Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Nhung tam long cao ca.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 13h:00' 04-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 13h:00' 04-07-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Những tấm lòng cao cả
Edmondo De Amicis
Hoàng Thiếu Sơn dịch
Nhà xuất bản Hội nhà văn 2000
Nguồn: tve-4u.org
Tạo ebook lần đầu: motsachgia
Hiệu đính và tạo ebook lần hai: Caruri
Mục lục
MỞ ĐẦU
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
Thầy giáo mới
Một tai nạn
Cậu bé xứ Calabria
Các bạn học của tôi
Một hành vi hào hiệp
Cô giáo lớp một trên của tôi
Trong một căn gác xép
Trường học
Cậu bé yêu nước Padova
THÁNG MƯỜI MỘT
Cậu bé nạo ống khói
Bạn Garrone của tôi
Bác bán than với ông quý tộc
Cô giáo của em trai tôi
Mẹ tôi
Bạn Coretti của tôi
Thầy hiệu trưởng
Những người lính
Người bảo vệ Nelli
Người đầu lớp
Cậu bé trinh sát người Lombard
Những người nghèo khổ
THÁNG MƯỜI HAI
Anh chàng kinh doanh
Tính khoe khoang
Tuyết đầu mùa
Cậu bé thợ nề
Quả cầu tuyết
Các cô giáo
Đến nhà người bị thương
Cậu bé viết thuê người Firenze
Nghị lực
Lòng biết ơn
THÁNG GIÊNG
Thầy phụ giáo
Tủ sách của Stardi
Con trai bác thợ rèn
Một buổi thăm nhau lý thú
Franti bị đuổi học
Cậu bé đánh trống người Sardegna
Tình yêu nước
Tính đố kỵ
Bà mẹ Franti
THÁNG HAI
Chiếc huy chương xứng đáng
Quyết tâm đúng đắn
Bộ đồ chơi xe lửa
Tính kiêu ngạo
Những người bị thương tật vì tai nạn lao động
Người tù
Người y tá của tata
Xưởng thợ
Cậu bé làm xiếc
Những trẻ em mù
Thầy giáo ốm
Ngoài đường phố
THÁNG BA
Những lớp học buổi tối
Đánh nhau
Các bố mẹ học sinh
Người số 78
Cậu bé chết
Hôm trước ngày 14 tháng 3
Lễ phát phần thưởng
Một vụ cãi lộn
Máu nóng người Romagna
Cậu bé thợ nề ốm nặng
THÁNG TƯ
Mùa xuân
Vườn trẻ
Buổi thể dục
Thầy giáo của bố
Dưỡng bệnh
Những người bạn thợ thuyền
Bà mẹ Garrone
Phẩm giá công dân
THÁNG NĂM
Hy sinh
Đám cháy
Từ mạch Appennini đến mạch Andes
Mùa hè
Chất thơ
Cô gái câm điếc
THÁNG SÁU
32 độ
Bố tôi
Về đồng quê
Lễ phát phần thưởng cho công nhân
Cái chết của cô giáo tôi
Những lời cảm ơn
Một vụ đắm tàu
THÁNG BẢY
Trang thư cuối cùng của mẹ tôi
Các buổi thi
Buổi thi cuối cùng
Từ biệt
[1]
MỞ ĐẦU
Hai mươi tuổi chiến đấu vì độc lập, thống nhất
Bốn mươi tuổi đấu tranh cho công bằng xã hội
Trên thế giới, ở nhiều nước người lớn và trẻ em chẳng mấy ai
không biết nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Nhưng nhà văn được
trẻ em yêu thích ấy lại không phải là người chuyên viết sách về trẻ
em hay cho trẻ em.
De Amicis sinh ngày 31 tháng mười năm 1846 ở Oneglia, xứ
Liguria, trên bờ biển tây bắc bán đảo Ý. Sự nghiệp giải phóng và
thống nhất Ý bắt đầu từ năm 1820, đến năm 1870 mới hoàn thành
là phong trào dân tộc lớn nhất lịch sử châu u trong thế kỷ XIX. Khi
trận Custoza thứ nhất đánh quân xâm lược Áo trong cách mạng
1848 diễn ra thì chú bé Edmondo chưa được hai tuổi; nhưng trận
Custoza thứ hai diễn ra, thì người sĩ quan mới tốt nghiệp chưa đầy
hai mươi tuổi De Amicis đã có mặt trên chiến trường, ngày 24
tháng sáu 1866 ấy, chiến đấu dưới lá cờ ba màu, trong hàng ngũ
quân đội Ý. Người thanh niên ấy cũng bắt đầu viết văn, và hai năm
sau tác phẩm đầu tay ra đời, tập hợp một số truyện vừa dưới nhan
đề Cuộc đời quân ngũ (La Vita Militare, 1868).
Nước nhà độc lập, thống nhất rồi, De Amicis từ giã “cuộc đời
quân ngũ” đi du lịch nước ngoài, để sáng tác theo một thể tài khác:
thể du ký. Và các tác phẩm kế tiếp nhau ra đời: Tây Ban Nha
(1873), Hà Lan (l874), Maroc (1876), Constantinopolis (1878-79)
và cuốn Chân dung văn hào (Ritratti letterari, 1881) được viết để
tỏ lòng ngưỡng mộ những nhà văn lớn đương thời.
Thống nhất xong, năm 1871 nước Ý đông dân mà rất nghèo,
công nghiệp chưa có gì, địa chủ chiếm những diện tích mênh
mông, dân số tăng nhanh, người Ý phải di cư rất nhiều đến đất
khách quê người kiếm ăn, mỗi năm trung bình hơn nửa triệu, có
năm gần một triệu, nhiều nhất thế giới. Di dân là vấn đề rất lớn
trong đời sống nước Ý, đã được De Amicis chú ý và đầu tiên lấy
làm đề tài cho một tác phẩm: Trên đại dương (Sull'oceano). Năm
sau, 1890, lại tiếp theo cuốn Truyện một người chủ (Il romanzo
d'un maestro).
Cũng từ năm ấy ở Ý chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, và
người theo chủ nghĩa Marx ngày càng đông: trên đảo Sicilia nông
dân tổ chức những hiệp hội, và từ năm 1893 đã bắt đầu nổi dậy.
Không sống bàng quan, ngay năm 1891 De Amicis đã tham gia
Đảng xã hội Ý là thành viên của Đệ nhị Quốc tế, và từ đấy đấu
tranh không ngừng cho công bằng xã hội, cho đời sống của người
nghèo khổ và dân lao động; văn nhân biến thành chiến sĩ, diễn
thuyết khắp nơi, rất nhiệt thành về các vấn đề xã hội; sau thu nhập
những diễn văn ấy xuất bản thành tập Vấn đề xã hội (Questione
sociale, l894). Đảng mình bị khủng bố dữ, De Amicis vẫn chiến
đấu không ngừng. Những cuộc nổi dậy của quần chúng nghèo khổ
và những đợt đàn áp của chính quyền tư sản đều được lấy làm đề
tài cho luận văn chính trị Nội chiến (Lotte civili, 1899).
Trong cuộc đời mình, chưa đến hai mươi tuổi nhà văn Ý ấy đã
chiến đấu cho độc lập và thống nhất của đất nước, ngoài bốn mươi
tuổi lại phải đấu tranh cho đến trọn đời vì thắng lợi của công bằng
xã hội; và De Amicis qua đời ở Bordighera tỉnh Genova, ngày 12
tháng ba năm 1908, hưởng thọ 61 tuổi.
Cầm bút hơn bốn mươi năm, một nửa thời gian De Amicis
chuyên viết du ký và phê bình văn học, một nửa viết về các chủ đề
chính trị và xã hội, tác phẩm để lại cũng khá nhiều và sinh thời của
tác giả cũng gây ra tiếng vang không ít; nhưng mà thành công nhất
có lẽ lại là hai cuốn sách nhỏ viết nhẹ nhàng, thoải mái, tựa hồ
chẳng đòi hỏi của tác giả lắm công phu, nhiều nhiệt tình như mọi
cuốn khác: Những người bạn dí dỏm, thân mật, đầy lòng thương
người, và nhất là Tấm lòng (Cuore) mà thế giới quen gọi là Những
tấm lòng cao cả, ra đời vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, và
gần một trăm năm nay đã làm cho De Amlcis nổi tiếng khắp thế
giới. Nhưng được như vậy chính là vì cuốn Cuore ấy mang một
hoài bão thiết tha của tác giả, “bấy lâu nay một chút lòng…”
Hoài bão xây dựng đạo đức cho thế hệ tương lai
Một cậu bé người Ý, Enrico Bottini, hàng ngày ghi lại những
việc lớn nhỏ diễn ra trong đời học sinh của cậu, những cảm tưởng
và suy nghĩ của cậu thành một cuốn nhật ký. Mỗi tháng, thầy giáo
cho phép một truyện để đọc trong lớp, mỗi tháng, bố hay mẹ viết
cho con một lá thư; các thư và truyện ấy đều được xếp vào cuốn
nhật ký. Ghi chép trong mười tháng, đó là một cuốn truyện nhỏ về
năm học của cậu bé mười một tuổi.
Nhân vật trong nhật ký là các cô giáo, thầy giáo, các bạn học
của Enrico, là bố, mẹ Enrico, cùng bố mẹ các bạn; mỗi người một
vẻ, có một đặc điểm nhất định về mặt thể chất hay tinh thần, nhất là
các bạn của Enrico. Tính cách các nhân vật đã được cách điệu hóa
để tiêu biểu cho một nết tốt, hay chỉ là một thói quen, vì đấy không
phải là một tác phẩm phản ánh nền giáo dục ở nước Ý cuối thế kỷ
XIX, mà là một tác phẩm mượn hình tượng nghệ thuật để trình bày
những điều suy nghĩ về đức dục ở nhà trường và gia đình, mà tác
giả mang trong óc như một lý tưởng, và trong lòng như một hoài
bão. Trong các trang nhật ký của mình, Enrico không phải chỉ ghi
những việc mà ở trường có vai trò của cô giáo, thầy giáo, mà còn
chép cả những việc ở nhà có vai trò của bố mẹ mình, lại cũng
không bỏ qua một số việc xảy ra ngoài phố với sự tham gia của
người ngoài. Rõ ràng De Amicis quan niệm rất đúng rằng muốn
dạy đạo đức cho trẻ, phải có ba mặt giáo dục tốt: của nhà trường,
của gia đình và của xã hội. Cô giáo, thầy giáo trước tiên phải
thương yêu học trò. Coretti vác củi từ năm giờ sáng, vào lớp ngủ
thiếp đi, thầy Perboni để đến hết giờ mới đánh thức dậy, rồi ôm đầu
cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy không mắng đâu.
Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải làm lụng nhiều”. Cuối
năm, học sinh thi đều khá; để làm cho họ vui, thầy giáo tóc đã hoa
râm và không bao giờ cười ấy lại làm bộ trượt chân, phải bám vào
tường cho khỏi ngã. Phải chăng đó là “cái phút vui độc nhất của
thầy? một sự đền bù cho chín tháng trời yêu thương, kiên nhẫn và
phiền muộn nữa?” Enrico ghi vào nhật ký như thế. Thầy có vật kỷ
niệm là ảnh các học trò cũ tặng, đã ngoài hai mươi năm thầy treo
đầu giường và nói: “Khi sắp chết, thì cái nhìn cuối cùng của thầy sẽ
quay về họ”.
Cụ già Crosetti, sau sáu mươi năm dạy học, vẫn chưa muốn
nghỉ - ở nước Ý thuở ấy cô giáo, thầy giáo không có lệ phải về hưu,
vì kinh nghiệm và lương tâm của nhà giáo càng thâm niên càng
được xã hội quý trọng - nhưng vì run tay trót đánh rơi một giọt
mực lên trang vở của học sinh, cụ đành phải xin về. Và cụ tâm sự:
“Thật lả cay đắng, cay đắng hết sức… tôi hiểu rằng cuộc đời với tôi
như vậy là hết rồi, không có trường học nữa, không còn có sức trẻ
nữa, tôi cũng không sống được bao lâu nữa”. Sau sáu mươi năm tận
tụy với nghề, cụ giáo Crosetti chỉ có một căn nhà trống trải, tấm
ván tồi tàn làm giường ngủ, mẩu bánh mì với chai dầu làm bữa ăn,
khiến cho học trò đã hai thứ tóc trên đầu, không khỏi suy nghĩ: “Đó
là tất cả phần thưởng của thầy”. Nhiều cô giáo, thầy giáo đã xem
nghề mình là lẽ sống, là cuộc đời của mình. Và ở trường học cũng
có những liệt sĩ hy sinh như ở chiến trường. Cô giáo lớp một trên
của Enrico ho không ngớt, nhưng tiếng của cô luôn luôn át cả lớp
học, cô nói không nghỉ để học sinh nhỏ không thể lơ đễnh được.
Cô có thể sống thêm nếu xin nghỉ dạy, nhưng không muốn xa học
trò, cô cứ dạy cho hết năm, và cô đã mất ba ngày trước khi dạy hết
chương trình.
Vĩnh biệt học trò cô ôm hôn tất cả, rồi vừa khóc vừa chạy
nhanh ra khỏi lớp. Cô để lại cho học trò tất cả những gì cô có trên
đời, và trước khi chết, yêu cầu thầy hiệu trưởng đừng cho học trò đi
theo đám tang, sợ các em khóc. Qua bút mực của trẻ con, De
Amicis đã viết một thiên trường ca cảm động về nghề dạy học, với
những hình tượng cô giáo, thầy giáo, tuy chỉ có vài nét chấm phá,
nhưng không dễ mà quên được. Trong gia đình Enrico, tháng nào
bố hay mẹ cũng viết cho con một lá thư, không phải vì đi đâu gửi
về, mà ở ngay trong nhà viết đưa cho con đọc và suy nghĩ; thư thì
khuyên răn, thư thì cảnh cáo, có khi là trách mắng. Đó là những
trường hợp phải “nói chuyện” với con một cách trang nghiêm.
Trong một xã hội văn minh, những người bố, mẹ không phải chỉ là
trông nom, săn sóc con mình, mà còn biết quan tâm đến con người
khác, đến trẻ nói chung nữa. Có một trang ký của Enrico riêng tả
“những người bố, mẹ học sinh”, chẳng qua De Amicis đã mượn bút
của trẻ để nói chuyện với người lớn. Và vì thế mà Những tấm lòng
cao cả không phải chỉ là một cuốn sách riêng dành cho thiếu nhi,
mà lại còn là một cuốn sách viết cho cô giáo, thầy giáo cho bố mẹ
học sinh và cho những người lớn trong xã hội nữa.
Và đối với các bạn đọc ấy của mình, De Amicis muốn nói gì
về vấn đề dạy dỗ con trẻ?
Dạy trẻ nên dạy những gì?
Trước tiên trẻ phải thật thà, không được dối trá, dù có lợi cho
mình, hay là chỉ để tránh nguy hiểm thời. De Amicis qua lời
Garrone khuyên Garoffi thú tội, rồi lời ông Bottini dạy con, mấy
lần nhắc rằng thật thà là một bổn phận. Trong các tính xấu, De
Amicis muốn trẻ tránh nhất là tính hèn nhát. Thầy Perboni hiền từ
như thế, nhưng khi bọn thằng Franti xúm lại đánh Crossi, đã phải
nổi cơn thịnh nộ chính đáng: “Các cậu đi làm một việc hèn hạ nhất
và nhục nhã nhất, có thể bôi nhọ lương tâm con người: các cậu là
những kẻ hèn nhát!” Lạm dụng lòng tốt của người khác cũng là
hèn: khi cả lớp làm ồn trong giờ thầy phụ giáo trẻ tuổi, Garrone
chỉnh các bạn: “Các cậu lạm dụng lòng tốt của thầy, việc làm của
các cậu hèn nhát lắm”.
Đầu năm học, ông Bottini viết cho Enrico lá thư gợi lên hình
ảnh trẻ em tất cả các nước trên thế giới đi đến trường học như một
đạo quân lớn, để khuyên con: “Đừng bao giờ làm một người lính
nhát gan”. De Amicis quan niệm rằng lười biếng cũng là hèn nhát
vì thiếu chí khí, thiếu quyết tâm trong bổn phận học tập. Trong bức
thư viết cho Enrico, không có lá thư nào của ông bà Bottini mà
nghiêm khắc như hai bức thư trách mắng con thiếu lễ độ khi ăn nói
với bố mẹ. “Thà rằng bố phải thấy con chết đi, còn hơn là thấy con
bội bạc với mẹ con…” Con còn phải giúp đỡ bố mẹ nữa: Giulio
bốn tháng trời thức thâu đêm viết thuê giúp bố, nhưng giấu bố, dù
phải cay đắng chịu đựng những lời trách cứ bất công vì hiểu lầm
của bố. Thầy giáo lại cho Enrico đọc nhiều truyện rất cảm động
như Ferruccio đưa thân đón lưỡi dao của tên côn đồ hạ sát bà
ngoại, và hy sinh để cứu sống bà, như Marco mười ba tuổi, đi tìm
mẹ sáu mươi ngày không nghỉ, vượt đại dương bao la, ngược
những dòng sông xa lạ, qua những sa mạc hoang vu, những núi
rừng bí hiểm, chịu đói rét, ốm đau, mê sảng, để cho người lạ hành
hạ đánh chửi, nhưng cứ phía trước mà đi, cho kỳ đến khi gặp lại
mẹ. Dạy trẻ những bổn phận đối với bố mẹ và gia đình là việc nhà
trường làm, thì dạy trẻ những bổn phận đó với thầy, với bạn, với
nhà trường lại là việc của gia đình; dường như De Amicis đã có ý
phân công như vậy. Học sinh kính yêu cô giáo, thầy giáo vì bố mẹ
họ kính yêu, và vì trong xã hội cô giáo, thầy giáo cũng được mọi
người kính yêu nữa. Ngày phát phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc
buổi lễ, nhắc học sinh: “Ra khỏi đây các cháu không được quên gửi
một cái chào và một lời cám ơn đến những người đã vì các cháu mà
không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức mạnh
của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu, những người
sống chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông chỉ tay về phía các
cô giáo, thầy giáo.
Trường học là một gia đình, học sinh như anh em phải thương
yêu nhau, và muốn có tình thương yêu chân thành tất cả phải chống
một số tính xấu. Cần dạy trẻ không nên chưng diện và khoe
khoang, Votini vì luôn nghĩ đến mình, nên không những khoe
khoang, mà còn tự phụ, đố kỵ, ghen ty với các bạn nữa, và thầy
Perboni phải bảo dè chừng: “Đừng để cho con rắn ghen tị luồn vào
tim. Đó là con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái
tim”. Muốn có tình bạn tất phải để và biết sống vì bạn: Enrico mời
Precossi đến nhà chơi “những muốn đem biếu cậu tất cả đồ chơi và
tất cả sách học của mình, muốn nhịn miếng bánh mỳ cuối cùng
đang ăn để nhường cậu ăn, muốn tự lột hết áo quấn để nhường cậu
mặc”. Thư ông Bottini nói với con “tại sao cậu yêu đất nước của
cậu” kết thúc rằng giá trong một trận chiến đấu vì Tổ quốc mà con
trốn tránh nguy hiểm “thì bố của con sẽ đón con với một tiếng nấc
đau đớn; và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim”. Thầy
Perboni thì cho học sinh đọc hai truyện thiếu niên anh hùng: Cậu
bé đánh trống người Sardegna, trong trận Custoza bị đạn vẫn cố
làm tròn nhiệm vụ, nên phải cưa một chân, và trên bàn mổ không
hề kêu một tiếng. Cậu bé trinh sát người Lombard, chẳng ở trong
quân đội, đã hy sinh tính mạng trong khi do thám tình hình địch
cho nghĩa quân. Thi hài nhỏ bé của cậu quấn lá cờ ba màu, và nét
mặt cậu như đang mỉm cười, sung sướng và tự hào vì đã hiến đời
mình cho xứ Lombardia thân yêu của mình. Ông Bottini lại viết thư
dạy cơn yêu “thành phố quê hương của con”, xác định cho con
những bổn phận phải làm ở ngoài đường phố, nhắc con rằng tỏ ra
có giáo dục ở nơi công cộng là tôn trọng quê hương mình. “Trình
độ giáo dục của một dân tộc có thể đánh giá qua thái độ của con
người trên đường phố. Ở đâu mà thấy cảnh thô lỗ diễn ra ngoài
đường phố thì có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong
các gia đình vậy”.
Nói chuyện về những trẻ mù, thầy giáo khêu lên trong lòng
học sinh tình thương những bạn xấu số ấy; trẻ em phải được giáo
dục lòng nhân đạo. Trong các bạn của Enrico thì Franti là đứa khốn
nạn, vì “cái thằng bụng dạ độc ác ấy” ai khóc thì nó cười, “chẳng
động lòng vì bất cứ cái gì”. Thấy một gánh xiếc, đàn bà trẻ con lao
động nghệ thuật vất vả gian khổ, nguy hiểm, ông Bottini viết báo
ca tụng cậu bé làm xiếc, khiến người xem nô nức kéo đến chật rạp,
giúp cho gánh xiếc. Biết có người đàn bà gặp cảnh túng thiếu, bà
Bottini liền cùng hai con đến giúp quần áo tiền bạc, và ra về ôm
hôn đứa con người đàn bà nghèo khổ, mà mắt đẫm lệ. Viết thư cho
con, bà dạy “đừng quen thói dửng dưng đi qua trước người nghèo
khổ, phải biết giúp đỡ cụ già không nơi nương tựa, bà mẹ không có
bánh ăn, đứa bé đang đói, đứa con mất mẹ”, nhắc rằng đó là
“những đức hạnh không thể bỏ qua”. Thầy giáo thì kể chuyện
“Cicillo năm ngày đêm liền trông nom săn sóc một người ốm nặng
tưởng là bố mình, đến khi biết là lầm, vẫn ở lại với người bệnh, dù
không biết bác ấy là ai”. Nhật ký của Enrico ghi lại việc Robetti lao
mình ra trước chiếc xe đang chạy cứu em bé; rồi ở lại bệnh viện ra,
đi học phải chống nạng như nhảy lò cò. Một chuyện khác của thầy
giáo kể việc Mario đi biển bị đắm tàu, được xuống xuồng cấp cứu,
đã nhường cho người bạn đường mới quen, vì bạn còn bố mẹ, mà
mình thì côi cút, tứ cố vô thân thích. Tàu đắm, “cậu bé đứng ở mạn
tàu, đầu ngẩng cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt
vời”; việc hy sinh của cậu đã đạt đến đỉnh của lòng nhân ái. Sống
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, De Amicis thấy phải dạy trẻ yêu quý
lao động tay chân và kính trọng những người lao động, vì “sự cao
quý ở lao động chứ không ở trong đồng lương, ở trong giá trị chứ
không ở trong cấp bậc”. De Amicis muốn trẻ phải yêu, phải kính,
trên tất cả mọi sự ở đời phải tôn trọng những người lính trong mặt
trận lao động, những nỗi vất vả và sự hy sinh của họ. “Phải thương
yêu họ vì trong lồng ngực của những người thợ ấy có những trái
tim tuyệt vời”. DeAmicis rất thiệt thà dạy trẻ ý thức mình đang
giữa mọi người. Trong các bài học mà Enrico cho rằng Carlo Nobis
có thể sánh với Franti vì nó quá tự phụ là quý tộc và giàu có. Xã
hội Ý thời bấy giờ nhiều người nghèo khổ, lắm nỗi bất công. Nghĩ
đến mùa đông, ông Bottini, hay chính De Amicis không cầm được
lòng thương xót những trẻ không có áo quần, cũng không có giày,
cũng không có lửa sưởi. Lòng thương xót ấy có khi chuyển thành
lòng phẫn nộ, và bà Bottini viết thư cho con, hay chính là De
Amlcis nói với bạn đọc của mình, giọng rít lên đầy uất hận: “Thật
là buồn khi nghĩ rằng có những đàn bà và trẻ em không có gì mà ăn
cả! Không có gì mà ăn cả, lạy Chúa tôi!”
Dạy trẻ nên dạy thế nào?
Dạy trẻ phải dịu dàng, nhân từ, nhưng trước lỗi lầm của trẻ thì
vẫn nghiêm khắc. Có lỗi với bạn, ngỡ bạn đánh, Enrico cầm thước
kẻ giơ lên, nhưng thấy bạn làm lành, liền ôm chầm lấy bạn: về nhà
kể cho bố nghe, tưởng bố vui lòng, nào ngờ bố mắng: “Con không
được giơ thước dọa một đứa bé tốt hơn con, dọa con trai của một
quân nhân!” Rồi bố giật cái thước bẻ làm đôi.
Người giáo dục khéo cần lợi dụng mọi việc diễn ra, dù lớn dù
nhỏ, để uốn nắn ngay tính nết của trẻ… Thấy Enrico đi qua trước
mặt một người mẹ đói khổ bế con đi xin ăn, mà cứ dửng dưng, bà
Bottini viết ngay thư dạy con bổn phận đối với người nghèo. Ngoài
phố, thấy con và phải một người khách qua đường, ông Bottini viết
ngay thư dạy con thái độ trên đường phố. Nhưng việc giáo dục phải
tiến hành rất thận trọng và tế nhị. Bạn con đến chơi, ngồi đầy bàn
ghế, ông Bottini ngăn không cho con phủi ghế trước mặt bạn; bạn
con gù lưng, ông cất bức tranh anh hề gù treo trong phòng khách
cho bạn con khỏi phải trông thấy. Cùng con đi giúp nhà nghèo,
không ngờ đấy lại là nhà bạn con, bà Bottini ngăn không cho con
gọi bạn, sợ bạn tủi; nhưng khi bạn trông thấy chạy ra thì liền đẩy
hai trẻ lại cho ôm chầm lấy nhau như hai anh em ruột. Tháng sáu
trẻ ngồi học mà như sắp lên cơn điên, bà Bottini nhắc con là có
những trẻ phải làm lụng ngoài đồng dưới mặt trời đổ lửa, hay bên
bờ sông cuội sỏi cháy bỏng, hay trong sưởng thủy tinh mặt lúc nào
cũng cúi sát lò lửa, phải bắt đầu ngày lao động rất sớm, và chẳng
bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè. Ông Bottini thì đem con đi thăm
những lớp học buổi tối dạy những quân nhân, những người lao
động, để cho con “ngạc nhiên và khâm phục” thái độ tập trung
chăm chú của họ. Lấy việc tốt trong xã hội dạy trẻ đã đành, người
giáo dục lại còn phải tự mình làm gương, làm mẫu cho trẻ noi theo
nữa; muốn con nhớ ơn thầy, ông Bottini đem con đi tìm thầy học
của mình để tỏ lòng biết ơn.
Khi mới ra đời, Những tấm lòng cao cả cũng bị một số dư
luận phê bình khá gay gắt, nào là tính cách nhân vật chỉ một chiều,
cách điệu hóa quá thành ra sơ lược, nào là giọng văn cảm thương
quá đáng có khi thành xót xa. Tất nhiên đó là những chỗ yếu rõ
ràng của cuốn sách, nhưng thời gian - người đánh giá công bằng và
đúng đắn nhất - đã công nhận Những tấm lòng cao cả là tác phẩm
có giá trị, không những về nội dung mà cả về văn chương nữa. De
Amicis xây dựng những truyện dù tình tiết có ly kỳ đến mấy, như
Cậu viết thuê, vẫn kết cấu chặt chẽ, các sự kiện diễn ra tự nhiên,
mà cách kể truyện thì linh hoạt nhanh gọn, sắc sảo như trong Một
vụ đắm tàu làm người đọc lắm phen hồi hộp, như trong truyện Cậu
bé đánh trống người Sardegna, và nhất là Từ mạch Appennini đến
mạch Andes và Người y tá của Tata.
Nhiều truyện đã kết thúc mà để người đọc cứ bùi ngùi mãi
không thôi; cậu bé làm xiếc lấy tay áo quệt trái lớp phấn trên mặt
gửi lên hai má của ân nhân mình hai cái hôn đáng yêu; ông đại úy
già chưa từng nói với ai một lời dịu dàng bao giờ, tay đưa từ từ và
mắt nhìn chằm chằm, chào Cậu bé đánh trống người Sardegna,
chào rồi dang rộng tay ra ôm chầm lấy cậu, siết chặt vào lòng và
hôn ba lần; chào và hôn vì cậu xứng đáng với một người anh hùng
chân chính. Cicillo sau bảy ngày đêm liền săn sóc tận tình người
ốm không quen biết, đến khi người bất hạnh cuộc đời mới “ôm bọc
quần áo cũ của mình, chầm chậm bước ra, người mệt lả, lên
đường”, và tác giả kết thúc bằng chỉ mấy chữ: “Rạng đông vừa
hừng sáng…”
Trong Một vụ đắm tàu, Mario nhận lấy cái chết để cho người
bạn đường được sống, truyện cũng kết thúc bằng hai câu ngắn:
“Giulietta úp mặt vào hai tay. Khi cô ngửng đầu lên và nhìn ra biển,
chiếc tàu đã biến mất rồi…” “Rạng đông vừa hừng sáng” và “chiếc
tàu đã biến mất rồi”, chỉ đơn giản thế thôi, nhưng dù kết cục của
truyện người đọc đã đoán biết trước rồi, đọc đến những câu cuối
như thế ít ai có thể để lòng dửng dưng, và không ít người tuy đã
học đi học lại nhiều lần vẫn khó mà cầm được nước mắt. Văn hay
họ phải dải lời. Nhiều đoạn trong Những tấm lòng cao cả đã làm
người đọc xúc động như thế, lại có những đoạn rất thuyết phục vì
lời văn hùng hồn, nhất là những bức thư bố mẹ viết cho con; mà
nhiều bức đã được trích vào sách giáo khoa ở nhiều nước, nổi tiếng
hơn cả là bức thư về Trường học. Truyện đọc hàng tháng cũng
nhiều truyện được trích như thế. Enrico có ghi trong nhật ký là khi
chép truyện Cậu bé trinh sát người Lombard, Derossi “rơm rớm
nước mắt, run run đôi môi”.
Sức tác động của văn chương thấm sâu vào lòng người. Nghệ
thuật văn chương là công cụ giáo dục tốt, vì giáo dục phải tiến
hành có nghệ thuật, và giáo dục chính là một nghệ thuật. Trong văn
học Ý, Những tấm lòng cao cả không giữ địa vị một đại tác, nhưng
trong sự nghiệp giáo dục của một thế giới thì đã có tác dụng không
nhỏ, chính vì nội dung rất tốt của tác phẩm, dù cũng có ít nhiều
điều không lấy gì làm hay. Mỗi xã hội, mỗi thời đại giáo dục con
em mình theo yêu cầu của mình, dựa vào những nguyên lý cơ bản
của khoa học giáo dục của mình; tất nhiên là như vậy. Nhưng tác
phẩm của những thời đã qua mà có những điều tốt đẹp, khiến cho
tồn tại và lưu truyền thì vẫn có ích lợi thiết thực và cần nghiên cứu,
tham khảo.
Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis là một trong
những tác phẩm như vậy.
Hoàng Thiếu Sơn
THÁNG MƯỜI
Ngày khai trường
[2]
Torino thứ hai 17
Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng nghỉ hè của chúng
tôi đã đi qua như một giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi dắt tôi đến phân
hiệu Baretti để ghi tên tôi vào lớp ba. Còn tôi thì mải nhớ thôn quê,
tôi đến trường chỉ là miễn cưỡng. Tất cả các đường phố đều tấp nập
học sinh, đông như kiến. Hai cửa hiệu bán sách chật những bố mẹ
học sinh vào mua nào vở, nào giấy thấm, nào cặp sách bằng da…
Trước trường, người đông đến nỗi ông gác cổng và người cảnh
binh đều phải chật vật lắm mới giữ được thông lối ra. Chúng tôi
sắp bước qua cổng thì thấy có người đặt tay lên vai mình: đó là
thầy giáo lớp hai của tôi, có mái tóc hung, bù xù và tính vui vẻ
không bao giờ cạn. Thầy bảo tôi: “Chúng ta thế là xa nhau mãi rồi,
phải không Enrico?”
Tôi cũng biết như vậy, thế mà lời nói của thầy vẫn làm cho
lòng tôi nặng trĩu. Chúng tôi phải chật vật lắm mới vào được
trường. Những ông, những bà, những phụ nữ thường dân, những
công nhân, những sĩ quan, những bà cụ và những người giúp việc,
ai cũng tay dắt một trẻ em, tay mang những cái gói, làm huyên náo
cả phòng đợi và các thang gác.
Tôi vui thích thấy lại căn phòng rộng ở tầng dưới thông với
bảy lớp học, mà suốt ba năm gần như ngày nào tôi cũng đi qua.
Người đông nghịt. Các cô giáo đi đi, lại lại. Một cô giáo lớp một
đứng trên ngưỡng cửa của lớp cô, chào tôi và nói:
- Enrico, năm nay con học trên gác, và cô sẽ không còn thấy
con đi qua đây nữa.
Rồi cô nhìn tôi có vẻ buồn. Tôi trông thấy thầy hiệu trưởng,
mà bộ râu hình như có bạc hơn năm ngoái một ít, đang bị vây giữa
những bà mẹ khá phật ý vì không còn chỗ để cho con họ vào học
nữa. Tôi thấy nhiều bạn tôi lớn lên nhiều. Ở tầng dưới, học sinh
chia xong vào các lớp, người ta thấy các em học những lớp vỡ lòng
không chịu vào lớp, cứ đẩy nhau như những con lừa con; người ta
phải lôi chúng vào; vài em bỏ chạy không chịu ngồi ghế, nhiều em
khác òa lên khóc khi thấy bố mẹ ra về. Những ông bố, bà mẹ ấy
phải quay lại để khuyến khích hoặc dỗ dành con; còn các cô giáo
trông thấy vậy cũng có nhiều thất vọng.
Em trai tôi được vào lớp của cô giáo Delcati, tôi học lớp thầy
giáo Perboni ở gác hai. Đến mười giờ thì tất cả chúng tôi đều đã
vào lớp hết; năm mươi bốn học sinh tất cả. Trong đám ấy tôi chỉ
gặp lại chưa đến mười lăm, mười sáu bạn cũ lớp hai; trong đó có
Derossi, cái cậu bao giờ cũng được giải nhất. Trường học đối với
tôi có vẻ nhỏ hẹp và buồn tẻ làm sao so với rừng núi mà tôi đã đến
ở chơi mấy tuần qua. Tôi lại còn nhớ tiếc thầy giáo lớp hai của tôi,
thầy tốt làm sao, và lúc nào cũng cười với tôi. Người thầy nhỏ nhắn
đến nỗi làm cho chúng tôi cứ tưởng như là một người bạn. Tôi tiếc
không được thấy thầy ở đây, với mái tóc hung bù xù của thầy nữa.
Thầy giáo năm nay của chúng tôi người cao lớn, không có
râu, tóc dài đã hoa râm hết, có một nếp nhăn trên trán, tiếng nói rất
to; thầy nhìn chúng tôi chằm chằm hết đứa này đến đứa khác, như
muốn đọc rõ tận trong lòng chúng tôi. Thầy không bao giờ cười.
Tôi thầm nghĩ: “Hôm nay là ngày đầu tiên đây. Hãy còn
những mười tháng nữa mới lại nghỉ hè. Trước mắt biết bao là công
việc, là bài thi, là khó nhọc!” Tan học, tôi cần phải gặp mẹ tôi, và
tôi chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ bảo: “Gắng lên, Enrico của mẹ. Mẹ con
ta sẽ cùng học với nhau!”. Thế là tôi vui vẻ về nhà. Thôi cũng
được! Tôi không còn học với thầy giáo cũ tươi cười thế, vui tính
thế và tốt bụng thế; nhà trường đối với tôi hình như cũng chẳng
thích thú bằng năm ngoái… Nhưng thôi cũng được.
Thầy giáo mới
Thứ ba 18
Thầy giáo mới ngay từ sáng hôm nay đã làm cho tất cả chúng
tôi đều rất thích.
Khi chúng tôi đang lần lượt vào lớp, và thầy đã ngồi vào chỗ
của mình, chốc chốc chúng tôi lại thấy những học trò của thầy năm
ngoái, đi qua đều bước vào cửa chào thầy. “Chào thầy ạ! Chào thầy
Perboni ạ!”. Có những cậu bước vào bắt tay thầy, rồi vội vàng chạy
ra. Rõ ràng đám học trò cũ đều rất mến thầy, và rất muốn lại được
học với thầy nữa. Còn thầy thì chỉ thấy trả lời đơn giản: “Chào
cậu”, và bắt những bàn tay chìa ra phía thầy, nhưng chẳng nhìn ai
cả. Mỗi lần chào lại, thầy đều nghiêng mình vẻ nghiêm trang, mặt
quay về phía cửa sổ, nhìn sang mái nhà trước mặt. Đáng lẽ làm cho
thầy vui, thì những sự biểu lộ tình cảm của học trò cũ hình như làm
cho thầy đau khổ. Rồi lại đến lượt thầy nhìn chúng tôi, những học
trò mới, hết đứa này đến đứa khác, một cách chăm chú. Vừa đọc
chính tả, thầy vừa bước xuống bục và đi vào giữa các dãy bàn của
chúng tôi. Chợt nhìn thấy một cậu mặt đỏ ửng và đầy những nốt
sưng nhỏ, thầy liền ngừng đọc, lấy hai tay ôm đầu cậu bé, hỏi cậu
làm sao, rồi sờ trán xem cậu có sốt không. Trong lúc đó thì ở sau
lưng thầy một cậu đứng ngay lên trên ghế và bắt đầu múa như con
rối.
Thầy giáo quay ngoắt lại, cậu ta hoảng hốt vội ngồi xuống và
cúi gầm mặt, chắc chắn thế nào cũng bị mắng một trận. Nhưng thầy
Perboni đặt tay lên vai cậu bé dại dột và nói: “Đừng làm thế nữa
nhé!”. Chỉ thế thôi. Rồi thầy lại trở về chỗ và đọc nốt bài chính tả.
Xong bài chính tả, thầy lặng thinh nhìn chúng tôi một lúc, rồi
nói với chúng tôi, giọng thầy rất to, nhưng hết sức hiền từ: “Nghe
đây, các con ạ! Chúng ta sẽ sống chung với nhau cả một năm, thầy
trò ta đều cố gắng làm sao cho năm nay thật tốt. Các con phải chăm
và ngoan. Thầy không có gia đình. Chính các con sẽ thay cho gia
đình của thầy. Năm ngoái thầy còn mẹ; nhưng nay mẹ thầy đã mất
rồi. Nay thầy chỉ có một mình, thầy chỉ còn các con trên đời này
nữa thôi. Thầy chẳng còn ý nghĩ nào, tình cảm nào ngoài các con
ra. Các con phải là đàn con của thầy. Thầy sẽ rất thương các con,
và các con cũng phải thương thầy. Thầy không muốn phải phạt một
ai. Các con hãy tỏ ra cho thầy thấy là những đứa trẻ chân thành,
dũng cảm. Trường học của chúng ta sẽ là một gia đình, và các con
sẽ là niềm an ủi và niềm tự hào của thầy. Thầy không yêu cầu các
con phải trả lời, vì thầy tin chắc rằng trong lòng tất cả các con đều
đã nói “vâng ạ”, và thầy xin cám ơn các con”.
[3]
Vừa lúc ấy thì người gác cổng vào báo hết giờ học . Tất cả
chúng tôi đều im lặng ra khỏi lớp. Cậu học trò lúc nãy đứng lên ghế
làm trò, bước lại gần thầy, và hỏi thầy giọng run run: “Thưa thầy,
thầy có tha lỗi cho con không ạ?”.
Thầy giáo hôn vào trán cậu và nói: “Thế là tốt con ạ! Thôi con
về đi”.
Một tai nạn
Thứ sáu 21
Năm học đã bắt đầu bằng một tai họa. Sáng nay, trên đường đi
học, tôi đang kể lại cho bố nghe những lời nói chân thành của thầy
Perboni, thì bỗng thấy đường phố đông nghịt những người. Họ
dừng lại trước cổng trường thị xã. Bố kêu lên:
- Chắc đã xảy ra tai nạn gì rồi!
Chúng tôi phải len vào trường một cách rất khó khăn. Căn
phòng lớn chật ních bố mẹ học sinh, và cả học sinh mà các thầy
giáo không tài nào cho vào lớp được. Tất cả mọi người đều nhìn về
phía cửa phòng thầy hiệu trưởng, và có người nói: “Tội nghiệp cậu
bé! Tội nghiệp Robetti!”. Ở tít đằng cuối phòng lớn, người ta thấy
nhô lên trên đám đông cái mũ của một người cảnh vệ thị xã và cái
đầu hói của thầy hiệu trưởng. Một ông đội mũ cao vừa đi vào, và
người ta thì thầm: “Kìa, bác sĩ”.
Bố tôi hỏi một thầy giáo: “Việc gì vậy, thưa thầy?”.
Thầy giáo trả lời: “Xe đè lên chân cậu ấy”.
Một người khác tiếp lời: “Và đã nghiến nát bàn chân cậu ta”.
Người bị nạn là một học sinh lớp hai. Cậu ta đang đi ở đường
...
 





