công hoàn
ỗ
ầ
ể
toàn. Mỗi đêm mà phải thức dậy chừng mười lần để xem thử bé Zoe
còn thở không, điều đó cũng hơi làm mình bực mình đấy chứ. Nhiều
người mới nghe đã có thề gắt lên rồi, huống hồ là tự họ phải làm như
Steve. Biết đâu trong kinh quán niệm lại chẳng có phương pháp giúp
Steve xem thì giờ ngủ và thì giờ dậy của bé Zoe là một.
Các tác viên Xã Hội của trường chắc hẳn cũng muốn biết xem thành
quả của Steve đạt được lớn lao tới chừng nào, có phải không? Có
tác viên nào mà lại chẳng thấy thời giờ dành riêng cho mình quá ít ỏi.
Tôi cũng là một loại tác viên. Thiều cũng là một loại tác viên. Chúng
mình cùng muốn biết làm thế nào Steve đã giật được vô khối thì giờ
cho Steve. Steve đã đạt được "vô khối thì giờ" thật chưa! Hay chỉ
mới đạt trên nguyên tắc?
Bên Mỹ có một anh chàng rất thân với tôi. Tên anh là Jim Forest. Anh
ta ở trong tổ chức Catholic Peace Fellowship. Ngày xưa anh ta đã
đốt thẻ trưng binh chống chiến tranh và đi ở tù hơn 1 năm. Hồi đó,
nghe anh ta ở tù, tôi hơi ngại, bởi tánh anh ta rất hoạt động, nôn nóng
muốn hành động, sợ không kham nổi sự tù túng trong phòng giam.
Tôi viết cho anh một lá thư rất ngắn rằng: "Hãy nếm trái quýt của anh,
hãy hợp nhất với trái quýt của anh, bởi vì ngày mai trái quýt ấy không
còn nữa". Tôi không ngờ câu nói của tôi có hiệu quả. Ba năm sau hồi
tưởng lại chuyện ấy, Jim viết: "Câu ấy giúp cho tôi nhiều hơn là thầy
có thể tưởng tượng!" Nhờ câu ấy mà tôi tìm được sự an lạc nơi lao
tù, làm bạn được với lao tù và sống trong lao tù những ngày lợi lạc".
Jim đã tìm được tự do trong lao tù, khôi phục được thì giờ và sự
sống của mình ngay trong lao tù. Jim cũng khá đấy chứ, phải không
Thiều?.
Mùa đông năm kia Jim qua đây chơi. Tôi thường hay rửa bát sau khi
ăn cơm xong trước khi lên ngồi uống trà. Một tối Jim đòi rửa bát. Tôi
nói "Rửa thì rửa nhưng phải biết cách rửa" Jim nói: "Bộ Thầy nói tôi
không biết cách rửa chén hay sao?". Tôi nói: "Có hai cách rửa chén.
Cách thứ nhất là rửa để cho rửa xong, cách thứ hai là rửa không
phải để cho rửa xong". Jim thích quá nói "Tôi sẽ chọn cách thứ hai,
ể
ấ
rửa chỉ để rửa mà thôi". Từ đấy Jim hay giành rửa chén. Tôi giao
"trách nhiệm" cho anh ta trong cả tuần. Sau đó về xứ, anh đã tuyên
truyền "chủ nghĩa rửa chén để mà rửa chén" trong nhiều bài báo.
Anh ta tuyên truyền nhiều quá, ngay cả trong gia đình nữa. Khiến
Laura cười bảo anh "Ở dưới bếp chỉ còn chén bát sạch, nếu anh
thích rửa bát để mà rửa bát quá như vậy thì sao anh không xuống
đem chén bát sạch ra mà rửa lại một lần nữa đi".
Hồi tôi còn làm "Điệu" tại chùa Từ Hiếu, cách đây 30 năm, rửa chén
bát không phải là một việc làm dễ chịu lắm đâu nhé! Vào những mùa
an cư, hai người trực nhật phải nấu cơm và rửa bát có khi cho hơn
100 thầy. Xà phòng không có, chỉ có tro trấu và bẹ dừa mà thôi. Ngồi
trước một đống chén bát lớn như vậy rất nản. Nhất là nhằm mùa
đông phải nấu một nồi nước nóng khá lớn mới rửa được vì nước
lạnh, lạnh buốt. Bây giờ đứng rửa bát trong bếp, có xà phòng nước,
có tissus Metalliques, có nước ấm chảy dưới tay mình, thật là dễ chịu
hơn nhiều quá. Ấy vậy mà ai đã rửa bát ai cũng muốn rửa thật mau
cho xong, để mà lên ngồi chơi, có nhiều bà đòi chồng mua cho được
cái máy rửa chén. Thiều à! Cái máy giặt tôi còn chịu được (Mấy năm
ở ngoại quốc tôi chỉ giặt bằng tay) chứ còn cái máy rửa chén thật
tình tôi không chịu nổi. Các bà ở quê mình sẽ chép miệng “Mèng đéc
ơi, làm biếng đến vậy là cùng...”.
Theo tinh thần của kinh quán niệm thì trong khi rửa bát mình chỉ nên
rửa bát mà thôi: có nghĩa là khi rửa bát mình có ý thức được rằng sự
kiện chính mình đang rửa bát? Mới nghe qua thì thấy buồn cười.
Rửa bát thì có gì hay ho đâu mà tập trung ý lực vào đấy nhiều như
thế. Nhưng quả thực tất cả sự hay ho là nằm chỗ đó nghe Thiều. Sự
kiện tôi đứng đây rửa và rửa những cái bát này là một sự kiện mầu
nhiệm. Tôi hoàn toàn là tôi, làm chủ được hơi thở tôi, ý thức được sự
có mặt, ý thức tâm, ý thức ý và hành động của tôi. Tôi không bị động
trong hoàn cảnh như mộ cái nút chai bị những đợt sóng trên mặt biển
vùi dập và lôi kéo, tâm ý tôi không tán thất trong loạn tưởng như một
mớ bọt biển trên đầu sóng, tan nát thảm thương khi làn sóng đập
đầu vào ghềnh đá.
Làm hòa với múi quýt
Nếu trong lúc rửa bát mà ta chỉ nghĩ tới tách trà, nghĩ tới sự nghỉ
ngơi hay bất cứ một công chuyện nào trong tương lai, và chỉ muốn
cho việc rửa bát qua mau, xem việc rửa bát như một cực hình thì ta
không "rửa bát để mà rửa bát", ta không sống trong thời gian rửa bát,
ta không chứng thật được phép lạ của sự sống trong thời gian rửa
bát.
Không biết rửa bát thì khi cầm tách trà lên, có thể ta cũng không biết
uống trà. Cầm tách trà lên ta có thể chỉ nghĩ đến những chuyện khác
mà không biết là ta đang nâng tách trà trong tay. Cứ như thế, ta bị
thâu hút vào trong tương lai, bị con ma vị lai thâu hút hết hỗn vía, đi
ngang sự sống mà không sống được giây phút nào của sự sống.
Câu chuyện múi quýt của Jim cũng đã xảy ra trong trường hợp này.
Có lần, lâu lắm rồi, Jim ngồi ăn quýt với tôi mà cứ phóng tưởng về
công việc trong tương lai. Hồi ấy mỗi khi nghĩ tới một dự tính nào có
tánh cách hấp dẫn là Jim hoàn toàn bị thu hút vào đó và quên hẳn
thực tại trong hiện tại. Tay Jim bóc vỏ quýt mà miệng Jim như nhai
hết vỏ quýt này tới vỏ quýt nọ. Thế mà Jim đâu có biết mình đang ăn
quýt. Tôi mới nói với chàng ta: "Thì anh hãy ăn múi quýt của anh đi
đã". Jim giật mình thức giấc. Lúc đó anh ta đang ăn hết múi quýt này
đến múi quýt khác, không ngưng. Thế mà tôi lại nhắc anh ta ăn quýt,
làm như anh ta đang không ăn quýt. Mà thực ra anh đâu có đang ăn
quýt. Anh ta đang "ăn" cái dự tính của anh ta mà. Người xưa nói:
"Tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ
vị" (Tâm ý không có mặt, thì nhìn mà không thấy, nghe mà không rõ,
ăn mà không biết mùi vị). "Tâm bất tại", tức là sự vắng mặt của ý
thức. Một trái quýt có nhiều múi, ăn được một múi quýt thì có thể ăn
được hết trái quýt, còn nếu một múi mà cũng không ăn được, thì cả
trái quýt cũng không ăn được. Jim là một anh chàng thông minh. Anh
ta dừng tay lại nghe sự có mặt của múi quýt trên lưỡi mình, ăn múi
quýt một cách thật đàng hoàng và gật đầu trước khi đưa tay gỡ một
múi khác. Sau cùng, như Thiều biết, anh ta đã có thể xem lao tù như
một múi quýt và làm hòa bình với múi quýt đó.
ồ
ề
Hồi tôi mới vào thiền viện, cách đây cũng đã trên ba mươi năm, các
thầy trao cho tôi tập 'Tỳ Ni nhật dụng thiết yếu" của Thiền Sư Độc
Thể chùa Bảo Sơn và bảo tôi học thuộc lòng. Đây là một tập sách
mỏng chừng bốn mươi trang thôi, ghi chép những ý tưởng mà Thiền
Sư Độc Thể đã dùng để thắp sáng tâm ý của ông trong mọi cử chỉ,
hành động. Ví dụ khi mới thức giấc vào lúc ban mai, ông cho khởi
dậy ý tưởng này trong trí: “Vừa mới tỉnh giấc, tôi mong cho mọi
người sớm đạt được trạng thái tỉnh thức lớn, hiểu biết thấu suốt
mười phương”. Khi múc nước rửa tay, ông sử dụng ý tưởng này để
tự đưa mình về trạng thái ý thức: “Múc nước rửa tay, tôi mong cho
mọi người có những bàn tay trong sạch để đón nhận lấy chân lý”.
Toàn tập "Tỳ Ni Nhật Dụng thiết yếu" chỉ có những câu như thế. Mục
đích là giúp người hành giả mới vào đạo nắm lấy được tâm ý mình.
Thiền Sư Độc Thể đã giúp cho hành giả mới vào đạo thực hiện
những điều dạy trong kinh quán niệm một cách tương đối dễ dàng.
Mỗi khi mặc áo, rửa chân, đi cầu, trải chiếu, gánh nước, súc miệng...
Người hành giả đều có thể mượn một ý tưởng trong "Tỳ Ni Nhật
Dụng" để nắm bắt tâm ý.
Kinh Quán Niệm nói: "Khi đi hành giả ý thức rằng mình đang đi, khi
dừng ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi ý thức rằng mình đang
ngồi, khi nằm ý thức rằng mình đang nằm, bất cứ thân thể mình đang
được sử dụng trong tư thế nào, hành giả cũng ý thức được tư thế ấy
của thân thể. Cứ như thế hành giả sống trong sự thường trực quán
niệm thân thể... ý thức được những tư thế của thân thể. Tuy vậy vẫn
chưa đủ, Kinh Quán niệm nói ta phải ý thức về mọi hơi thở, mọi động
tác, mọi hiện tượng sinh lý, vật lý, cảm giác và tư duy liên hệ tới bản
thân nữa.
Nhưng quán niệm như thế để làm gì? Thì giờ đâu mà quán niệm?
Một tác viên nếu bỏ cả ngày để làm việc quán niệm thì còn thì giờ
đâu nữa để làm công việc tác động quần chúng trong phạm vi tái
thiết và phát triển xã hội ? Anh chàng Steve của chúng ta làm thế nào
mà có thì giờ để vừa làm việc vừa quán niệm, vừa học bài với
Mickey, vừa đem tã lót của Zoe tới tiệm giặt.
Phép lạ là đi trên mặt đất
Steve nó nói là từ khi biết lấy thì giờ của Mickey và của Marie làm thì
giờ của mình thì chàng ta có "vô khối", nhưng đó có thể là đứng trên
nguyên tắc mà thôi. Bởi vì Steve có thể quên lãng trong khi học bài
với Mickey. Steve có thề quên rằng thì giờ của Mickey cũng là thì giờ
của mình, và như vậy Steve có thể đánh mất thì giờ như chơi. Steve
có thể mong cho thì giờ ấy chóng qua hoặc sinh ra cáu kỉnh vì thì giờ
ấy không thú vị, không phải là thì giờ của mình.
Vì vậy muốn thật sự có vô khối thì giờ (nghĩa là không chỉ trên
nguyên tắc), Steve cần giữ ý thức "Đây là thì giờ của ta" sáng tỏ mãi
trong suốt thời gian học bài với con. Trong khi ấy tâm ý con người
hay buông lung và từ ý tưởng này, tâm ý bắt sang ý tưởng khác như
con vượn chuyền cành. Muốn giữ cho ý thức hiện thực sáng tỏ (từ
đây về sau tôi sẽ dùng danh từ "chánh niệm" để thay thế cho mệnh
đề "ý thức sáng tỏ về hiện thực") thì cần đôi chút luyện tập. Tập luyện
ngay trong đời sống hàng ngày và thực tập trong những buổi Thiền
Quán. Trong khi một tác viên đi bộ trên con đường đất đỏ để tới đầu
làng, anh cũng có thể thực tập quán niệm. Anh đi từng bước vững
chãi trên con đường đất đỏ hai bên có viền cỏ xanh và khởi chánh
niệm trong trí anh, ý thức được là mình đang đi trên con đường đó,
con đường dẫn tới làng. Anh tập trung ý tưởng vào đối tượng quán
chiếu duy nhất ấy. Ta đi trên con đường đầu làng, trời lạnh hoặc trời
mưa. đường khô hay con đường lầy lội. Anh cũng duy trì chánh
niệm. Anh không lập đi lập lại trong trí một cách máy móc "Tôi đang
đi trên con đường đầu làng!". Máy móc là sự ngược lại của chánh
niệm. Có người niệm Phật như một cái máy trong lúc tâm trí đi phiêu
lưu xa thực tại ngoài ngàn dặm. Tôi nghĩ niệm Phật như thế còn tệ
hơn là không niệm Phật. Nếu ta thực sự duy trì được chánh niệm
trong khi ta đang bước trên con đường làng, ta sẽ thấy sự kiện ta
đang bước trên con đường làng là một sự kiện mầu nhiệm. Một niềm
vui nở ra từ tim ta như một đóa hoa và bao trùm lấy thế giới hiện
thực. Tôi ưa đi bộ một mình trên những con đường quê, hai bên có
những bông lúa hay cỏ đại và đặt từng bước chân ý thức trên đất,
ế
biết mình trong hiện tại đang đi trên hành tinh màu xanh kỳ diệu.
Những lúc như thế tôi thấy hiện hữu mầu nhiệm một cách lạ kỳ.
Người ta thường nghĩ rằng đi trên mặt nước hay đi trên than hồng là
thực hành phép lạ. Tôi nghĩ phép lạ không phải là đi trên mặt nước
hay đi trên than hồng mà là đi trên mặt đất.
Hàng ngày ta thực hiện phép lạ mà ta thường không hay biết. Thiều
nhìn thử lại xem trời xanh, mây trắng, lá đục và đôi mắt bé Thi Hải
Thiều Âm đan lay láy. Hai mắt của Hải Thiều cũng là một phép lạ mà
trời kia, mây ấy, lá nọ cũng là phép lạ phải không.
Thiền Sư Độc Thể nói: "Khi ngồi nên ngồi thật ngay thẳng và khởi
niệm". Ngồi đây cũng như ngồi trên pháp tọa Bồ Đề. Pháp Tọa Bồ Đề
là chỗ một Đức Phật đã ngồi mà chứng ngộ. Nếu có hằng hà sa số
Phật tức là đã có sa số người đã giác ngộ, và chỗ bãi cỏ tôi ngồi hôm
trước ấy thế nào cũng có một Đức Phật đã ngồi.
Thi sĩ Nguyễn Công Trứ cũng có ý thức sáng khi ông ngồi xuống một
chỗ ngồi và thấy được rằng ngày xưa, cổ nhân đã từng ngồi trên chỗ
ông đang ngồi, và ngàn muôn năm sau cũng sẽ có người tới ngồi
chỗ ấy.
"Ngã kim nhật tại tọa chi địa
Cổ chi ngân tằng tiên ngã tọa chi
(Ngàn muôn năm âu cũng thế ni
Ai hay hát mà ai hay nghe hát)".
Chỗ ngồi và thời gian trong giờ phút ấy trở thành hợp nhất trong một
hiện tại vĩnh cửu.
Nhưng người tác viên không phải có thì giờ để suốt ngày thong thả
chơi trên những con đường cỏ xanh và ngồi dưới gốc cây. Người tác
viên phải soạn thảo, dự án công tác, bàn bạc với dân làng, giải quyết
trăm vàn khó khăn lao động nơi ruộng vườn, đối phó với cường hào
ác bá. Trong thời gian thực hiện công tác đó. Anh hoặc chị phải để
tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản ứng một cách
ấ
ề ấ
thông minh và hữu hiệu. Tất cả những điều ấy chính là quán niệm.
Thực tập quán cũng là để có thể để hết tâm ý vào công việc, đề cao
cảnh giác và phản ứng thông minh. Trong lúc bàn cãi giải quyết và
đối phó, sự bình tâm và tự chủ là những yếu tố cần thiết để đi tới kết
quả tốt đẹp, anh chị tác viên nào cũng rõ điều ấy. Nếu ta không tự
chủ mà để cho sự nóng giận hoặc đãng trí kéo đi thì hiệu năng của ta
không còn bao lăm nữa.
Quán niệm là một phép lạ mà ta có thề sử dụng để khôi phục và thâu
hồi tự thân. Giả dụ một nhà ảo thuật nào đó đem thân thể ta chia làm
nhiều phần và dặt mỗi phần ở một địa phương khác nhau. Bàn tay
đặt nam, bắp chân đặt ở bắc, cánh tay đặt đông... Rồi dùng phép lạ
hô lên một tiếng. Mỗi phần của thân thể lặp tức liền lại với nhau, để
thân thể ta trở nên toàn vẹn trở lại. Quán niệm cũng thế, đó là phép
lạ để tụ họp trong chớp nhoáng tâm ý phiêu lưu, tản mát khắp chốn
và thực hiện tự tâm toàn vẹn trong giây phút hiện tại của sự sống.
Nắm lấy hơi thở chánh niệm
Như vậy quán niệm vừa là một phương tiện vừa là một cứu cánh,
vừa là nhân, vừa là quả. Khi thực tập quán niệm để luyện định tâm
thì ta gọi quán niệm là nhân. Nhưng quán niệm vốn là sự sống tỉnh
thức (sự có mặt của quán niệm là sự có mặt của sự sống mầu
nhiệm), do đó ta cũng gọi quán niệm là quả. Quán niệm để xua đuổi
quên lãng và phân tán. Quán niệm để thực sự sống từng giây, từng
phút của cuộc sống. Quán niệm để duy trì chánh niệm và duy trì sự
sống.
Người tác viên biết sử dụng hơi thở để duy trì chánh niệm, bởi vì hơi
thở là dụng cụ rất mầu nhiệm để đình chỉ loạn tưởng. Hơi thở là cây
cầu bắt từ bờ sinh lý sang bờ tâm lý, là môi giới giữa thân và tâm.
Mỗi khi chợt nhớ ra rằng tâm ý mình đang phân tán, rong ruổi, người
tác viên nên dùng hơi thở để nắm giữ nó lại. Anh thở vào nhè nhẹ
một hơi thở khá dài và ý thức rằng mình đang thở vào một hơi dài.
Anh lại thở ra một hơi dài, đưa ra ngoài hết không khí trong buồng
phổi anh và ý thức rằng mình đang làm như thế. Kinh quán niệm dạy
về cách nắm lấy hơi thở như sau:
"Hành giả thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào. Người
ấy thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở ra. Thở vào một hơi
dài người ấy ý thức rằng ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi
dài, người ấy ý thức rằng ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một
hơi ngắn, người ấy ý thức là ta đang thở ra một hơi ngắn. Người ấy
tự mình luyện tập như sau: "Tôi có ý thức rõ rệt về trọn cả hơi thở mà
tôi đang thở vào. Tôi có ý thức về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra.
Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên
tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi
trở nên tĩnh lặng".
Trong một tu viện Phật giáo, vị nào cũng được khuyến khích sử dụng
hơi thở để đình chỉ loạn tưởng, tập trung tâm ý và thực hiện định lực.
Định lực là sức mạnh của sự tập trung tâm ý, là năng lực có thể phát
khởi sự tỉnh thức lớn. Nhưng sự tỉnh thức lớn cũng là một sự tỉnh
thức. Khi người tác viên nắm lấy hơi thở mình, anh ấy đã là một
người tỉnh thức rồi. Để duy trì chính niệm lâu dài, ta nên tiếp tục nắm
lấy hơi thở. Mùa này ở đây lá vàng rơi đẹp lắm. Đi ở ven rừng
khoảng mười lăm phút trong chánh niệm, giữ lấy hơi thở tôi thấy
khỏe khoắn và tỉnh táo lạ. Tôi tiếp xúc được với từng chiếc lá.
Khi Thiều đi một mình trên con đường quê, Thiều dễ nắm giữ chánh
niệm hơn. Nếu Thiều có một người bạn cùng đi bên cạnh không nói
năng gì, cùng nắm lấy hơi thở thì Thiều vẫn nắm giữ chánh niệm một
cách dễ dàng. Nhưng khi người bạn đi bên cạnh hỏi chuyện Thiều thì
sự tình trở nên khó khăn hơn chút ít.
Nếu Thiều khởi ra trong tâm ý niệm "Cái anh chàng này cứ hỏi
chuyện hoài, không để cho mình chánh niệm" thì Thiều dễ trở thành
bực mình. Nhưng nếu Thiều tự nhủ: "Anh chàng hỏi chuyện thì hỏi
chuyện, mình trả lời thì trả lời, nhưng mình vẫn nắm giữ chánh niệm,
biết mình với anh chàng đang đi trên đường với nhau, biết anh chàng
hỏi gì, biết mình trả lời những gì, và dù sao mình vẫn còn có thể nắm
lấy hơi thở". Nghĩ như vậy, Thiều tiếp tục duy trì chánh niệm, biết
rằng trường hợp này hơi khó hơn trường hợp đi bộ một mình, nhưng
cứ thực tập để từ từ đạt tới một khả năng tập trung ý lớn lơn. Có câu
ca dao nói: "Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa".
Trong hoàn cảnh náo nhiệt phiền toái mà giữ được chánh niệm, đó
mới là làm được chuyện khó, có phải không?
Đếm hơi thở và theo dõi hơi thở
Trong kinh điển Phật thường dạy nên sử dụng hơi thở để luyện
thành sự định tâm. Có một bài kinh đặc biệt nói về sự sử dụng hơi
thở để duy trì hơi thở, gọi là kinh An Ban Thủ Ý (Anapana sati Sutta).
Kinh này được thiền sư Việt Nam gốc Trung Á tên là Khương Tăng
Hội dịch và chú giải vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba Tây lịch. Anapana
là hơi thở (dịch âm là An Na Pan Na), Tăng Hội viết tắt là An Ban,
còn Sati (tiếng Bắc Phạn gọi là Sam ti) có nghĩa là niệm quán niệm
hay chánh niệm, thời ấy Tăng Hội dịch là Thủ ý (gìn giữ tâm ý).
Vậy Kinh An Ban Thủ Ý là kinh dạy "gìn giữ tâm ý bằng cách sử dụng
hơi thở". Kinh này là kinh thứ 118 trong Trung Bộ Kinh (Maijhina
Nikaya) dạy rõ phương pháp sử dụng hơi thở. Tôi sẽ đính kèm theo
đây một bản dịch kinh quán niệm và bản tóm tắt kinh An ban Thủ ý
cùng một vài đoạn kinh khác để Thiều và các bạn bên nhà dùng.
Trong những lớp hướng dẫn thiền tập (cho người ngoại quốc) bên
này, tôi thường đề nghị những phương pháp mà tôi đã từng thí
nghiệm, những phương pháp thật đơn giản. Ví dụ đối với người mới
tập, tôi đề nghị phương pháp "đo chiều dài" của hơi thở. Tôi mời một
học viên nằm xuống và thở tự nhiên, rồi tôi mới mời người quan sát
và chỉ cho họ thấy những điều đơn giản như sau:
1. Tuy thở ra và thở vào là việc làm của phổi, tức là của ngực, nhưng
không phải vì thế mà bụng không có tham dự. Sự lên xuống của
bụng hòa nhịp với sự lên xuống của ngực. Ta nhận thấy khi ta bắt
đầu thở vào thì bụng bắt đầu lên cao. Nhưng khi hơi thở vào đi được
hai phần ba con đường của nó thì bụng bắt đầu xuống bớt.
2. Giữa ngực và bụng có một ranh giới gọi là hoành cách mạc. Khi ta
thở vào đúng phép, ta đưa không khí vào phần dưới của phổi trước
khi ta thở đầy phần trên của phổi. Khi phần dưới của phổi có đầy
không khí vào nó đẩy hoành cách mạc xuống dưới. Do đó bụng ta
ắ
ầ
ầ
ầ
ổ
bắt đầu phình lên cao. Khi ta thở đầy phần trên lá phổi, ngực ta căng
đầy và do đó bụng ta bắt đầu xuống bớt.
3. Vì vậy cho nên người xưa hay nói "Hơi thở bắt đầu từ rốn và
chấm dứt ở chót mũi.
Đối với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi. Phải để ý là
không nên thở dài với mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho
phổi, nhất là trong trường hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở.
Ban đầu người hành giả nên nằm xuống, hai tay xuôi theo hai chân,
đầu không gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả
tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi
thở ra xem nó kéo dài bao lâu, có thể đếm thầm trong trí: một, hai,
ba... Sau vài lần như thế, ta biết được "chiều dài" của hơi thở ra. Ví
dụ chiều dài ấy là 5, sau đó ta dự tính thêm vào một hay hai nữa để
cho hơi thở ra của ta dài tới 6 hay 7. Thế là lần này khi thở ra ta bắt
đầu đếm từ 1 đến 5. Đến 5 thay vì chuẩn bị hít thở vào, ta cứ tiếp tục
thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp là 6 đến 7. Như vậy có nghĩa là ta đưa
thêm không khí tồn dư trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông tay để
hai phổi tự động đưa không khí trong lành vào. Chúng đưa vào được
bao nhiêu không khí thì đưa. Mình không nên cố gắng hít thêm. Cố
nhiên là chiều dài của hơi thở vào sẽ ngắn hơn chiều dài của hơi thở
ra. Nhưng ta nên đếm thầm dể biết nó dài bao nhiêu.
Người mới tập nên tập như thế trong nhiều tuần. Trong khi thở luôn ý
thức được mình đang thở và ý thức được chiều dài của hơi thở vào
và ra (nếu có chiếc đồng hồ trong phòng có nhịp tíc tắc chậm thì ta
cũng có thể sử dụng nhịp ấy làm nhịp đếm). Trong khi đi bộ, đứng,
ngồi, nhất là ở những nơi thoáng khí ta cũng nên tập như thế. Khi đi
bộ ta có thể dùng bước chân để đếm rất tốt.
Chừng một thoáng sau khoảng cách giữa chiều dài của hơi thở vào
và chiều dài của hơi thở ra sẽ rút ngắn lại. Bây giờ ta có thể cho hơi
thở vào và ra bằng nhau, nghĩa là nếu thở ra sâu thì thở vào cũng
sâu. Tuy nhiên, nếu thấy hơi mệt thì nên dừng lại. Nếu không mệt, ta
cũng nên thực tập có giới hạn, ví dụ từ 10 đến 20 hơi thở. Khi thấy
ẩ
ấ ố
ể
hơi mệt là tiêu chuẩn rất tốt, nó báo hiệu cho ta nên nghỉ hay có thể
tiếp tục. Khi đếm ta có thể dùng con số hay dùng mệnh đề ta ưa
thích, ví dụ nếu đó là số 6, ta có thể dùng mệnh đề "Hiện hữu quanh
tôi mầu nhiệm" hay "Tâm tôi thanh tịnh an lạc". Nếu đó là số 7, ta có
thể dùng mệnh đề 'Tôi bước từng bước trên trái đất" hay "Nam mô
bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật". Khi đi bách bộ, mỗi tiếng nhịp theo
mỗi bước chân.
Hơi thở phải thật nhẹ nhàng, đều đặn, trôi chảy tiếp nối như một lạch
nước trôi trên cát mịn. Hơi thở phải thật im lặng, im lặng đến nỗi
người gần cũng không nghe thấy mình thở. Hơi thở nên uyển
chuyển như một dòng sông, một con rắn đang bò, chứ không thể
như một dãy núi lởm chởm, hay như nhịp phi của một con ngựa. Chủ
động được hơi thở của mình như thế tức là chủ động được thân tâm
mình. Mỗi khi tâm ý tán loạn mà ta khó dùng những biện pháp khác
để nhiếp phục thì phương pháp quán sát hơi thở phải được đem ra
áp dụng. Mới ngồi xuống để thiền định, người hành giả sau khi điều
chỉnh tư thế ngồi liền điều chỉnh ngay hơi thở. Ban đầu thở tự nhiên
rồi làm cho hơi thở dịu dần, êm dần, lắng dần, sâu dần và dài dần.
Trong suốt thời gian ngồi xuống cho đến khi hơi thở đã trở nên im
lặng sâu thẳm, hành giả ý thức được tất cả những gì đang trải qua.
Kinh quán niệm nói: "Tôi đang hít vào và biết rõ là tôi đang hít vào.
Tôi đang thở ra và biết rõ là tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào một hơi
ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi ngắn. Tôi đang thở ra
một hơi ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi ngắn. Tôi đang
thở vào một hơi dài và biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi dài. Tôi
đang thở ra một hơi dài và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi dài.
Tôi ý thức trọn vẹn về cả chiều dài hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi ý
thức trọn vẹn chiều dài hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào
và điều hòa cho thân thể tôi trở nên tĩnh lặng".
Trong khoảng 10 đến 20 phút, tâm ý của hành giả lặng xuống như hồ
nước trong và không bị lôi kéo và phân tán nữa. Phương pháp theo
dõi hơi thở tĩnh lặng và điều phục hoàn toàn hơi thở được gọi là
phương pháp "tuỳ tức". Tùy là theo dõi, tức là hơi thở, tuỳ tức là theo
dõi hơi thở.
Nếu thấy phương pháp theo dõi hơi thở hơi khó, ta có thể theo dõi
bằng phương pháp đếm hơi thở. Thở vào đếm "1", thở ra đếm "1".
Thở vào đếm "2", thở ra đếm "2". Thở cho đến hơi thở thứ 10 thì bắt
đầu đếm lại từ 1. Trong lúc thở như vậy, sự đếm là sợi dây buộc tâm
vào hơi thở. Ban đầu đếm là để chú ý, kẻo nếu không chú ý thì đếm
lộn. Đó là hình thức định tâm sơ đẳng nhất, cột được tâm vào sự
đếm rồi, đạt tới cái định tâm sơ đẳng ấy rồi thì bắt đầu bỏ sự đếm và
chuyển sang theo dõi hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở được gọi là
phương pháp sổ tức. Sổ là đếm, tức là hơi thở.
Những lúc tâm trí bị phân tán khó tập trung để quán niệm, ta lại nắm
lấy hơi thở, nắm lấy hơi thở cũng là quán niệm. Hơi thở là một
phương tiện thần diệu để nắm lấy tâm ý. Giới thứ bảy của dòng tu
Tiếp Hiện cũng dặc biệt chú trọng tới hơi thở: "Không được buông
thả theo (vọng) loạn tưởng và hoàn cảnh để tự đánh mất mình, Phải
biết dùng hơi thở để nắm lấy thân tâm, thực hiện chánh niệm, phát
triển định tuệ và đi tới trên đường thành tựu đạo nghệ.
Mỗi động tác là một lễ nghi
Thiều ơi, tôi thường nghe một ví dụ này khá hay về hơi thở. Có một
bức tường cao không có cách gì leo lên đứng phía trên được, duy
chỉ có sợi chỉ mong manh vắt qua bức tường. Người khôn khéo sẽ
buộc đầu sợi chỉ ấy vào dây gai rồi qua bên kia kéo đầu sợi chỉ
xuống để cho sợi dây gai vắt lên thay thế. Xong rồi, lại buộc đầu sợi...
 





