LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    Nhung tam long cao ca.pdf

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hoài An
    Ngày gửi: 13h:00' 04-07-2025
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
     

    Những tấm lòng cao cả
    Edmondo De Amicis
    Hoàng Thiếu Sơn dịch
     
     
     

    Nhà xuất bản Hội nhà văn 2000

     

    Nguồn: tve-4u.org
    Tạo ebook lần đầu: motsachgia
    Hiệu đính và tạo ebook lần hai: Caruri
     
     
     

     

    Mục lục
    MỞ ĐẦU
    THÁNG MƯỜI
    Ngày khai trường
    Thầy giáo mới
    Một tai nạn
    Cậu bé xứ Calabria
    Các bạn học của tôi
    Một hành vi hào hiệp
    Cô giáo lớp một trên của tôi
    Trong một căn gác xép
    Trường học
    Cậu bé yêu nước Padova
    THÁNG MƯỜI MỘT
    Cậu bé nạo ống khói
    Bạn Garrone của tôi
    Bác bán than với ông quý tộc
    Cô giáo của em trai tôi
    Mẹ tôi
    Bạn Coretti của tôi
    Thầy hiệu trưởng
    Những người lính
    Người bảo vệ Nelli
    Người đầu lớp
    Cậu bé trinh sát người Lombard
    Những người nghèo khổ
    THÁNG MƯỜI HAI
    Anh chàng kinh doanh
    Tính khoe khoang
    Tuyết đầu mùa
    Cậu bé thợ nề
    Quả cầu tuyết
    Các cô giáo
    Đến nhà người bị thương
    Cậu bé viết thuê người Firenze

    Nghị lực
    Lòng biết ơn
    THÁNG GIÊNG
    Thầy phụ giáo
    Tủ sách của Stardi
    Con trai bác thợ rèn
    Một buổi thăm nhau lý thú
    Franti bị đuổi học
    Cậu bé đánh trống người Sardegna
    Tình yêu nước
    Tính đố kỵ
    Bà mẹ Franti
    THÁNG HAI
    Chiếc huy chương xứng đáng
    Quyết tâm đúng đắn
    Bộ đồ chơi xe lửa
    Tính kiêu ngạo
    Những người bị thương tật vì tai nạn lao động
    Người tù
    Người y tá của tata
    Xưởng thợ
    Cậu bé làm xiếc
    Những trẻ em mù
    Thầy giáo ốm
    Ngoài đường phố
    THÁNG BA
    Những lớp học buổi tối
    Đánh nhau
    Các bố mẹ học sinh
    Người số 78
    Cậu bé chết
    Hôm trước ngày 14 tháng 3
    Lễ phát phần thưởng
    Một vụ cãi lộn
    Máu nóng người Romagna
    Cậu bé thợ nề ốm nặng
    THÁNG TƯ

    Mùa xuân
    Vườn trẻ
    Buổi thể dục
    Thầy giáo của bố
    Dưỡng bệnh
    Những người bạn thợ thuyền
    Bà mẹ Garrone
    Phẩm giá công dân
    THÁNG NĂM
    Hy sinh
    Đám cháy
    Từ mạch Appennini đến mạch Andes
    Mùa hè
    Chất thơ
    Cô gái câm điếc
    THÁNG SÁU
    32 độ
    Bố tôi
    Về đồng quê
    Lễ phát phần thưởng cho công nhân
    Cái chết của cô giáo tôi
    Những lời cảm ơn
    Một vụ đắm tàu
    THÁNG BẢY
    Trang thư cuối cùng của mẹ tôi
    Các buổi thi
    Buổi thi cuối cùng
    Từ biệt



    [1]
    MỞ ĐẦU
     

    Hai mươi tuổi chiến đấu vì độc lập, thống nhất
    Bốn mươi tuổi đấu tranh cho công bằng xã hội
    Trên thế giới, ở nhiều nước người lớn và trẻ em chẳng mấy ai
    không biết nhà văn Ý Edmondo De Amicis. Nhưng nhà văn được
    trẻ em yêu thích ấy lại không phải là người chuyên viết sách về trẻ
    em hay cho trẻ em.
    De Amicis sinh ngày 31 tháng mười năm 1846 ở Oneglia, xứ
    Liguria, trên bờ biển tây bắc bán đảo Ý. Sự nghiệp giải phóng và
    thống nhất Ý bắt đầu từ năm 1820, đến năm 1870 mới hoàn thành
    là phong trào dân tộc lớn nhất lịch sử châu u trong thế kỷ XIX. Khi
    trận Custoza thứ nhất đánh quân xâm lược Áo trong cách mạng
    1848 diễn ra thì chú bé Edmondo chưa được hai tuổi; nhưng trận
    Custoza thứ hai diễn ra, thì người sĩ quan mới tốt nghiệp chưa đầy
    hai mươi tuổi De Amicis đã có mặt trên chiến trường, ngày 24
    tháng sáu 1866 ấy, chiến đấu dưới lá cờ ba màu, trong hàng ngũ
    quân đội Ý. Người thanh niên ấy cũng bắt đầu viết văn, và hai năm
    sau tác phẩm đầu tay ra đời, tập hợp một số truyện vừa dưới nhan
    đề Cuộc đời quân ngũ (La Vita Militare, 1868).
    Nước nhà độc lập, thống nhất rồi, De Amicis từ giã “cuộc đời
    quân ngũ” đi du lịch nước ngoài, để sáng tác theo một thể tài khác:
    thể du ký. Và các tác phẩm kế tiếp nhau ra đời: Tây Ban Nha
    (1873), Hà Lan (l874), Maroc (1876), Constantinopolis (1878-79)
    và cuốn Chân dung văn hào (Ritratti letterari, 1881) được viết để
    tỏ lòng ngưỡng mộ những nhà văn lớn đương thời.

    Thống nhất xong, năm 1871 nước Ý đông dân mà rất nghèo,
    công nghiệp chưa có gì, địa chủ chiếm những diện tích mênh
    mông, dân số tăng nhanh, người Ý phải di cư rất nhiều đến đất
    khách quê người kiếm ăn, mỗi năm trung bình hơn nửa triệu, có
    năm gần một triệu, nhiều nhất thế giới. Di dân là vấn đề rất lớn
    trong đời sống nước Ý, đã được De Amicis chú ý và đầu tiên lấy
    làm đề tài cho một tác phẩm: Trên đại dương (Sull'oceano). Năm
    sau, 1890, lại tiếp theo cuốn Truyện một người chủ (Il romanzo
    d'un maestro).
    Cũng từ năm ấy ở Ý chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh, và
    người theo chủ nghĩa Marx ngày càng đông: trên đảo Sicilia nông
    dân tổ chức những hiệp hội, và từ năm 1893 đã bắt đầu nổi dậy.
    Không sống bàng quan, ngay năm 1891 De Amicis đã tham gia
    Đảng xã hội Ý là thành viên của Đệ nhị Quốc tế, và từ đấy đấu
    tranh không ngừng cho công bằng xã hội, cho đời sống của người
    nghèo khổ và dân lao động; văn nhân biến thành chiến sĩ, diễn
    thuyết khắp nơi, rất nhiệt thành về các vấn đề xã hội; sau thu nhập
    những diễn văn ấy xuất bản thành tập Vấn đề xã hội (Questione
    sociale, l894). Đảng mình bị khủng bố dữ, De Amicis vẫn chiến
    đấu không ngừng. Những cuộc nổi dậy của quần chúng nghèo khổ
    và những đợt đàn áp của chính quyền tư sản đều được lấy làm đề
    tài cho luận văn chính trị Nội chiến (Lotte civili, 1899).
    Trong cuộc đời mình, chưa đến hai mươi tuổi nhà văn Ý ấy đã
    chiến đấu cho độc lập và thống nhất của đất nước, ngoài bốn mươi
    tuổi lại phải đấu tranh cho đến trọn đời vì thắng lợi của công bằng
    xã hội; và De Amicis qua đời ở Bordighera tỉnh Genova, ngày 12
    tháng ba năm 1908, hưởng thọ 61 tuổi.
    Cầm bút hơn bốn mươi năm, một nửa thời gian De Amicis
    chuyên viết du ký và phê bình văn học, một nửa viết về các chủ đề
    chính trị và xã hội, tác phẩm để lại cũng khá nhiều và sinh thời của
    tác giả cũng gây ra tiếng vang không ít; nhưng mà thành công nhất

    có lẽ lại là hai cuốn sách nhỏ viết nhẹ nhàng, thoải mái, tựa hồ
    chẳng đòi hỏi của tác giả lắm công phu, nhiều nhiệt tình như mọi
    cuốn khác: Những người bạn dí dỏm, thân mật, đầy lòng thương
    người, và nhất là Tấm lòng (Cuore) mà thế giới quen gọi là Những
    tấm lòng cao cả, ra đời vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, và
    gần một trăm năm nay đã làm cho De Amlcis nổi tiếng khắp thế
    giới. Nhưng được như vậy chính là vì cuốn Cuore ấy mang một
    hoài bão thiết tha của tác giả, “bấy lâu nay một chút lòng…”
     

    Hoài bão xây dựng đạo đức cho thế hệ tương lai
    Một cậu bé người Ý, Enrico Bottini, hàng ngày ghi lại những
    việc lớn nhỏ diễn ra trong đời học sinh của cậu, những cảm tưởng
    và suy nghĩ của cậu thành một cuốn nhật ký. Mỗi tháng, thầy giáo
    cho phép một truyện để đọc trong lớp, mỗi tháng, bố hay mẹ viết
    cho con một lá thư; các thư và truyện ấy đều được xếp vào cuốn
    nhật ký. Ghi chép trong mười tháng, đó là một cuốn truyện nhỏ về
    năm học của cậu bé mười một tuổi.
    Nhân vật trong nhật ký là các cô giáo, thầy giáo, các bạn học
    của Enrico, là bố, mẹ Enrico, cùng bố mẹ các bạn; mỗi người một
    vẻ, có một đặc điểm nhất định về mặt thể chất hay tinh thần, nhất là
    các bạn của Enrico. Tính cách các nhân vật đã được cách điệu hóa
    để tiêu biểu cho một nết tốt, hay chỉ là một thói quen, vì đấy không
    phải là một tác phẩm phản ánh nền giáo dục ở nước Ý cuối thế kỷ
    XIX, mà là một tác phẩm mượn hình tượng nghệ thuật để trình bày
    những điều suy nghĩ về đức dục ở nhà trường và gia đình, mà tác
    giả mang trong óc như một lý tưởng, và trong lòng như một hoài
    bão. Trong các trang nhật ký của mình, Enrico không phải chỉ ghi
    những việc mà ở trường có vai trò của cô giáo, thầy giáo, mà còn
    chép cả những việc ở nhà có vai trò của bố mẹ mình, lại cũng
    không bỏ qua một số việc xảy ra ngoài phố với sự tham gia của

    người ngoài. Rõ ràng De Amicis quan niệm rất đúng rằng muốn
    dạy đạo đức cho trẻ, phải có ba mặt giáo dục tốt: của nhà trường,
    của gia đình và của xã hội. Cô giáo, thầy giáo trước tiên phải
    thương yêu học trò. Coretti vác củi từ năm giờ sáng, vào lớp ngủ
    thiếp đi, thầy Perboni để đến hết giờ mới đánh thức dậy, rồi ôm đầu
    cậu trong hai tay, hôn vào tóc cậu và nói. “Thầy không mắng đâu.
    Thầy biết là trước khi đến lớp con đã phải làm lụng nhiều”. Cuối
    năm, học sinh thi đều khá; để làm cho họ vui, thầy giáo tóc đã hoa
    râm và không bao giờ cười ấy lại làm bộ trượt chân, phải bám vào
    tường cho khỏi ngã. Phải chăng đó là “cái phút vui độc nhất của
    thầy? một sự đền bù cho chín tháng trời yêu thương, kiên nhẫn và
    phiền muộn nữa?” Enrico ghi vào nhật ký như thế. Thầy có vật kỷ
    niệm là ảnh các học trò cũ tặng, đã ngoài hai mươi năm thầy treo
    đầu giường và nói: “Khi sắp chết, thì cái nhìn cuối cùng của thầy sẽ
    quay về họ”.
    Cụ già Crosetti, sau sáu mươi năm dạy học, vẫn chưa muốn
    nghỉ - ở nước Ý thuở ấy cô giáo, thầy giáo không có lệ phải về hưu,
    vì kinh nghiệm và lương tâm của nhà giáo càng thâm niên càng
    được xã hội quý trọng - nhưng vì run tay trót đánh rơi một giọt
    mực lên trang vở của học sinh, cụ đành phải xin về. Và cụ tâm sự:
    “Thật lả cay đắng, cay đắng hết sức… tôi hiểu rằng cuộc đời với tôi
    như vậy là hết rồi, không có trường học nữa, không còn có sức trẻ
    nữa, tôi cũng không sống được bao lâu nữa”. Sau sáu mươi năm tận
    tụy với nghề, cụ giáo Crosetti chỉ có một căn nhà trống trải, tấm
    ván tồi tàn làm giường ngủ, mẩu bánh mì với chai dầu làm bữa ăn,
    khiến cho học trò đã hai thứ tóc trên đầu, không khỏi suy nghĩ: “Đó
    là tất cả phần thưởng của thầy”. Nhiều cô giáo, thầy giáo đã xem
    nghề mình là lẽ sống, là cuộc đời của mình. Và ở trường học cũng
    có những liệt sĩ hy sinh như ở chiến trường. Cô giáo lớp một trên
    của Enrico ho không ngớt, nhưng tiếng của cô luôn luôn át cả lớp
    học, cô nói không nghỉ để học sinh nhỏ không thể lơ đễnh được.

    Cô có thể sống thêm nếu xin nghỉ dạy, nhưng không muốn xa học
    trò, cô cứ dạy cho hết năm, và cô đã mất ba ngày trước khi dạy hết
    chương trình.
    Vĩnh biệt học trò cô ôm hôn tất cả, rồi vừa khóc vừa chạy
    nhanh ra khỏi lớp. Cô để lại cho học trò tất cả những gì cô có trên
    đời, và trước khi chết, yêu cầu thầy hiệu trưởng đừng cho học trò đi
    theo đám tang, sợ các em khóc. Qua bút mực của trẻ con, De
    Amicis đã viết một thiên trường ca cảm động về nghề dạy học, với
    những hình tượng cô giáo, thầy giáo, tuy chỉ có vài nét chấm phá,
    nhưng không dễ mà quên được. Trong gia đình Enrico, tháng nào
    bố hay mẹ cũng viết cho con một lá thư, không phải vì đi đâu gửi
    về, mà ở ngay trong nhà viết đưa cho con đọc và suy nghĩ; thư thì
    khuyên răn, thư thì cảnh cáo, có khi là trách mắng. Đó là những
    trường hợp phải “nói chuyện” với con một cách trang nghiêm.
    Trong một xã hội văn minh, những người bố, mẹ không phải chỉ là
    trông nom, săn sóc con mình, mà còn biết quan tâm đến con người
    khác, đến trẻ nói chung nữa. Có một trang ký của Enrico riêng tả
    “những người bố, mẹ học sinh”, chẳng qua De Amicis đã mượn bút
    của trẻ để nói chuyện với người lớn. Và vì thế mà Những tấm lòng
    cao cả không phải chỉ là một cuốn sách riêng dành cho thiếu nhi,
    mà lại còn là một cuốn sách viết cho cô giáo, thầy giáo cho bố mẹ
    học sinh và cho những người lớn trong xã hội nữa.
    Và đối với các bạn đọc ấy của mình, De Amicis muốn nói gì
    về vấn đề dạy dỗ con trẻ?
     

    Dạy trẻ nên dạy những gì?
    Trước tiên trẻ phải thật thà, không được dối trá, dù có lợi cho
    mình, hay là chỉ để tránh nguy hiểm thời. De Amicis qua lời
    Garrone khuyên Garoffi thú tội, rồi lời ông Bottini dạy con, mấy
    lần nhắc rằng thật thà là một bổn phận. Trong các tính xấu, De

    Amicis muốn trẻ tránh nhất là tính hèn nhát. Thầy Perboni hiền từ
    như thế, nhưng khi bọn thằng Franti xúm lại đánh Crossi, đã phải
    nổi cơn thịnh nộ chính đáng: “Các cậu đi làm một việc hèn hạ nhất
    và nhục nhã nhất, có thể bôi nhọ lương tâm con người: các cậu là
    những kẻ hèn nhát!” Lạm dụng lòng tốt của người khác cũng là
    hèn: khi cả lớp làm ồn trong giờ thầy phụ giáo trẻ tuổi, Garrone
    chỉnh các bạn: “Các cậu lạm dụng lòng tốt của thầy, việc làm của
    các cậu hèn nhát lắm”.
    Đầu năm học, ông Bottini viết cho Enrico lá thư gợi lên hình
    ảnh trẻ em tất cả các nước trên thế giới đi đến trường học như một
    đạo quân lớn, để khuyên con: “Đừng bao giờ làm một người lính
    nhát gan”. De Amicis quan niệm rằng lười biếng cũng là hèn nhát
    vì thiếu chí khí, thiếu quyết tâm trong bổn phận học tập. Trong bức
    thư viết cho Enrico, không có lá thư nào của ông bà Bottini mà
    nghiêm khắc như hai bức thư trách mắng con thiếu lễ độ khi ăn nói
    với bố mẹ. “Thà rằng bố phải thấy con chết đi, còn hơn là thấy con
    bội bạc với mẹ con…” Con còn phải giúp đỡ bố mẹ nữa: Giulio
    bốn tháng trời thức thâu đêm viết thuê giúp bố, nhưng giấu bố, dù
    phải cay đắng chịu đựng những lời trách cứ bất công vì hiểu lầm
    của bố. Thầy giáo lại cho Enrico đọc nhiều truyện rất cảm động
    như Ferruccio đưa thân đón lưỡi dao của tên côn đồ hạ sát bà
    ngoại, và hy sinh để cứu sống bà, như Marco mười ba tuổi, đi tìm
    mẹ sáu mươi ngày không nghỉ, vượt đại dương bao la, ngược
    những dòng sông xa lạ, qua những sa mạc hoang vu, những núi
    rừng bí hiểm, chịu đói rét, ốm đau, mê sảng, để cho người lạ hành
    hạ đánh chửi, nhưng cứ phía trước mà đi, cho kỳ đến khi gặp lại
    mẹ. Dạy trẻ những bổn phận đối với bố mẹ và gia đình là việc nhà
    trường làm, thì dạy trẻ những bổn phận đó với thầy, với bạn, với
    nhà trường lại là việc của gia đình; dường như De Amicis đã có ý
    phân công như vậy. Học sinh kính yêu cô giáo, thầy giáo vì bố mẹ
    họ kính yêu, và vì trong xã hội cô giáo, thầy giáo cũng được mọi

    người kính yêu nữa. Ngày phát phần thưởng, ông bồi thẩm kết thúc
    buổi lễ, nhắc học sinh: “Ra khỏi đây các cháu không được quên gửi
    một cái chào và một lời cám ơn đến những người đã vì các cháu mà
    không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến tất cả sức mạnh
    của trí thông minh và lòng dũng cảm cho các cháu, những người
    sống chết vì các cháu, và họ đây này” Rồi ông chỉ tay về phía các
    cô giáo, thầy giáo.
    Trường học là một gia đình, học sinh như anh em phải thương
    yêu nhau, và muốn có tình thương yêu chân thành tất cả phải chống
    một số tính xấu. Cần dạy trẻ không nên chưng diện và khoe
    khoang, Votini vì luôn nghĩ đến mình, nên không những khoe
    khoang, mà còn tự phụ, đố kỵ, ghen ty với các bạn nữa, và thầy
    Perboni phải bảo dè chừng: “Đừng để cho con rắn ghen tị luồn vào
    tim. Đó là con rắn độc, nó gặm mòn khối óc và làm đồi bại trái
    tim”. Muốn có tình bạn tất phải để và biết sống vì bạn: Enrico mời
    Precossi đến nhà chơi “những muốn đem biếu cậu tất cả đồ chơi và
    tất cả sách học của mình, muốn nhịn miếng bánh mỳ cuối cùng
    đang ăn để nhường cậu ăn, muốn tự lột hết áo quấn để nhường cậu
    mặc”. Thư ông Bottini nói với con “tại sao cậu yêu đất nước của
    cậu” kết thúc rằng giá trong một trận chiến đấu vì Tổ quốc mà con
    trốn tránh nguy hiểm “thì bố của con sẽ đón con với một tiếng nấc
    đau đớn; và bố sẽ chết với nhát dao găm ấy đâm vào tim”. Thầy
    Perboni thì cho học sinh đọc hai truyện thiếu niên anh hùng: Cậu
    bé đánh trống người Sardegna, trong trận Custoza bị đạn vẫn cố
    làm tròn nhiệm vụ, nên phải cưa một chân, và trên bàn mổ không
    hề kêu một tiếng. Cậu bé trinh sát người Lombard, chẳng ở trong
    quân đội, đã hy sinh tính mạng trong khi do thám tình hình địch
    cho nghĩa quân. Thi hài nhỏ bé của cậu quấn lá cờ ba màu, và nét
    mặt cậu như đang mỉm cười, sung sướng và tự hào vì đã hiến đời
    mình cho xứ Lombardia thân yêu của mình. Ông Bottini lại viết thư
    dạy cơn yêu “thành phố quê hương của con”, xác định cho con

    những bổn phận phải làm ở ngoài đường phố, nhắc con rằng tỏ ra
    có giáo dục ở nơi công cộng là tôn trọng quê hương mình. “Trình
    độ giáo dục của một dân tộc có thể đánh giá qua thái độ của con
    người trên đường phố. Ở đâu mà thấy cảnh thô lỗ diễn ra ngoài
    đường phố thì có thể chắc chắn là sẽ thấy cảnh thô lỗ diễn ra trong
    các gia đình vậy”.
    Nói chuyện về những trẻ mù, thầy giáo khêu lên trong lòng
    học sinh tình thương những bạn xấu số ấy; trẻ em phải được giáo
    dục lòng nhân đạo. Trong các bạn của Enrico thì Franti là đứa khốn
    nạn, vì “cái thằng bụng dạ độc ác ấy” ai khóc thì nó cười, “chẳng
    động lòng vì bất cứ cái gì”. Thấy một gánh xiếc, đàn bà trẻ con lao
    động nghệ thuật vất vả gian khổ, nguy hiểm, ông Bottini viết báo
    ca tụng cậu bé làm xiếc, khiến người xem nô nức kéo đến chật rạp,
    giúp cho gánh xiếc. Biết có người đàn bà gặp cảnh túng thiếu, bà
    Bottini liền cùng hai con đến giúp quần áo tiền bạc, và ra về ôm
    hôn đứa con người đàn bà nghèo khổ, mà mắt đẫm lệ. Viết thư cho
    con, bà dạy “đừng quen thói dửng dưng đi qua trước người nghèo
    khổ, phải biết giúp đỡ cụ già không nơi nương tựa, bà mẹ không có
    bánh ăn, đứa bé đang đói, đứa con mất mẹ”, nhắc rằng đó là
    “những đức hạnh không thể bỏ qua”. Thầy giáo thì kể chuyện
    “Cicillo năm ngày đêm liền trông nom săn sóc một người ốm nặng
    tưởng là bố mình, đến khi biết là lầm, vẫn ở lại với người bệnh, dù
    không biết bác ấy là ai”. Nhật ký của Enrico ghi lại việc Robetti lao
    mình ra trước chiếc xe đang chạy cứu em bé; rồi ở lại bệnh viện ra,
    đi học phải chống nạng như nhảy lò cò. Một chuyện khác của thầy
    giáo kể việc Mario đi biển bị đắm tàu, được xuống xuồng cấp cứu,
    đã nhường cho người bạn đường mới quen, vì bạn còn bố mẹ, mà
    mình thì côi cút, tứ cố vô thân thích. Tàu đắm, “cậu bé đứng ở mạn
    tàu, đầu ngẩng cao, mái tóc bay trước gió, bất động, cao cả, tuyệt
    vời”; việc hy sinh của cậu đã đạt đến đỉnh của lòng nhân ái. Sống
    trong xã hội tư bản chủ nghĩa, De Amicis thấy phải dạy trẻ yêu quý

    lao động tay chân và kính trọng những người lao động, vì “sự cao
    quý ở lao động chứ không ở trong đồng lương, ở trong giá trị chứ
    không ở trong cấp bậc”. De Amicis muốn trẻ phải yêu, phải kính,
    trên tất cả mọi sự ở đời phải tôn trọng những người lính trong mặt
    trận lao động, những nỗi vất vả và sự hy sinh của họ. “Phải thương
    yêu họ vì trong lồng ngực của những người thợ ấy có những trái
    tim tuyệt vời”. DeAmicis rất thiệt thà dạy trẻ ý thức mình đang
    giữa mọi người. Trong các bài học mà Enrico cho rằng Carlo Nobis
    có thể sánh với Franti vì nó quá tự phụ là quý tộc và giàu có. Xã
    hội Ý thời bấy giờ nhiều người nghèo khổ, lắm nỗi bất công. Nghĩ
    đến mùa đông, ông Bottini, hay chính De Amicis không cầm được
    lòng thương xót những trẻ không có áo quần, cũng không có giày,
    cũng không có lửa sưởi. Lòng thương xót ấy có khi chuyển thành
    lòng phẫn nộ, và bà Bottini viết thư cho con, hay chính là De
    Amlcis nói với bạn đọc của mình, giọng rít lên đầy uất hận: “Thật
    là buồn khi nghĩ rằng có những đàn bà và trẻ em không có gì mà ăn
    cả! Không có gì mà ăn cả, lạy Chúa tôi!”
     

    Dạy trẻ nên dạy thế nào?
    Dạy trẻ phải dịu dàng, nhân từ, nhưng trước lỗi lầm của trẻ thì
    vẫn nghiêm khắc. Có lỗi với bạn, ngỡ bạn đánh, Enrico cầm thước
    kẻ giơ lên, nhưng thấy bạn làm lành, liền ôm chầm lấy bạn: về nhà
    kể cho bố nghe, tưởng bố vui lòng, nào ngờ bố mắng: “Con không
    được giơ thước dọa một đứa bé tốt hơn con, dọa con trai của một
    quân nhân!” Rồi bố giật cái thước bẻ làm đôi.
    Người giáo dục khéo cần lợi dụng mọi việc diễn ra, dù lớn dù
    nhỏ, để uốn nắn ngay tính nết của trẻ… Thấy Enrico đi qua trước
    mặt một người mẹ đói khổ bế con đi xin ăn, mà cứ dửng dưng, bà
    Bottini viết ngay thư dạy con bổn phận đối với người nghèo. Ngoài
    phố, thấy con và phải một người khách qua đường, ông Bottini viết

    ngay thư dạy con thái độ trên đường phố. Nhưng việc giáo dục phải
    tiến hành rất thận trọng và tế nhị. Bạn con đến chơi, ngồi đầy bàn
    ghế, ông Bottini ngăn không cho con phủi ghế trước mặt bạn; bạn
    con gù lưng, ông cất bức tranh anh hề gù treo trong phòng khách
    cho bạn con khỏi phải trông thấy. Cùng con đi giúp nhà nghèo,
    không ngờ đấy lại là nhà bạn con, bà Bottini ngăn không cho con
    gọi bạn, sợ bạn tủi; nhưng khi bạn trông thấy chạy ra thì liền đẩy
    hai trẻ lại cho ôm chầm lấy nhau như hai anh em ruột. Tháng sáu
    trẻ ngồi học mà như sắp lên cơn điên, bà Bottini nhắc con là có
    những trẻ phải làm lụng ngoài đồng dưới mặt trời đổ lửa, hay bên
    bờ sông cuội sỏi cháy bỏng, hay trong sưởng thủy tinh mặt lúc nào
    cũng cúi sát lò lửa, phải bắt đầu ngày lao động rất sớm, và chẳng
    bao giờ được nghỉ lễ, nghỉ hè. Ông Bottini thì đem con đi thăm
    những lớp học buổi tối dạy những quân nhân, những người lao
    động, để cho con “ngạc nhiên và khâm phục” thái độ tập trung
    chăm chú của họ. Lấy việc tốt trong xã hội dạy trẻ đã đành, người
    giáo dục lại còn phải tự mình làm gương, làm mẫu cho trẻ noi theo
    nữa; muốn con nhớ ơn thầy, ông Bottini đem con đi tìm thầy học
    của mình để tỏ lòng biết ơn.
    Khi mới ra đời, Những tấm lòng cao cả cũng bị một số dư
    luận phê bình khá gay gắt, nào là tính cách nhân vật chỉ một chiều,
    cách điệu hóa quá thành ra sơ lược, nào là giọng văn cảm thương
    quá đáng có khi thành xót xa. Tất nhiên đó là những chỗ yếu rõ
    ràng của cuốn sách, nhưng thời gian - người đánh giá công bằng và
    đúng đắn nhất - đã công nhận Những tấm lòng cao cả là tác phẩm
    có giá trị, không những về nội dung mà cả về văn chương nữa. De
    Amicis xây dựng những truyện dù tình tiết có ly kỳ đến mấy, như
    Cậu viết thuê, vẫn kết cấu chặt chẽ, các sự kiện diễn ra tự nhiên,
    mà cách kể truyện thì linh hoạt nhanh gọn, sắc sảo như trong Một
    vụ đắm tàu làm người đọc lắm phen hồi hộp, như trong truyện Cậu

    bé đánh trống người Sardegna, và nhất là Từ mạch Appennini đến
    mạch Andes và Người y tá của Tata.
    Nhiều truyện đã kết thúc mà để người đọc cứ bùi ngùi mãi
    không thôi; cậu bé làm xiếc lấy tay áo quệt trái lớp phấn trên mặt
    gửi lên hai má của ân nhân mình hai cái hôn đáng yêu; ông đại úy
    già chưa từng nói với ai một lời dịu dàng bao giờ, tay đưa từ từ và
    mắt nhìn chằm chằm, chào Cậu bé đánh trống người Sardegna,
    chào rồi dang rộng tay ra ôm chầm lấy cậu, siết chặt vào lòng và
    hôn ba lần; chào và hôn vì cậu xứng đáng với một người anh hùng
    chân chính. Cicillo sau bảy ngày đêm liền săn sóc tận tình người
    ốm không quen biết, đến khi người bất hạnh cuộc đời mới “ôm bọc
    quần áo cũ của mình, chầm chậm bước ra, người mệt lả, lên
    đường”, và tác giả kết thúc bằng chỉ mấy chữ: “Rạng đông vừa
    hừng sáng…”
    Trong Một vụ đắm tàu, Mario nhận lấy cái chết để cho người
    bạn đường được sống, truyện cũng kết thúc bằng hai câu ngắn:
    “Giulietta úp mặt vào hai tay. Khi cô ngửng đầu lên và nhìn ra biển,
    chiếc tàu đã biến mất rồi…” “Rạng đông vừa hừng sáng” và “chiếc
    tàu đã biến mất rồi”, chỉ đơn giản thế thôi, nhưng dù kết cục của
    truyện người đọc đã đoán biết trước rồi, đọc đến những câu cuối
    như thế ít ai có thể để lòng dửng dưng, và không ít người tuy đã
    học đi học lại nhiều lần vẫn khó mà cầm được nước mắt. Văn hay
    họ phải dải lời. Nhiều đoạn trong Những tấm lòng cao cả đã làm
    người đọc xúc động như thế, lại có những đoạn rất thuyết phục vì
    lời văn hùng hồn, nhất là những bức thư bố mẹ viết cho con; mà
    nhiều bức đã được trích vào sách giáo khoa ở nhiều nước, nổi tiếng
    hơn cả là bức thư về Trường học. Truyện đọc hàng tháng cũng
    nhiều truyện được trích như thế. Enrico có ghi trong nhật ký là khi
    chép truyện Cậu bé trinh sát người Lombard, Derossi “rơm rớm
    nước mắt, run run đôi môi”.

    Sức tác động của văn chương thấm sâu vào lòng người. Nghệ
    thuật văn chương là công cụ giáo dục tốt, vì giáo dục phải tiến
    hành có nghệ thuật, và giáo dục chính là một nghệ thuật. Trong văn
    học Ý, Những tấm lòng cao cả không giữ địa vị một đại tác, nhưng
    trong sự nghiệp giáo dục của một thế giới thì đã có tác dụng không
    nhỏ, chính vì nội dung rất tốt của tác phẩm, dù cũng có ít nhiều
    điều không lấy gì làm hay. Mỗi xã hội, mỗi thời đại giáo dục con
    em mình theo yêu cầu của mình, dựa vào những nguyên lý cơ bản
    của khoa học giáo dục của mình; tất nhiên là như vậy. Nhưng tác
    phẩm của những thời đã qua mà có những điều tốt đẹp, khiến cho
    tồn tại và lưu truyền thì vẫn có ích lợi thiết thực và cần nghiên cứu,
    tham khảo.
    Những tấm lòng cao cả của Edmondo De Amicis là một trong
    những tác phẩm như vậy.
    Hoàng Thiếu Sơn



     

    THÁNG MƯỜI

    Ngày khai trường
    [2]
    Torino thứ hai 17
     

    Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng nghỉ hè của chúng
    tôi đã đi qua như một giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi dắt tôi đến phân
    hiệu Baretti để ghi tên tôi vào lớp ba. Còn tôi thì mải nhớ thôn quê,
    tôi đến trường chỉ là miễn cưỡng. Tất cả các đường phố đều tấp nập
    học sinh, đông như kiến. Hai cửa hiệu bán sách chật những bố mẹ
    học sinh vào mua nào vở, nào giấy thấm, nào cặp sách bằng da…
    Trước trường, người đông đến nỗi ông gác cổng và người cảnh
    binh đều phải chật vật lắm mới giữ được thông lối ra. Chúng tôi
    sắp bước qua cổng thì thấy có người đặt tay lên vai mình: đó là
    thầy giáo lớp hai của tôi, có mái tóc hung, bù xù và tính vui vẻ
    không bao giờ cạn. Thầy bảo tôi: “Chúng ta thế là xa nhau mãi rồi,
    phải không Enrico?”
    Tôi cũng biết như vậy, thế mà lời nói của thầy vẫn làm cho
    lòng tôi nặng trĩu. Chúng tôi phải chật vật lắm mới vào được
    trường. Những ông, những bà, những phụ nữ thường dân, những
    công nhân, những sĩ quan, những bà cụ và những người giúp việc,
    ai cũng tay dắt một trẻ em, tay mang những cái gói, làm huyên náo
    cả phòng đợi và các thang gác.
    Tôi vui thích thấy lại căn phòng rộng ở tầng dưới thông với
    bảy lớp học, mà suốt ba năm gần như ngày nào tôi cũng đi qua.
    Người đông nghịt. Các cô giáo đi đi, lại lại. Một cô giáo lớp một
    đứng trên ngưỡng cửa của lớp cô, chào tôi và nói:
    - Enrico, năm nay con học trên gác, và cô sẽ không còn thấy
    con đi qua đây nữa.

    Rồi cô nhìn tôi có vẻ buồn. Tôi trông thấy thầy hiệu trưởng,
    mà bộ râu hình như có bạc hơn năm ngoái một ít, đang bị vây giữa
    những bà mẹ khá phật ý vì không còn chỗ để cho con họ vào học
    nữa. Tôi thấy nhiều bạn tôi lớn lên nhiều. Ở tầng dưới, học sinh
    chia xong vào các lớp, người ta thấy các em học những lớp vỡ lòng
    không chịu vào lớp, cứ đẩy nhau như những con lừa con; người ta
    phải lôi chúng vào; vài em bỏ chạy không chịu ngồi ghế, nhiều em
    khác òa lên khóc khi thấy bố mẹ ra về. Những ông bố, bà mẹ ấy
    phải quay lại để khuyến khích hoặc dỗ dành con; còn các cô giáo
    trông thấy vậy cũng có nhiều thất vọng.
    Em trai tôi được vào lớp của cô giáo Delcati, tôi học lớp thầy
    giáo Perboni ở gác hai. Đến mười giờ thì tất cả chúng tôi đều đã
    vào lớp hết; năm mươi bốn học sinh tất cả. Trong đám ấy tôi chỉ
    gặp lại chưa đến mười lăm, mười sáu bạn cũ lớp hai; trong đó có
    Derossi, cái cậu bao giờ cũng được giải nhất. Trường học đối với
    tôi có vẻ nhỏ hẹp và buồn tẻ làm sao so với rừng núi mà tôi đã đến
    ở chơi mấy tuần qua. Tôi lại còn nhớ tiếc thầy giáo lớp hai của tôi,
    thầy tốt làm sao, và lúc nào cũng cười với tôi. Người thầy nhỏ nhắn
    đến nỗi làm cho chúng tôi cứ tưởng như là một người bạn. Tôi tiếc
    không được thấy thầy ở đây, với mái tóc hung bù xù của thầy nữa.
    Thầy giáo năm nay của chúng tôi người cao lớn, không có
    râu, tóc dài đã hoa râm hết, có một nếp nhăn trên trán, tiếng nói rất
    to; thầy nhìn chúng tôi chằm chằm hết đứa này đến đứa khác, như
    muốn đọc rõ tận trong lòng chúng tôi. Thầy không bao giờ cười.
    Tôi thầm nghĩ: “Hôm nay là ngày đầu tiên đây. Hãy còn
    những mười tháng nữa mới lại nghỉ hè. Trước mắt biết bao là công
    việc, là bài thi, là khó nhọc!” Tan học, tôi cần phải gặp mẹ tôi, và
    tôi chạy ra ôm lấy mẹ. Mẹ bảo: “Gắng lên, Enrico của mẹ. Mẹ con
    ta sẽ cùng học với nhau!”. Thế là tôi vui vẻ về nhà. Thôi cũng
    được! Tôi không còn học với thầy giáo cũ tươi cười thế, vui tính

    thế và tốt bụng thế; nhà trường đối với tôi hình như cũng chẳng
    thích thú bằng năm ngoái… Nhưng thôi cũng được.
     

    Thầy giáo mới
    Thứ ba 18
     

    Thầy giáo mới ngay từ sáng hôm nay đã làm cho tất cả chúng
    tôi đều rất thích.
    Khi chúng tôi đang lần lượt vào lớp, và thầy đã ngồi vào chỗ
    của mình, chốc chốc chúng tôi lại thấy những học trò của thầy năm
    ngoái, đi qua đều bước vào cửa chào thầy. “Chào thầy ạ! Chào thầy
    Perboni ạ!”. Có những cậu bước vào bắt tay thầy, rồi vội vàng chạy
    ra. Rõ ràng đám học trò cũ đều rất mến thầy, và rất muốn lại được
    học với thầy nữa. Còn thầy thì chỉ thấy trả lời đơn giản: “Chào
    cậu”, và bắt những bàn tay chìa ra phía thầy, nhưng chẳng nhìn ai
    cả. Mỗi lần chào lại, thầy đều nghiêng mình vẻ nghiêm trang, mặt
    quay về phía cửa sổ, nhìn sang mái nhà trước mặt. Đáng lẽ làm cho
    thầy vui, thì những sự biểu lộ tình cảm của học trò cũ hình như làm
    cho thầy đau khổ. Rồi lại đến lượt thầy nhìn chúng tôi, những học
    trò mới, hết đứa này đến đứa khác, một cách chăm chú. Vừa đọc
    chính tả, thầy vừa bước xuống bục và đi vào giữa các dãy bàn của
    chúng tôi. Chợt nhìn thấy một cậu mặt đỏ ửng và đầy những nốt
    sưng nhỏ, thầy liền ngừng đọc, lấy hai tay ôm đầu cậu bé, hỏi cậu
    làm sao, rồi sờ trán xem cậu có sốt không. Trong lúc đó thì ở sau
    lưng thầy một cậu đứng ngay lên trên ghế và bắt đầu múa như con
    rối.
    Thầy giáo quay ngoắt lại, cậu ta hoảng hốt vội ngồi xuống và
    cúi gầm mặt, chắc chắn thế nào cũng bị mắng một trận. Nhưng thầy
    Perboni đặt tay lên vai cậu bé dại dột và nói: “Đừng làm thế nữa
    nhé!”. Chỉ thế thôi. Rồi thầy lại trở về chỗ và đọc nốt bài chính tả.

    Xong bài chính tả, thầy lặng thinh nhìn chúng tôi một lúc, rồi
    nói với chúng tôi, giọng thầy rất to, nhưng hết sức hiền từ: “Nghe
    đây, các con ạ! Chúng ta sẽ sống chung với nhau cả một năm, thầy
    trò ta đều cố gắng làm sao cho năm nay thật tốt. Các con phải chăm
    và ngoan. Thầy không có gia đình. Chính các con sẽ thay cho gia
    đình của thầy. Năm ngoái thầy còn mẹ; nhưng nay mẹ thầy đã mất
    rồi. Nay thầy chỉ có một mình, thầy chỉ còn các con trên đời này
    nữa thôi. Thầy chẳng còn ý nghĩ nào, tình cảm nào ngoài các con
    ra. Các con phải là đàn con của thầy. Thầy sẽ rất thương các con,
    và các con cũng phải thương thầy. Thầy không muốn phải phạt một
    ai. Các con hãy tỏ ra cho thầy thấy là những đứa trẻ chân thành,
    dũng cảm. Trường học của chúng ta sẽ là một gia đình, và các con
    sẽ là niềm an ủi và niềm tự hào của thầy. Thầy không yêu cầu các
    con phải trả lời, vì thầy tin chắc rằng trong lòng tất cả các con đều
    đã nói “vâng ạ”, và thầy xin cám ơn các con”.
    [3]
    Vừa lúc ấy thì người gác cổng vào báo hết giờ học . Tất cả
    chúng tôi đều im lặng ra khỏi lớp. Cậu học trò lúc nãy đứng lên ghế
    làm trò, bước lại gần thầy, và hỏi thầy giọng run run: “Thưa thầy,
    thầy có tha lỗi cho con không ạ?”.
    Thầy giáo hôn vào trán cậu và nói: “Thế là tốt con ạ! Thôi con
    về đi”.
     

    Một tai nạn
    Thứ sáu 21
     

    Năm học đã bắt đầu bằng một tai họa. Sáng nay, trên đường đi
    học, tôi đang kể lại cho bố nghe những lời nói chân thành của thầy
    Perboni, thì bỗng thấy đường phố đông nghịt những người. Họ
    dừng lại trước cổng trường thị xã. Bố kêu lên:
    - Chắc đã xảy ra tai nạn gì rồi!
    Chúng tôi phải len vào trường một cách rất khó khăn. Căn
    phòng lớn chật ních bố mẹ học sinh, và cả học sinh mà các thầy
    giáo không tài nào cho vào lớp được. Tất cả mọi người đều nhìn về
    phía cửa phòng thầy hiệu trưởng, và có người nói: “Tội nghiệp cậu
    bé! Tội nghiệp Robetti!”. Ở tít đằng cuối phòng lớn, người ta thấy
    nhô lên trên đám đông cái mũ của một người cảnh vệ thị xã và cái
    đầu hói của thầy hiệu trưởng. Một ông đội mũ cao vừa đi vào, và
    người ta thì thầm: “Kìa, bác sĩ”.
    Bố tôi hỏi một thầy giáo: “Việc gì vậy, thưa thầy?”.
    Thầy giáo trả lời: “Xe đè lên chân cậu ấy”.
    Một người khác tiếp lời: “Và đã nghiến nát bàn chân cậu ta”.
    Người bị nạn là một học sinh lớp hai. Cậu ta đang đi ở đường
    ...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !