Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Nguoi Me Cam Sung Nguyen Thi.pdf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:55' 05-07-2025
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hoài An
Ngày gửi: 15h:55' 05-07-2025
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Người Mẹ Cầm Súng Chương 1
Người Mẹ Cầm Súng Chương 2
Người Mẹ Cầm Súng Chương 3
Người Mẹ Cầm Súng Chương 4
Người Mẹ Cầm Súng Chương 5
Người Mẹ Cầm Súng Chương 6
Người Mẹ Cầm Súng Chương 7
Người Mẹ Cầm Súng Chương 8
Người Mẹ Cầm Súng Chương 9
Người Mẹ Cầm Súng Chương 10
Người Mẹ Cầm Súng Chương 11
Người Mẹ Cầm Súng Chương 12
Người Mẹ Cầm Súng Chương 13
Người Mẹ Cầm Súng Chương 14
Người Mẹ Cầm Súng Chương 15
Người Mẹ Cầm Súng Chương 16
Người Mẹ Cầm Súng Chương 17
Người Mẹ Cầm Súng Chương 18
Người Mẹ Cầm Súng Chương 19
Quê Hương
Làm Việc
Xuống Núi
Trăng Sáng
Về Nam
Món Qùa Tết
Mặt Trận
Đôi Bạn
Cậu Huân
Tự Do
Một Chuyến Về Phép
Hai Cha Con Người Chính Uỷ
Ngày Về
Mẹ Vắng Nhà
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 1
Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà đã
sáu con tên là Nguyễn Thị Út. Dáng người nhỏ gọn, chị có khuôn mặt tròn và
đôi mắt to, sáng. Cô bác lớn tuổi quen gọi chị là con Út Trầu, vì chị hay ăn
trầu. Lại có người đặt danh chị là "Bà Hồng" (1)vì chị đánh giặc rất giỏi.
Xóm giềng theo tục địa phương, ghép tên chị với tên chồng, cứ kêu là Út
Tịch. Mới đây bà con lại bàn tán một chuyện xảy ra về chị.
Một đêm tối trời tháng Chạp giáp Tết vừa qua, dân làng đáy (2)ở ngoài
cồn Bần Chát bỗng nghe tiếng đàn bà kêu cứu. Vào mùa nước rong, sông
chảy xiết, sóng to, có lượn lớn bằng con trâu, dân nghèo đi làm ăn bị chìm
ghe, đồ đạc trôi láng sông. Người ta chạy ghe máy ra giữa dòng, vớt lên được
một người đàn bà chỉ có đôi mắt là tỉnh táo. Trên vai chị, một đứa bé tuổi còn
bú, cứng đờ, thở thoi thóp. Cùng với chị còn ba đứa nhỏ gái run rẩy, da tím
ngắt.
----(1) "Bà Hồng": dân gian mê tín cho là vị thần trấn áp ma quái.
(2) Dân đánh cá.
Đó là chị Út Trầu. Hỏi ra mới biết hôm đó nghe tin giặc bố ngoài sông,
chị mướn xuồng chở ít dưa sang Cầu Lộ bán, tiện dịp thăm dò tình hình giặc
ngoài đó ra sao. Giặc chặn đường ban ngày, chị phải đi ban đêm.. Ra tới giữa
sông, sóng lưỡi búa đã bốc nước làm chìm xuồng chị. Sông Hậu Giang rộng
mênh mông bề ngang bốn kilômét, chèo thẳng tay cũng mất ba tiếng. Mấy
mẹ con ngụp lặn giữa trời nước tối đen. Chị Út vai vác đứa con mới đẻ, lội
đứng, miệng hò hét điều khiển ba đứa con gái, đứa nhỏ nhất mới tám tuổi,
bám theo mép xuồng còn chìm lờ đờ, thả trôi. Xuồng muốn chìm luôn xuống
đáy sông, chị cố nâng lên. Mọi việc đều phải tỉnh táo, chính xác. Nếu không
khéo, đứa con trên vai sẽ chết. Quá tay một chút, cái xuồng cũng có thể chìm
luôn. Cứ như vậy, hai tiếng đồng hồ, sông lớn, sóng cả đã thua chị.
Lên bờ, thoa bụng con, chị thử sức con bằng cách thọc lét (3)cho nó cười.
Mấy mẹ trong xóm nói:
- Đàn bà như tao thì sình lên (4)rồi. Nó vậy mà mẹ con còn y.
----(3) Cù.
(4) Chết trương.
Mấy mẹ Khơ Me nói:
- Con đó chuyện gì nó cũng làm như đụng giặc vậy.
Bà Sáu Hò kêu lên:
- Nó uống thuốc gì đâu. Hồi nhỏ cực quá nên bây giờ gan thôi. Mười hai
tuổi từng đánh vợ Hàm Giỏi mà.
Cô bác hay nhập chuyện đời xưa vào chuyện đời nay của chị như vậy.
Ngày đó, Út mặc quần bố tời (5). Rận ôi là rận! Lấy chai lăn, nó kêu như
muối rang. Út ở giữ con cho vợ Hàm Giỏi, vừa phải leo cau, vừa leo dừa. Hai
bên hông Út sần sượng, nổi cục. Leo cau tối ngày, đói, đến lúc đút cơm cho
con nó ăn Út rất thèm. Thịt nạc nó kho nước dừa béo vàng. Những miếng thịt
lưng cá trê nó lóc ra trắng như bông. Út ăn đại một miếng, ngọt quá, Út ăn
luôn cả chén, rồi chén nữa. Chiều thấy con đói, vợ Hàm Giỏi kêu Út lại chửi:
- Bộ ông nội bay hồi đó chết đói thụt lưỡi hả?
Rồi mụ đánh Út, quyết cho lòi thịt, lòi cá ra. Nhưng thịt cá vào bụng Út
rồi, ra sao được? Mụ quất một roi, làm Út nằm giẫy như sâu bị bắn. Lúc ngồi
dậy, sẵn tay, Út liệng luôn cái chén vào mặt mụ. Út không hiểu sao lúc đó
mình dám làm như vậy. Vợ Hàm Giỏi cao, mập. Ngay thằng chồng đứng
cạnh mụ cũng chỉ như "lóc nói" (6)mà ôm cột dừa". Uy thế của mụ cũng ghê
gớm như cái thây mụ. Mỗi lần ngồi ghe đi góp lúa (7) mụ ngả người ra sau,
chỏi chân ra trước, hai bên ghe chạm hai con khỉ bằng cây ngồi chầu.
Cái chén đập lại của Út làm mụ Hàm Giỏi tím mặt. Mụ nắm tóc Út, mớ
tóc non có chút tị. Út với con dao cau lia vào tay mụ. Mụ vốn sợ dao, buông
ngay, Út phóng ra ngoài.
Bắt đầu ở đợ, Út là một con bé tám tuổi, cởi truồng, ốm nhách. Đến lúc
đánh lại địa chủ, Út mới mười hai tuổi, vẫn ốm nhách, nhưng lại có thêm mối
thù trong người.
Trốn nhà này đi, Út lại phải ở đợ. Một nhúm tuổi, biết làm đâu, ăn đâu
bây giờ. Con gái hội đồng Thanh mướn Út để leo dừa, leo cau và để đổ đờm
ho lao. Cho đến ngày cách mạng, rồi kháng chiến. Một buổi Tây vào bố (8),
các anh đàng mình rút, bỏ quên cái máy chữ. Út mến các anh nên rất thương
cái máy. Em lấy dây buộc, lôi nó lên ngọn dừa, giấu kỹ. Chiều, các anh về,
cách mạng còn cái máy... nhưng đồ đạc và hộp vàng của con gái mụ địa chủ
bị Tây lấy sạch. Chờ các anh đi, nó kêu Út lại chửi:
- Bây giấu đồ cho người ta còn đồ nhà bây bỏ. Quân bây ăn xong rồi quẹt
mỏ như gà.
----(5) Bao tải.
(6) Một loại cá bằng ngón tay.
(7) Thu tô, thu nợ thóc.
(8) Càn: khủng bố.
Nó sấn sổ tới. Từ chiều, thấy các anh đi, biết là thế nào cũng sẽ bị đòn, Út
đã thủ sẵn nắm ớt bột. Con kia lớn gấp ba Út. Nó vừa quơ cây lên thì cả nắm
ớt bột đã đập vào mặt nó. Lần trước, Út không hiểu sao mình dám đánh vợ
Hàm Giỏi, lần này, Út đã hiểu rằng phải đánh nó để nó không đánh được
mình. Năm ấy, Út mười bốn tuổi.
Có uống thuốc gì đâu! Bị đòn nhiều quá mà cứ phải ngậm ở trong lòng
nên nó nẩy ra cái gan như vậy.
Nhân dịp chìm ghe, nhớ chuyện cũ, ông Sáu Hò, thông tin xã đặt tặng Út
mấy câu thơ:
Vợ Hàm Giỏi thây to, mặt mốc
Vợ hội đồng Thanh vai cóc, mình lươn
Đập cho bể mặt bể sườn
Bản mặt chườn vườn, hết đánh Út chưa!
Út ơi, Út hỡi, bây giờ
Chìm ghe, sóng cả, con thơ, giữa dòng
Sông sâu phải chịu thua cùng...
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 2
Một buổi sáng, các anh bộ đội thấy một em bé gái ốm tong teo, mặc quần
cụt, áo cánh vải xe lửa (1)vá chằng, vết roi đòn còn hằn trên cổ, đến nằn nì
xin đi theo bộ đội, các anh hỏi:
- Tại sao em xin đi?
----(1) Một loại vải trắng nhãn hiệu đầu xe lửa.
Em nói:
- Ở đợ cực quá mà.
- Đi đánh Tây cũng cực vậy!
- Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì.
Các anh đều cười, em nói tiếp:
- Nó đánh mình, mình đánh lại nó mới sướng chớ. Em ở đợ, chủ đánh em,
em phải chạy.
Em đưa cổ cho các anh coi. Các anh rất thương em nhưng hoàn cảnh lúc
đó đem em theo sao được.
Mấy ngày sau, má, chị Hai, chị Ba của Út đều thôi ở đợ cho hội đồng
Thanh. Một đồng bạc nợ của nhà nó đã có các anh bộ đội trả giúp. Út, cô bé
hụt đi bộ đội lần đầu, theo mẹ về lập chòi (2)làm mướn.
----(2)Lều.
Út lại leo cau, leo dừa, đồng xu một cây. Chiều về, Út đem tiền cho má và
báo tình hình giặc đã nhìn thấy trong lúc leo dừa cho chú Chín - một cán bộ
bộ đội.
Ba năm sau, cách mạng mở chiến dịch Cầu Kè, Út đem cả tuổi mười bảy
của mình lao vào chiến dịch. Út chạy thư mặt trận, phất khăn ra hiệu cho chú
Chín Luông chỉ huy bộ đội đánh trận Rạch Cách, chọi đất báo tin cho các anh
để đánh bọn bót Bến Cát. Út đánh Tây bằng khăn và bằng những cục đất của
quê hương mình.
Một buổi sáng, Út có dè đâu, chú Chín dắt một anh bộ đội mặt mũi hiền
khô đến nhà nói với má:
- Con Út nó đã lớn. Tôi lựa được thằng nầy tướng tá coi cũng được, chị gả
cho nó đi.
Út chạy một hơi ra bờ sông, ngồi.
Anh bộ đội đó tên là Tịch, người Khơ Me. Sau đó cả tiểu đội anh Tịch đến
đóng nhà Út, Út rủ bạn gái tới nhảy cò, nhảy u, đá banh, vật lộn cho anh Tịch
chê, vì đàn bà con gái mà chơi những trò đó thì quá lắm! Nhưng anh Tịch vẫn
không chê.
Trong trận đánh bót Chông Nô, thấy Út tay không, anh Tịch hỏi:
- Hồi nào tới giờ cô có biết chọi lựu đạn không?
Út nói không. Anh cho Út một trái, rồi làm điệu bộ dạy. Út chọi rất giỏi,
Út nghĩ, anh này đánh giặc ngon đây!
Bót Chông Nô bị diệt, anh Tịch vác ra một vác súng, Út mừng hoa mắt,
đón lấy từng cây súng xếp xuống xuồng, Út hỏi:
- Trước anh có ở đợ không?
- Sao không! Mới bỏ bò theo chú Chín đi bộ đội đây.
Pháo giặc bắn như giã gạo. Chiến dịch còn dài. Anh Tịch lại đi, Út chở
súng về. Miểng pháo rơi quanh người lụp bụp.
Bộ đội ta hạ đồn Bắc Sa Ma, bao bót Bến Cát, đánh tàu. Tầu giặc bắn như
vãi cát. Trận này, Út cùng chị Chương, cô bạn ở đợ ngày trước, bò ra dưới
làn đạn giặc, lấy cây súng nồi của anh em ta rút còn để sót lại. Cây súng tốt
quá, anh Tịch và các anh bộ đội đã từng nhảy vào đồn, đổ máu ra mới lấy
được nó. Hai chị em è ạch lôi cây súng dưới sình (3). Chiều hôm ấy, nó được
trao trả tận tay bộ đội.
Nửa chừng chiến dịch, bỗng có tin anh Tịch hy sinh. Chưa phải là vợ,
cũng chưa biết yêu, nhưng Út khóc anh Tịch, thù thằng Tây lắm. Út đã đi
trinh sát, thấy tàu nó vô sông Cầu Kè, Út chạy băng băng về báo. Nó bắn
moọc-chê đuổi theo. Mỗi lần nghe éo éo trên đầu, Út chỉ hụp xuống một chút,
lại chạy. Thương anh Tịch quá, Út không biết sợ chết là gì. Bộ đội được tin ra
dàn kịp. Trận ấy, tàu sắt giặc bị thương tháo chạy. Tây chết ục ục dưới sông.
Một chiếc tàu cây (4)bị súng "ống trúm" (5)của ta thổi trúng một lỗ bằng cái
nia. Út la:
- Trám đất sét, kéo nó về để dành độc lập chạy chơi!
-----
(3) Bùn.
(4) Tàu bằng gỗ.
(5) Súng Badôca.
Tưởng nói chơi, chẳng dè các anh làm thật. Chiếc tàu được kéo về, gỡ hết
máy, chỉ còn cái bộng. Đứng dưới tàu, Út nghĩ hoài không biết mình đã trả
thù được cho anh Tịch hay chưa!
Chiến dịch hết. Đột nhiên, anh Tịch trở về. Thì ra ở đời, con người ta
trùng tên là chuyện thường. Út trở thành cô dâu. Ngày cưới, vui hơn Tết. Út
ra điều kiện với chồng: Hễ theo giặc là thôi nhau luôn, còn đánh lộn chết bỏ
cũng không thôi nhau! Anh Tịch gật. Bộ đội kéo đến đầy một chùa. Má Út
lên ngồi ghế danh dự. Út mặc áo cưới. Chú Chín, người chỉ huy cao nhất
quận Cầu Kè, ra xin thưa với má mấy lời...
Chị Hai của Út nói:
- Phải tao biết đằng mình nổi dậy, tao nhịn để bây giờ hãy lấy chồng.
Má khóc:
- Tao có ngờ đâu đời nó bây giờ lại được vậy...
Út lên nói cảm tưởng:
- Tôi vừa được đi đánh giặc, lại vừa được chồng...
Sau đó trẻ con hát nghêu ngao lời các anh bộ đội dạy:
Ai đi chiến dịch Cầu Kè.
Về giồng Tam Ngãi, giang ghe xóm chùa.
Hỏi thăm cô Út ngây thơ
Ngày xưa cực khổ, bây giờ thì sao?...
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 3
Cưới xong, anh Tịch đi chiến đấu, Út ở nhà trồng dưa, lúc nào có công tác
thì chú Chín tới kêu đi. Hai năm sau, Út mười chín tuổi. Sông bao lớn Út
cũng không sợ. Út còn ao ước có một cây dừa nào cao tới trời để leo lên ngọn
theo dõi địch. Út đi bán bánh tận nhà giam Cầu Kè, trao kế hoạch của chú
Chín cho cơ sở cứu một đồng chí huyện ủy viên bị bắt. Đồng chí đó đã thoát,
nhưng sau đó ít lâu, Út được tin buồn: Chú Chín hy sinh.
Út khóc, kêu anh Tịch cùng đi trả thù. Lúc đó, huyện nhà đang gặp khó
khăn. Giặc đóng bót tràn lan. Sông Hậu ngày nào cũng có xác người chết.
Đêm đêm, Tây đem anh em mình ra bắn ở cầu sắt. Người làm việc trong xã
chỉ còn lơ thơ. Ông Chín Đông, chủ tịch xã, phải lánh trong chùa. Hàng ngày,
Út đi bán mì nấu và nước mía ở chợ Cầu Kè. Út đã bỏ súng sáu vào thúng mì,
mang vào giữa chợ, trao cho anh em giết thằng quận Hùm, trả thù cho chú
Chín. Việc bại lộ, thù chú Chín chưa trả, lại bị rượt bắn ráo riết. Cuộc sống
hình như co hẹp lại, nhưng cái quyết đánh Tây thì vẫn còn nguyên vẹn. Út
tìm được một tấm hình Bác Hồ in trong tấm bằng khen, cắt ra, giấu kỹ. Bác
Hồ ở xa, Út chưa gặp Bác nhưng có Bác thì cách mạng nhất định sẽ thành
công.
Bị giặc lùng bắt, Út bồng đứa con mới đẻ lưu lạc lên Sa Đéc. Ở đó, chị lại
móc được với cơ sở nội tuyến, đi tìm anh em mình vô phá cầu, lấy bót Cai
Châu. Thấy chị lạ, anh em trên đó không tin, chị đưa tấm hình Bác ra. Đồng
chí chỉ huy nhìn Út từ đầu đến chân. Út nghèo thật, quần phèn, đầu không có
nón. Đồng chí đó cầm tấm hình Bác lâu lắm, rồi hỏi:
- Chị nói thiệt chớ?
Út gật, đôi mắt sáng long lanh. Cầu Cai Châu bị đốt, bốt giặc bị san bằng,
Út lại bồng con trở về Tam Ngãi.
Tây thua to ở miền Bắc. Nam Bộ ùn ùn trỗi dậy. Du kích Tam Ngãi bung
ra, giải phóng xã nhà.
Đình chiến. Các anh bộ đội, đội nón lưới có gắn sao, kéo về đầy nhà Út.
Vợ chồng Út tiễn anh em đi tập kết, ra tận ngã ba Chà Bang. Có bao nhiêu
tiền, chị may đồ tặng anh em hết.
Út chưa lường hết được những khó khăn của người ở lại, nhưng chị nghĩ:
Trước mình đã dám đánh nó thì bây giờ chẳng có gì đáng sợ nó.
Một buổi sáng Út mang khoai đi chợ bán. Thằng Ẩn, một thằng phản bội
dắt lính tới bắt anh Tịch. Được tin, chị bỏ khoai, bồng con, cũng chưa vội đi
thăm chồng mà đi tìm ngay thằng Ẩn, chửi vào mặt nó:
- Mày ăn của tao còn dính kẽ răng mà đã vội quẹt mỏ dắt lính bắt chồng
tao!
Bà con kéo tới. Thằng Ẩn cao lớn, mặt tái, đứng chết trân giữa lộ. Đôi mắt
Út dữ quá.
Chị lại bồng con vào dinh quận. Qua mả chú Chín, chị vái:
- Chú Chín, anh em đi tập kết vắng, nhưng còn chú, chú phù hộ cho vợ
chồng con.
Tới trước dinh quận, chị la:
- Thằng Ẩn khai chồng tôi làm công an xung phong giết quận Hùm.
Nhưng giết quận Hùm hỏi có gì sai mà mấy ông bắt?
Bà con lại kéo tới thật đông. Thằng quận mới đến nhậm chức, phải ra. Út
lại la:
- Quận Hùm là quân giết người, cả hai dãy phố chợ đều biết. Bây giờ nó
còn sống nhăn ở Sài Gòn. Sao mấy ông không đi bắt nó mà đi bắt chồng tôi?
Thằng quận nói như ngậm sỏi:
- Gần đây vợ chồng mày có nối với cộng sản không?
- Vợ chồng tôi nối với cục đất, với cái gánh trên vai. Cộng sản làm sao ai
biết đâu mà nối.
Chiều hôm ấy, nó phải thả anh Tịch. Út ngồi ngoài hè bồng con. Nhìn
chồng ăn cơm, nghĩ: Chưa hết khó đâu!
Những cái gì sẽ xẩy ra với vợ chồng Út trong thời gian tới? Út sẽ phải làm
gì? Chưa biết. Út đã trải qua nhiều cực khổ. Bây giờ cực hơn nữa chị cũng
không sợ. Hồi nào tới giờ Út có bao giờ được sướng? Nhưng bọn giặc mong
Út cúi đầu khuất phục như đời ở đợ ngày xưa thì "xin lỗi", không được đâu!
Út nói với chồng:
- Còn cái lai (1) quần cũng đánh!
----(1) Gấu
IV. CÁCH MẠNG Ở TRONG LÒNG MÌNH
Đang cho con bú, Út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên
nóc nhà. Trời đất tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái
đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc nhà, tiếng ngáy rõ hơn, Út chọc lên. Một
con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho Út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách
mạng, giặc lùng bắt cả năm nay. Út vừa mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho Út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn
bí mật, chưa dám ra mắt Út, Út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất.
- Thế hả anh?
Út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại, Út giận anh Tịch lắm. Sáng anh
Tịch đi đặt câu về, chị nói:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh giờ anh coi
tôi thiếu hiểu hơn anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi Út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên
anh ấy sợ. Út biết vậy.
Anh Tịch dừng (2) lại buồng thật kín. Ngày ngày Út đi chợ nấu cơm bưng
tới tận chỗ anh Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, Út mua rượu, gà xách sang nhà
bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho,
nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cày đâu cũng phải chịu.
Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người tra tấn. Chúng thảy (3) vào nhà Út
tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh
Hai vẫn ở đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. Út ở nhà nằm võng,
đưa con, nghe ngóng, chờ cửa với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của
mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng Út vẫn được làm việc. Cái công việc mà nếu
phải ngưng lại một lúc nào đó thì hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi, trơ trọi,
buồn khổ biết chừng nào.
----(2) Che kín.
(3) Ném.
Ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm Út không nhận được tin gì về anh.
Một buổi chiều, đang lục cơm nguội cho con, Út bỗng thấy bọn lính lôi anh
Hai đi ngang. Út sững sờ, cái muỗng trong tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó
trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn Út, nhưng lại mỉm cười như
chào. Nước mắt Út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy
nghĩ mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ.
Ngoài chỉ còn anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính dở say. Bỏ con
nằm nhà, Út mò đến. Gần tới nơi bọn lính bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán
và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! Út mừng, trống ngực đập tưng tưng.
Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng vạch từng kẽ lá đi
tìm. Bọn lính nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước
đây, Út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, Út mượn xuồng đâm
sang ngang. Chị vừa bơi vừa vái "ông Bổn" (4) cho chị cứu được anh Hai, chị
sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng
đùng.
----(4) Một vị thần, dân thờ trong miếu ở Nam Bộ.
Cặp xuồng vào bờ, Út mò mẫm vạch tìm từ bụi này tới bụi khác. Trời tối
đen. Ô rô, cóc kèn cào trên mặt. Út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. Út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết,
mãnh liệt dâng lên trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt.
Súng giặc nổ càng gần, Út lại gọi giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh áo. Út
lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trân.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ...
Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, Út còn
nghiệm câu nói đó. Câu nói như có phép, làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn
thấy như gần.
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 4
Đang cho con bú, Út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên
nóc nhà. Trời đất tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái
đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc nhà, tiếng ngáy rõ hơn, Út chọc lên. Một
con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho Út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách
mạng, giặc lùng bắt cả năm nay. Út vừa mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho Út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn
bí mật, chưa dám ra mắt Út, Út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất.
- Thế hả anh?
Út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại, Út giận anh Tịch lắm. Sáng anh
Tịch đi đặt câu về, chị nói:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh giờ anh coi
tôi thiếu hiểu hơn anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi Út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên
anh ấy sợ. Út biết vậy.
Anh Tịch dừng (1)lại buồng thật kín. Ngày ngày Út đi chợ nấu cơm bưng
tới tận chỗ anh Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, Út mua rượu, gà xách sang nhà
bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho,
nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cày đâu cũng phải chịu.
Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người tra tấn. Chúng thảy (2)vào nhà Út
tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh
Hai vẫn ở đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. Út ở nhà nằm võng,
đưa con, nghe ngóng, chờ cửa với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của
mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng Út vẫn được làm việc. Cái công việc mà nếu
phải ngưng lại một lúc nào đó thì hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi, trơ trọi,
buồn khổ biết chừng nào.
----(1) Che kín.
(2) Ném.
Ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm Út không nhận được tin gì về anh.
Một buổi chiều, đang lục cơm nguội cho con, Út bỗng thấy bọn lính lôi anh
Hai đi ngang. Út sững sờ, cái muỗng trong tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó
trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn Út, nhưng lại mỉm cười như
chào. Nước mắt Út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy
nghĩ mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ.
Ngoài chỉ còn anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính dở say. Bỏ con
nằm nhà, Út mò đến. Gần tới nơi bọn lính bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán
và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! Út mừng, trống ngực đập tưng tưng.
Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng vạch từng kẽ lá đi
tìm. Bọn lính nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước
đây, Út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, Út mượn xuồng đâm
sang ngang. Chị vừa bơi vừa vái "ông Bổn" (3)cho chị cứu được anh Hai, chị
sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng
đùng.
----(3) Một vị thần, dân thờ trong miếu ở Nam Bộ.
Cặp xuồng vào bờ, Út mò mẫm vạch tìm từ bụi này tới bụi khác. Trời tối
đen. Ô rô, cóc kèn cào trên mặt. Út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. Út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết,
mãnh liệt dâng lên trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt.
Súng giặc nổ càng gần, Út lại gọi giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh áo. Út
lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trân.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ...
Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, Út còn
nghiệm câu nói đó. Câu nói như có phép, làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn
thấy như gần.
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 5
Út sanh đứa con thứ hai. Như mọi người đàn bà Tam Ngãi khác, chị nuôi
con, thương chồng, làm rẫy mướn, hàng ngày phải xấn xả chống lại những
cái gì đe dọa, chết chóc do giặc phủ lên xóm mình, nhà mình. Trong tiếng ru
con, trong những lúc nhìn ra sông, người đàn bà nghèo nào cũng đều có ý
mong mỏi, chờ đợi, không nói với ai, nhưng lại như nói với tất cả, là thời thế
này nhất định phải thay đổi, phải khác đi. Rồi tự nhiên, người ta bắt nhớ đến
hồi chín năm. Lòng người lại sôi lên, có một sự khuấy động nào đó mà những
người đàn bà thùy mị nhất, ít nói nhất cũng không thể ngồi yên được.
Út treo thang thuốc ở đầu giường, nói với chồng:
- Bữa nay chúng nó bắt anh đi làm khu trù mật, anh cứ vận vào thang
thuốc này mà làm tới cho tôi.
Thằng đại diện tới, Út nhai cơm phun cùng nhà. Hai đứa nhỏ bị mẹ gắt,
khóc om sòm. Anh Tịch vin vào cảnh vợ bệnh, con thơ, không đi. Cả xóm
đều làm theo Út, không ai đi.
Thằng đại diện bắt cả xóm phải hầm (1)gạch, chở đi khu. Hầm xong, Út
nói với nó:
- Cầu xóm mới bắc, chưa có mang cá. Ba cái gạch này chở đi khu thì hai
cái mang cá nầy để cho ai? Sẵn gạch đây ta trám vào. Cầu bắc xong, ông có
việc quan ông đi một hơi từ Bà Mi về Cây Sanh cho khỏe, khỏi xuống xe.
-----
(1) Nung.
Thằng đại diện ngắm nghía một hồi, rồi gật. Đàn ông khỏi phải chở gạch
đi khu, bà con trong xóm được lợi cây cầu.
Từng chút một, Út giữ chặt lòng mình với cách mạng như vậy. Năm đó,
1959, Tam Ngãi nghèo lắm, đất đai chui dần vào tay những bọn như Hàm
Giỏi. Giặc rêu rao chúng đã bắn được người này, giết được người kia. Tam
Ngãi đói. Khoai tháng bảy cũng không đủ ăn. Nhà không còn hạt gạo. Út
bồng con theo chồng xuống Kế Sách làm mắm.
Một hôm anh Tám Táo, người mới vượt ngục ra, công tác ở Kế Sách đến
nhà Út chơi, than:
- Mình binh vận được sáu thùng đạn, nó đã mang ra ngoài rào bót rồi mà
không sao vô lấy được.
Út vừa cho con ăn vừa nói:
- Tôi lấy cho!
Chị mượn lưỡi hái, bơi xuồng đến bót, kêu:
- Ông xếp ơi, cho tôi cắt cỏ nghe!
Cắt cỏ thì sạch bót, nó cho ngay. Út men theo rào. Mấy thằng lính ghẹo:
"Ôn Sro-lanh boòng tê?" (2)rồi cười rộ lên. Út trả lời: "Tê" (3)nhưng mắt Út
vẫn không rời hàng rào. Vào tới đây, Út mới thấy gay go. Lấy đạn ra, bị lộ,
nó cũng bắn. Gặp bọn lính phản vận, mình vô lấy, nó cũng bắn. Nhưng phải
lấy. Đằng mình sắp nổi dậy. Một thùng đạn lấy được lúc này là cả tỉnh được
nhờ. Ngồi cắt cỏ từ sáng tới trưa, chịu cho bọn lính chọc ghẹo, Út mới tìm ra
dấu vết. Lần lượt, cả sáu thùng đạn được Út ôm lẫn với cỏ, xếp xuống xuồng
chở về.
----(2) Em có thương anh không?
(3) Không.
Từ giã Kế Sách, Út cùng chồng trở về Tam Ngãi với một xuồng lỉnh kỉnh
gạo, mắm, củi, đồ làm cá và tất cả những gì thu vén được của một người đàn
bà tần tảo. Thêm vào đó, một đứa con mới ra đời. Nhưng trên hết vẫn là chút
việc cách mạng mà Út vừa làm được trong lúc đi làm ăn xa. Giờ đây, trên
đường về, sự sung sướng đó càng trở nên náo nức hơn vì Út được tin quê nhà
đã bắt đầu đồng khởi.
Về tới nhà, anh Tịch nhào đi du kích. Út lại đi trinh sát, lại leo lên ngọn
dừa, giống như hồi xưa. Chỉ khác là bây giờ nhìn được xa hơn, chắc hơn.
Trận Rạch Chiếc, Út ra dấu cho các anh diệt cái ghe thằng cảnh sát, giết năm
thằng, lấy súng. Rồi trận Vườn Dơi. (Đó là cái vườn đầy dơi quạ của nhà
tổng Lâm). Sáng hôm ấy, Út đi chợ, bỗng thấy giặc từ ba mặt đổ vô, đếm
được ba trăm thằng. Út chạy vô nhà dân, mượn xe đạp phóng về. Chỉ kịp vứt
cái xe ở cửa chùa, Út chỉ hướng giặc sẽ đi và đề nghị anh em mình đón đánh.
Trận đó, mình đánh từ sáng tới chiều. Mỗi lần cái cù ngoéo của thằng chỉ huy
giặc huơ lên, Út lại thấy bọn lính bò lên như vịt xiêm. Đến lúc bị mình bắn
chết, nó cũng giãy lên như vịt xiêm bị cắt cổ vậy. Mấy lúc Út nhảy lên, mấy
lần các anh nắm giò lôi lại. Có một anh bị thương buông cây trung liên, Út
chạy lên, chụp lấy súng.
Đánh xong, Út quay trở lại thăm dò. Tất cả có chín chục thằng vừa chết
vừa bị thương nằm ngoài đồng. Lần đầu tiên, Út thấy giặc chết nhiều như
vậy. Đáng kiếp những ngày nó muốn bắn ai thì bắn, bỏ tù ai thì bỏ. Út nhận
xét rằng đằng mình đã nổi dậy tựa như hồi đánh Tây, nhưng bây giờ mình
khôn hơn, bản thân Út cũng đã trở thành người mẹ ba con rồi còn gì!
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 6
Đó là hai câu thơ ông Sáu Hò đặt cho tổ gọi loa của ấp để mở đầu một bản
tin. Nguyên do như thế này.
Ông Chín Đà, cán bộ mặt trận, nói với Út:
- Thím có lời lẽ, đi phụ với bà con, đấu tranh.
Mười lần đi, mười lần Út bị đánh. Một lần, thằng quận hỏi:
- Con nào đi đầu đảng?
Thằng lính đằng sau trả lời thằng quận bằng cách thúc mũi súng vào lưng
Út.
Lần khác, thằng quận hỏi:
- Chồng mày đâu?
Út trả lời:
- Đi lính trên Sa Đéc.
- Sao không đi theo chồng làm vợ lính chân giày chân dép?
- Vợ cũng không bằng mẹ. Mẹ của lính cũng bị quan bắt ngồi phơi nắng
ngoài kia.
Út chỉ cho thằng lính Độ thấy bà mẹ nó đang ngồi ngoài sân.
Thằng quận đánh Út một trận bằng roi mây. Lúc đó, chị có thai đứa con
thứ tư. Về, Út nói với ông Chín Đà:
- Tôi bị đòn từ tám tuổi. Tôi không sợ đòn. Nếu không nhớ đường lối,
chắc tôi đánh nó rồi.
Ông Chín chuyển sang giao cho Út thăm dò bót Tám Thế. Bót Tám Thế
đóng ở giữa giáp ranh hai xã Tam Ngãi, An Phú Tân, khống chế cả hai bên,
hỗ trợ bọn địa chủ Cầu Kè lấy thuế và thu tô.
Chiều chiều Út rủ Phượng, Ân, hai cô gái đẹp nhất xóm ra rà rê trong đám
dưa cạnh bót. Cũng tính thả giỡn sóng (1)với nó, nếu được thì giật súng.
----(1) Giả vờ đùa cợt.
Bọn lính thằng nào cũng giống thằng nào, thấy gái là kéo ra. Út về báo với
ông Chín:
- Đám nầy:"hám chua" lắm, bót nầy lấy được.
Út về nói với chồng:
- Tôi nhứt định lấy cái bót này, nhưng lỡ phải đem thân ra cho nó giỡn
hớt, giày vò, anh chịu không?
Anh Tịch nói:
- Em làm sao được cứ làm.
Anh chân tình như vậy, Út thấy thương chồng vô cùng. Mình hy sinh thân
mình được rồi, nhưng anh ấy là chồng... Làm sao sẻ được nỗi đau lòng ấy của
anh để Út xin gánh chịu một mình? Út nhớ đến chú Chín Luông, thầm cám
ơn chú đã kiếm cho mình một người chồng thật tốt.
Đêm ấy, Út hỏi chồng lần nữa. Anh nhìn Út, cười. Nụ cười hiền hậu đầy
tình thương như mỗi lần anh trở về sau một trận đánh.
Út yên tâm đi công tác. Chiều nào chị cũng rủ Phượng, Ân ra đám dưa, bỏ
giùm hột. Cô Phượng, gốc người Khơ Me, trắng trẻo, con gái không mở
miệng thì thôi, mở miệng là cười. Cô Ân có duyên ngầm, nói chuyện rất
khéo. Cả hai cô đều gan, không biết sợ là gì. Út phụ trách Tám Thế, lớn tuổi,
sếp bót. Hai cô gái phụ trách hai thằng lính. Chiều về, ba người lại báo cáo
với ông Chín. Ông Chín gom ý lại, ngồi suy tính, rồi hướng dẫn ngày mai nên
nói gì.
Cả mười hai thằng giặc đều mám hơi Út và hai cô gái. Dưa bỏ hột xong,
hết cớ để ra, ba người xoay ra cắt cỏ quanh đám dưa. Cắt xong, mang xuống
sông để bỏ, nhà có bò đâu mà cho ăn. Lúc cả ba người sắp ngả theo mình thì
dưa lên cao. Chủ đám dưa không cho ba người vào, họ nói dưa gặp hơi đàn
bà, thúi gốc. Út nói với Tám Thế:
- Chừng nào tiện, mấy anh bắn ba phát súng báo hiệu kêu mấy em vô bót
chơi nghe.
Tám Thế làm thật. Ngày nào cũng đuổi vợ đi chợ. Ba người vào được bót.
Công việc đang chạy, đùng một cái, má cô Phượng không cho cô đi. Bà
không thích Út đến rủ con bà đi làm những điều "kỳ cục". Út đến năn nỉ:
- Nhà tôi bốn đời thù giặc, thím không tin tôi sao?
Út phải chạy đi viện cả ông Chín Đà tới nói.
Cuộc tấn công lại tiếp tục.
Nhưng Tám Thế vẫn không chịu giao bót cho ta. Út nghĩ: "Tao đã nói lấy
bót là lấy, đâu có chịu thua mày!". Út cùng hai cô về bàn với ông Chín, tổ
chức một bữa nhậu ở một nhà cạnh bót.
Tám Thế có tật nhậu nửa ly là Long Xuyên y nói ra Châu Đốc. Tiệc nửa
chừng, Út nói:
- Anh Tám à, người ta nói làm lớn láu ăn, đúng à. Sao anh không kêu anh
em ra nhậu?
Y kêu hết bọn lính ra, chỉ chừa một thằng gác kho súng ở chuồng cu. Ba
anh du kích cải trang đi ngang. Út giả đò kêu vô luôn. Bọn lính bắt đầu say.
Đã đến lúc phải đánh rồi mà ruột Út rối như tơ, không biết làm sao kêu được
thằng gác chuồng cu xuống. Để cho Phượng, Ân kèm chúng, Út lẻn lại bót,
kêu:
- Anh gác à, lấy thêm rượu cho ông sếp.
Nó không chịu xuống. Út lại nói:
- Anh không xuống thì chỉ chỗ tôi lấy cho.
- Chị không lấy được!
- Sao không? Bót này, trên Tám Thế, dưới tôi, chớ còn ai nữa.
Út nghĩ: "Tao có hy sinh thì bốn con tao nhân dân nuôi chớ không lo gì!".
Thằng gác bị chọc giận, xuống. Út dã lã, vừa cười vừa tuột cây súng trên
vai nó:
- Anh đưa tôi gác cho, vô lấy rượu đi...
Thằng lính giữ lại, Út giả đò lôi ra, rồi bất thần giằng mạnh một cái, cây
súng gọn tr...
Người Mẹ Cầm Súng Chương 1
Người Mẹ Cầm Súng Chương 2
Người Mẹ Cầm Súng Chương 3
Người Mẹ Cầm Súng Chương 4
Người Mẹ Cầm Súng Chương 5
Người Mẹ Cầm Súng Chương 6
Người Mẹ Cầm Súng Chương 7
Người Mẹ Cầm Súng Chương 8
Người Mẹ Cầm Súng Chương 9
Người Mẹ Cầm Súng Chương 10
Người Mẹ Cầm Súng Chương 11
Người Mẹ Cầm Súng Chương 12
Người Mẹ Cầm Súng Chương 13
Người Mẹ Cầm Súng Chương 14
Người Mẹ Cầm Súng Chương 15
Người Mẹ Cầm Súng Chương 16
Người Mẹ Cầm Súng Chương 17
Người Mẹ Cầm Súng Chương 18
Người Mẹ Cầm Súng Chương 19
Quê Hương
Làm Việc
Xuống Núi
Trăng Sáng
Về Nam
Món Qùa Tết
Mặt Trận
Đôi Bạn
Cậu Huân
Tự Do
Một Chuyến Về Phép
Hai Cha Con Người Chính Uỷ
Ngày Về
Mẹ Vắng Nhà
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 1
Tại xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh có một người đàn bà đã
sáu con tên là Nguyễn Thị Út. Dáng người nhỏ gọn, chị có khuôn mặt tròn và
đôi mắt to, sáng. Cô bác lớn tuổi quen gọi chị là con Út Trầu, vì chị hay ăn
trầu. Lại có người đặt danh chị là "Bà Hồng" (1)vì chị đánh giặc rất giỏi.
Xóm giềng theo tục địa phương, ghép tên chị với tên chồng, cứ kêu là Út
Tịch. Mới đây bà con lại bàn tán một chuyện xảy ra về chị.
Một đêm tối trời tháng Chạp giáp Tết vừa qua, dân làng đáy (2)ở ngoài
cồn Bần Chát bỗng nghe tiếng đàn bà kêu cứu. Vào mùa nước rong, sông
chảy xiết, sóng to, có lượn lớn bằng con trâu, dân nghèo đi làm ăn bị chìm
ghe, đồ đạc trôi láng sông. Người ta chạy ghe máy ra giữa dòng, vớt lên được
một người đàn bà chỉ có đôi mắt là tỉnh táo. Trên vai chị, một đứa bé tuổi còn
bú, cứng đờ, thở thoi thóp. Cùng với chị còn ba đứa nhỏ gái run rẩy, da tím
ngắt.
----(1) "Bà Hồng": dân gian mê tín cho là vị thần trấn áp ma quái.
(2) Dân đánh cá.
Đó là chị Út Trầu. Hỏi ra mới biết hôm đó nghe tin giặc bố ngoài sông,
chị mướn xuồng chở ít dưa sang Cầu Lộ bán, tiện dịp thăm dò tình hình giặc
ngoài đó ra sao. Giặc chặn đường ban ngày, chị phải đi ban đêm.. Ra tới giữa
sông, sóng lưỡi búa đã bốc nước làm chìm xuồng chị. Sông Hậu Giang rộng
mênh mông bề ngang bốn kilômét, chèo thẳng tay cũng mất ba tiếng. Mấy
mẹ con ngụp lặn giữa trời nước tối đen. Chị Út vai vác đứa con mới đẻ, lội
đứng, miệng hò hét điều khiển ba đứa con gái, đứa nhỏ nhất mới tám tuổi,
bám theo mép xuồng còn chìm lờ đờ, thả trôi. Xuồng muốn chìm luôn xuống
đáy sông, chị cố nâng lên. Mọi việc đều phải tỉnh táo, chính xác. Nếu không
khéo, đứa con trên vai sẽ chết. Quá tay một chút, cái xuồng cũng có thể chìm
luôn. Cứ như vậy, hai tiếng đồng hồ, sông lớn, sóng cả đã thua chị.
Lên bờ, thoa bụng con, chị thử sức con bằng cách thọc lét (3)cho nó cười.
Mấy mẹ trong xóm nói:
- Đàn bà như tao thì sình lên (4)rồi. Nó vậy mà mẹ con còn y.
----(3) Cù.
(4) Chết trương.
Mấy mẹ Khơ Me nói:
- Con đó chuyện gì nó cũng làm như đụng giặc vậy.
Bà Sáu Hò kêu lên:
- Nó uống thuốc gì đâu. Hồi nhỏ cực quá nên bây giờ gan thôi. Mười hai
tuổi từng đánh vợ Hàm Giỏi mà.
Cô bác hay nhập chuyện đời xưa vào chuyện đời nay của chị như vậy.
Ngày đó, Út mặc quần bố tời (5). Rận ôi là rận! Lấy chai lăn, nó kêu như
muối rang. Út ở giữ con cho vợ Hàm Giỏi, vừa phải leo cau, vừa leo dừa. Hai
bên hông Út sần sượng, nổi cục. Leo cau tối ngày, đói, đến lúc đút cơm cho
con nó ăn Út rất thèm. Thịt nạc nó kho nước dừa béo vàng. Những miếng thịt
lưng cá trê nó lóc ra trắng như bông. Út ăn đại một miếng, ngọt quá, Út ăn
luôn cả chén, rồi chén nữa. Chiều thấy con đói, vợ Hàm Giỏi kêu Út lại chửi:
- Bộ ông nội bay hồi đó chết đói thụt lưỡi hả?
Rồi mụ đánh Út, quyết cho lòi thịt, lòi cá ra. Nhưng thịt cá vào bụng Út
rồi, ra sao được? Mụ quất một roi, làm Út nằm giẫy như sâu bị bắn. Lúc ngồi
dậy, sẵn tay, Út liệng luôn cái chén vào mặt mụ. Út không hiểu sao lúc đó
mình dám làm như vậy. Vợ Hàm Giỏi cao, mập. Ngay thằng chồng đứng
cạnh mụ cũng chỉ như "lóc nói" (6)mà ôm cột dừa". Uy thế của mụ cũng ghê
gớm như cái thây mụ. Mỗi lần ngồi ghe đi góp lúa (7) mụ ngả người ra sau,
chỏi chân ra trước, hai bên ghe chạm hai con khỉ bằng cây ngồi chầu.
Cái chén đập lại của Út làm mụ Hàm Giỏi tím mặt. Mụ nắm tóc Út, mớ
tóc non có chút tị. Út với con dao cau lia vào tay mụ. Mụ vốn sợ dao, buông
ngay, Út phóng ra ngoài.
Bắt đầu ở đợ, Út là một con bé tám tuổi, cởi truồng, ốm nhách. Đến lúc
đánh lại địa chủ, Út mới mười hai tuổi, vẫn ốm nhách, nhưng lại có thêm mối
thù trong người.
Trốn nhà này đi, Út lại phải ở đợ. Một nhúm tuổi, biết làm đâu, ăn đâu
bây giờ. Con gái hội đồng Thanh mướn Út để leo dừa, leo cau và để đổ đờm
ho lao. Cho đến ngày cách mạng, rồi kháng chiến. Một buổi Tây vào bố (8),
các anh đàng mình rút, bỏ quên cái máy chữ. Út mến các anh nên rất thương
cái máy. Em lấy dây buộc, lôi nó lên ngọn dừa, giấu kỹ. Chiều, các anh về,
cách mạng còn cái máy... nhưng đồ đạc và hộp vàng của con gái mụ địa chủ
bị Tây lấy sạch. Chờ các anh đi, nó kêu Út lại chửi:
- Bây giấu đồ cho người ta còn đồ nhà bây bỏ. Quân bây ăn xong rồi quẹt
mỏ như gà.
----(5) Bao tải.
(6) Một loại cá bằng ngón tay.
(7) Thu tô, thu nợ thóc.
(8) Càn: khủng bố.
Nó sấn sổ tới. Từ chiều, thấy các anh đi, biết là thế nào cũng sẽ bị đòn, Út
đã thủ sẵn nắm ớt bột. Con kia lớn gấp ba Út. Nó vừa quơ cây lên thì cả nắm
ớt bột đã đập vào mặt nó. Lần trước, Út không hiểu sao mình dám đánh vợ
Hàm Giỏi, lần này, Út đã hiểu rằng phải đánh nó để nó không đánh được
mình. Năm ấy, Út mười bốn tuổi.
Có uống thuốc gì đâu! Bị đòn nhiều quá mà cứ phải ngậm ở trong lòng
nên nó nẩy ra cái gan như vậy.
Nhân dịp chìm ghe, nhớ chuyện cũ, ông Sáu Hò, thông tin xã đặt tặng Út
mấy câu thơ:
Vợ Hàm Giỏi thây to, mặt mốc
Vợ hội đồng Thanh vai cóc, mình lươn
Đập cho bể mặt bể sườn
Bản mặt chườn vườn, hết đánh Út chưa!
Út ơi, Út hỡi, bây giờ
Chìm ghe, sóng cả, con thơ, giữa dòng
Sông sâu phải chịu thua cùng...
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 2
Một buổi sáng, các anh bộ đội thấy một em bé gái ốm tong teo, mặc quần
cụt, áo cánh vải xe lửa (1)vá chằng, vết roi đòn còn hằn trên cổ, đến nằn nì
xin đi theo bộ đội, các anh hỏi:
- Tại sao em xin đi?
----(1) Một loại vải trắng nhãn hiệu đầu xe lửa.
Em nói:
- Ở đợ cực quá mà.
- Đi đánh Tây cũng cực vậy!
- Đánh Tây sướng bằng tiên chớ cực gì.
Các anh đều cười, em nói tiếp:
- Nó đánh mình, mình đánh lại nó mới sướng chớ. Em ở đợ, chủ đánh em,
em phải chạy.
Em đưa cổ cho các anh coi. Các anh rất thương em nhưng hoàn cảnh lúc
đó đem em theo sao được.
Mấy ngày sau, má, chị Hai, chị Ba của Út đều thôi ở đợ cho hội đồng
Thanh. Một đồng bạc nợ của nhà nó đã có các anh bộ đội trả giúp. Út, cô bé
hụt đi bộ đội lần đầu, theo mẹ về lập chòi (2)làm mướn.
----(2)Lều.
Út lại leo cau, leo dừa, đồng xu một cây. Chiều về, Út đem tiền cho má và
báo tình hình giặc đã nhìn thấy trong lúc leo dừa cho chú Chín - một cán bộ
bộ đội.
Ba năm sau, cách mạng mở chiến dịch Cầu Kè, Út đem cả tuổi mười bảy
của mình lao vào chiến dịch. Út chạy thư mặt trận, phất khăn ra hiệu cho chú
Chín Luông chỉ huy bộ đội đánh trận Rạch Cách, chọi đất báo tin cho các anh
để đánh bọn bót Bến Cát. Út đánh Tây bằng khăn và bằng những cục đất của
quê hương mình.
Một buổi sáng, Út có dè đâu, chú Chín dắt một anh bộ đội mặt mũi hiền
khô đến nhà nói với má:
- Con Út nó đã lớn. Tôi lựa được thằng nầy tướng tá coi cũng được, chị gả
cho nó đi.
Út chạy một hơi ra bờ sông, ngồi.
Anh bộ đội đó tên là Tịch, người Khơ Me. Sau đó cả tiểu đội anh Tịch đến
đóng nhà Út, Út rủ bạn gái tới nhảy cò, nhảy u, đá banh, vật lộn cho anh Tịch
chê, vì đàn bà con gái mà chơi những trò đó thì quá lắm! Nhưng anh Tịch vẫn
không chê.
Trong trận đánh bót Chông Nô, thấy Út tay không, anh Tịch hỏi:
- Hồi nào tới giờ cô có biết chọi lựu đạn không?
Út nói không. Anh cho Út một trái, rồi làm điệu bộ dạy. Út chọi rất giỏi,
Út nghĩ, anh này đánh giặc ngon đây!
Bót Chông Nô bị diệt, anh Tịch vác ra một vác súng, Út mừng hoa mắt,
đón lấy từng cây súng xếp xuống xuồng, Út hỏi:
- Trước anh có ở đợ không?
- Sao không! Mới bỏ bò theo chú Chín đi bộ đội đây.
Pháo giặc bắn như giã gạo. Chiến dịch còn dài. Anh Tịch lại đi, Út chở
súng về. Miểng pháo rơi quanh người lụp bụp.
Bộ đội ta hạ đồn Bắc Sa Ma, bao bót Bến Cát, đánh tàu. Tầu giặc bắn như
vãi cát. Trận này, Út cùng chị Chương, cô bạn ở đợ ngày trước, bò ra dưới
làn đạn giặc, lấy cây súng nồi của anh em ta rút còn để sót lại. Cây súng tốt
quá, anh Tịch và các anh bộ đội đã từng nhảy vào đồn, đổ máu ra mới lấy
được nó. Hai chị em è ạch lôi cây súng dưới sình (3). Chiều hôm ấy, nó được
trao trả tận tay bộ đội.
Nửa chừng chiến dịch, bỗng có tin anh Tịch hy sinh. Chưa phải là vợ,
cũng chưa biết yêu, nhưng Út khóc anh Tịch, thù thằng Tây lắm. Út đã đi
trinh sát, thấy tàu nó vô sông Cầu Kè, Út chạy băng băng về báo. Nó bắn
moọc-chê đuổi theo. Mỗi lần nghe éo éo trên đầu, Út chỉ hụp xuống một chút,
lại chạy. Thương anh Tịch quá, Út không biết sợ chết là gì. Bộ đội được tin ra
dàn kịp. Trận ấy, tàu sắt giặc bị thương tháo chạy. Tây chết ục ục dưới sông.
Một chiếc tàu cây (4)bị súng "ống trúm" (5)của ta thổi trúng một lỗ bằng cái
nia. Út la:
- Trám đất sét, kéo nó về để dành độc lập chạy chơi!
-----
(3) Bùn.
(4) Tàu bằng gỗ.
(5) Súng Badôca.
Tưởng nói chơi, chẳng dè các anh làm thật. Chiếc tàu được kéo về, gỡ hết
máy, chỉ còn cái bộng. Đứng dưới tàu, Út nghĩ hoài không biết mình đã trả
thù được cho anh Tịch hay chưa!
Chiến dịch hết. Đột nhiên, anh Tịch trở về. Thì ra ở đời, con người ta
trùng tên là chuyện thường. Út trở thành cô dâu. Ngày cưới, vui hơn Tết. Út
ra điều kiện với chồng: Hễ theo giặc là thôi nhau luôn, còn đánh lộn chết bỏ
cũng không thôi nhau! Anh Tịch gật. Bộ đội kéo đến đầy một chùa. Má Út
lên ngồi ghế danh dự. Út mặc áo cưới. Chú Chín, người chỉ huy cao nhất
quận Cầu Kè, ra xin thưa với má mấy lời...
Chị Hai của Út nói:
- Phải tao biết đằng mình nổi dậy, tao nhịn để bây giờ hãy lấy chồng.
Má khóc:
- Tao có ngờ đâu đời nó bây giờ lại được vậy...
Út lên nói cảm tưởng:
- Tôi vừa được đi đánh giặc, lại vừa được chồng...
Sau đó trẻ con hát nghêu ngao lời các anh bộ đội dạy:
Ai đi chiến dịch Cầu Kè.
Về giồng Tam Ngãi, giang ghe xóm chùa.
Hỏi thăm cô Út ngây thơ
Ngày xưa cực khổ, bây giờ thì sao?...
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 3
Cưới xong, anh Tịch đi chiến đấu, Út ở nhà trồng dưa, lúc nào có công tác
thì chú Chín tới kêu đi. Hai năm sau, Út mười chín tuổi. Sông bao lớn Út
cũng không sợ. Út còn ao ước có một cây dừa nào cao tới trời để leo lên ngọn
theo dõi địch. Út đi bán bánh tận nhà giam Cầu Kè, trao kế hoạch của chú
Chín cho cơ sở cứu một đồng chí huyện ủy viên bị bắt. Đồng chí đó đã thoát,
nhưng sau đó ít lâu, Út được tin buồn: Chú Chín hy sinh.
Út khóc, kêu anh Tịch cùng đi trả thù. Lúc đó, huyện nhà đang gặp khó
khăn. Giặc đóng bót tràn lan. Sông Hậu ngày nào cũng có xác người chết.
Đêm đêm, Tây đem anh em mình ra bắn ở cầu sắt. Người làm việc trong xã
chỉ còn lơ thơ. Ông Chín Đông, chủ tịch xã, phải lánh trong chùa. Hàng ngày,
Út đi bán mì nấu và nước mía ở chợ Cầu Kè. Út đã bỏ súng sáu vào thúng mì,
mang vào giữa chợ, trao cho anh em giết thằng quận Hùm, trả thù cho chú
Chín. Việc bại lộ, thù chú Chín chưa trả, lại bị rượt bắn ráo riết. Cuộc sống
hình như co hẹp lại, nhưng cái quyết đánh Tây thì vẫn còn nguyên vẹn. Út
tìm được một tấm hình Bác Hồ in trong tấm bằng khen, cắt ra, giấu kỹ. Bác
Hồ ở xa, Út chưa gặp Bác nhưng có Bác thì cách mạng nhất định sẽ thành
công.
Bị giặc lùng bắt, Út bồng đứa con mới đẻ lưu lạc lên Sa Đéc. Ở đó, chị lại
móc được với cơ sở nội tuyến, đi tìm anh em mình vô phá cầu, lấy bót Cai
Châu. Thấy chị lạ, anh em trên đó không tin, chị đưa tấm hình Bác ra. Đồng
chí chỉ huy nhìn Út từ đầu đến chân. Út nghèo thật, quần phèn, đầu không có
nón. Đồng chí đó cầm tấm hình Bác lâu lắm, rồi hỏi:
- Chị nói thiệt chớ?
Út gật, đôi mắt sáng long lanh. Cầu Cai Châu bị đốt, bốt giặc bị san bằng,
Út lại bồng con trở về Tam Ngãi.
Tây thua to ở miền Bắc. Nam Bộ ùn ùn trỗi dậy. Du kích Tam Ngãi bung
ra, giải phóng xã nhà.
Đình chiến. Các anh bộ đội, đội nón lưới có gắn sao, kéo về đầy nhà Út.
Vợ chồng Út tiễn anh em đi tập kết, ra tận ngã ba Chà Bang. Có bao nhiêu
tiền, chị may đồ tặng anh em hết.
Út chưa lường hết được những khó khăn của người ở lại, nhưng chị nghĩ:
Trước mình đã dám đánh nó thì bây giờ chẳng có gì đáng sợ nó.
Một buổi sáng Út mang khoai đi chợ bán. Thằng Ẩn, một thằng phản bội
dắt lính tới bắt anh Tịch. Được tin, chị bỏ khoai, bồng con, cũng chưa vội đi
thăm chồng mà đi tìm ngay thằng Ẩn, chửi vào mặt nó:
- Mày ăn của tao còn dính kẽ răng mà đã vội quẹt mỏ dắt lính bắt chồng
tao!
Bà con kéo tới. Thằng Ẩn cao lớn, mặt tái, đứng chết trân giữa lộ. Đôi mắt
Út dữ quá.
Chị lại bồng con vào dinh quận. Qua mả chú Chín, chị vái:
- Chú Chín, anh em đi tập kết vắng, nhưng còn chú, chú phù hộ cho vợ
chồng con.
Tới trước dinh quận, chị la:
- Thằng Ẩn khai chồng tôi làm công an xung phong giết quận Hùm.
Nhưng giết quận Hùm hỏi có gì sai mà mấy ông bắt?
Bà con lại kéo tới thật đông. Thằng quận mới đến nhậm chức, phải ra. Út
lại la:
- Quận Hùm là quân giết người, cả hai dãy phố chợ đều biết. Bây giờ nó
còn sống nhăn ở Sài Gòn. Sao mấy ông không đi bắt nó mà đi bắt chồng tôi?
Thằng quận nói như ngậm sỏi:
- Gần đây vợ chồng mày có nối với cộng sản không?
- Vợ chồng tôi nối với cục đất, với cái gánh trên vai. Cộng sản làm sao ai
biết đâu mà nối.
Chiều hôm ấy, nó phải thả anh Tịch. Út ngồi ngoài hè bồng con. Nhìn
chồng ăn cơm, nghĩ: Chưa hết khó đâu!
Những cái gì sẽ xẩy ra với vợ chồng Út trong thời gian tới? Út sẽ phải làm
gì? Chưa biết. Út đã trải qua nhiều cực khổ. Bây giờ cực hơn nữa chị cũng
không sợ. Hồi nào tới giờ Út có bao giờ được sướng? Nhưng bọn giặc mong
Út cúi đầu khuất phục như đời ở đợ ngày xưa thì "xin lỗi", không được đâu!
Út nói với chồng:
- Còn cái lai (1) quần cũng đánh!
----(1) Gấu
IV. CÁCH MẠNG Ở TRONG LÒNG MÌNH
Đang cho con bú, Út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên
nóc nhà. Trời đất tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái
đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc nhà, tiếng ngáy rõ hơn, Út chọc lên. Một
con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho Út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách
mạng, giặc lùng bắt cả năm nay. Út vừa mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho Út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn
bí mật, chưa dám ra mắt Út, Út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất.
- Thế hả anh?
Út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại, Út giận anh Tịch lắm. Sáng anh
Tịch đi đặt câu về, chị nói:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh giờ anh coi
tôi thiếu hiểu hơn anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi Út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên
anh ấy sợ. Út biết vậy.
Anh Tịch dừng (2) lại buồng thật kín. Ngày ngày Út đi chợ nấu cơm bưng
tới tận chỗ anh Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, Út mua rượu, gà xách sang nhà
bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho,
nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cày đâu cũng phải chịu.
Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người tra tấn. Chúng thảy (3) vào nhà Út
tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh
Hai vẫn ở đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. Út ở nhà nằm võng,
đưa con, nghe ngóng, chờ cửa với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của
mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng Út vẫn được làm việc. Cái công việc mà nếu
phải ngưng lại một lúc nào đó thì hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi, trơ trọi,
buồn khổ biết chừng nào.
----(2) Che kín.
(3) Ném.
Ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm Út không nhận được tin gì về anh.
Một buổi chiều, đang lục cơm nguội cho con, Út bỗng thấy bọn lính lôi anh
Hai đi ngang. Út sững sờ, cái muỗng trong tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó
trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn Út, nhưng lại mỉm cười như
chào. Nước mắt Út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy
nghĩ mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ.
Ngoài chỉ còn anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính dở say. Bỏ con
nằm nhà, Út mò đến. Gần tới nơi bọn lính bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán
và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! Út mừng, trống ngực đập tưng tưng.
Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng vạch từng kẽ lá đi
tìm. Bọn lính nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước
đây, Út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, Út mượn xuồng đâm
sang ngang. Chị vừa bơi vừa vái "ông Bổn" (4) cho chị cứu được anh Hai, chị
sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng
đùng.
----(4) Một vị thần, dân thờ trong miếu ở Nam Bộ.
Cặp xuồng vào bờ, Út mò mẫm vạch tìm từ bụi này tới bụi khác. Trời tối
đen. Ô rô, cóc kèn cào trên mặt. Út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. Út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết,
mãnh liệt dâng lên trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt.
Súng giặc nổ càng gần, Út lại gọi giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh áo. Út
lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trân.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ...
Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, Út còn
nghiệm câu nói đó. Câu nói như có phép, làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn
thấy như gần.
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 4
Đang cho con bú, Út bỗng nghe thấy tiếng gì như tiếng người ngáy trên
nóc nhà. Trời đất tối đen. Anh Tịch đi vắng. Đặt con xuống, chị cầm lấy cái
đòn gánh. Đến gần cái giàn gác góc nhà, tiếng ngáy rõ hơn, Út chọc lên. Một
con người cựa mình, rồi nhảy xuống.
- Anh Hai!
Anh Hai ra hiệu cho Út im lặng. Đó là anh Hai Tấn, một cán bộ cách
mạng, giặc lùng bắt cả năm nay. Út vừa mừng, vừa la:
- Anh còn sống thiệt hả, anh Hai?
- Tôi còn đây.
Anh cho Út biết anh đã theo anh Tịch về đây ở mấy bữa nay, nhưng còn
bí mật, chưa dám ra mắt Út, Út hỏi:
- Đằng mình vẫn còn phải không anh?
- Còn chớ đi đâu mà mất.
- Thế hả anh?
Út muốn reo lên. Anh Hai phải ngăn lại, Út giận anh Tịch lắm. Sáng anh
Tịch đi đặt câu về, chị nói:
- Tôi đánh lại địa chủ, bị nó lột trần truồng, chạy về gặp anh giờ anh coi
tôi thiếu hiểu hơn anh hả?
Anh Tịch phải năn nỉ mãi. Cũng bởi Út hay nói lô la thẳng ruột ngựa, nên
anh ấy sợ. Út biết vậy.
Anh Tịch dừng (1)lại buồng thật kín. Ngày ngày Út đi chợ nấu cơm bưng
tới tận chỗ anh Hai ăn. Bọn lính tới nhà rà rê, Út mua rượu, gà xách sang nhà
bên cạnh, dụ nó sang bên đó. Giặc bố liên miên. Ruộng đất cách mạng cho,
nó cướp lại hết. Vào nhà ai, chúng muốn đào đâu, cày đâu cũng phải chịu.
Đêm đêm, chúng tự do bao xóm, bắt người tra tấn. Chúng thảy (2)vào nhà Út
tấm bảng sơn "Nhà tôi không chứa Việt cộng", bắt mua treo trong nhà. Anh
Hai vẫn ở đó. Đêm đêm, anh cùng anh Tịch đi công tác. Út ở nhà nằm võng,
đưa con, nghe ngóng, chờ cửa với một nỗi mừng vô hạn, vì cách mạng của
mình vẫn tiếp tục, hai vợ chồng Út vẫn được làm việc. Cái công việc mà nếu
phải ngưng lại một lúc nào đó thì hai vợ chồng sẽ cảm thấy lẻ loi, trơ trọi,
buồn khổ biết chừng nào.
----(1) Che kín.
(2) Ném.
Ít lâu sau, anh Hai đổi chỗ ở. Lâu lắm Út không nhận được tin gì về anh.
Một buổi chiều, đang lục cơm nguội cho con, Út bỗng thấy bọn lính lôi anh
Hai đi ngang. Út sững sờ, cái muỗng trong tay rơi xuống đất. Anh Hai bị nó
trói chéo cánh, ngực bầm đen. Anh không nhìn Út, nhưng lại mỉm cười như
chào. Nước mắt Út trào ra. Anh Tịch đi vắng. Mình phải làm gì đây? Chị suy
nghĩ mà chết đứng trong ruột.
Tới đầu xóm, bọn lính kéo vào một nhà dân, nhậu. Chúng cười giỡn ầm ĩ.
Ngoài chỉ còn anh Hai Tấn bị trói ngồi đó và một đám lính dở say. Bỏ con
nằm nhà, Út mò đến. Gần tới nơi bọn lính bỗng nghe thấy tiếng giặc hô hoán
và bắn ầm ĩ. Anh Hai chạy được rồi! Út mừng, trống ngực đập tưng tưng.
Giặc bắt cả xóm ra đốt đuốc, nổi trống mõ, bao giáp vòng vạch từng kẽ lá đi
tìm. Bọn lính nghĩ anh Hai chạy ra chỗ đó chứ không đâu cả. Chỗ đó, trước
đây, Út biết rồi.
Chạy một hơi lên xóm Đậu, vòng xuống Rạch Bờ, Út mượn xuồng đâm
sang ngang. Chị vừa bơi vừa vái "ông Bổn" (3)cho chị cứu được anh Hai, chị
sẽ ăn chay mười ngày. Đằng kia, bọn lính vẫn ra sức tìm kiếm, bắn đùng
đùng.
----(3) Một vị thần, dân thờ trong miếu ở Nam Bộ.
Cặp xuồng vào bờ, Út mò mẫm vạch tìm từ bụi này tới bụi khác. Trời tối
đen. Ô rô, cóc kèn cào trên mặt. Út ghé sát mặt xuống đất vừa trườn vừa gọi:
- Anh Hai! Anh Hai! Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Không thấy tiếng trả lời. Út trườn vào trong:
- Vợ thằng Tịch đây! Anh Hai! Anh ở đâu?
Tiếng gọi nhẹ như hơi thở, nhưng lại mang theo một sức sống tha thiết,
mãnh liệt dâng lên trên bờ sông lạnh lẽo, khuya khoắt.
Súng giặc nổ càng gần, Út lại gọi giọng nghẹn lại:
- Anh Hai! Anh ở đâu? Vợ Tịch đây! Vợ Tịch đây!
Từ trong bụi, tiếng anh Hai vọng ra, rất nhỏ:
- Vợ Tịch hả? Anh đây nè...
Anh bò ra. Người lạnh run. Thân thể trần trụi không còn một mảnh áo. Út
lột khăn đưa cho anh choàng. Thương anh quá, Út đứng chết trân.
Út đưa anh qua cơ sở bên Cồn. Từ đó, anh xuống Cần Thơ...
Nhiều việc đang chờ anh dưới đó. Lúc tạm biệt anh dặn Út một câu:
- Cách mạng không ở đâu xa, ở ngay trong lòng mình.
Cũng là câu anh dặn bà con Tam Ngãi. Hửng sáng về đến vàm, Út còn
nghiệm câu nói đó. Câu nói như có phép, làm cho anh Hai đã đi xa mà vẫn
thấy như gần.
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 5
Út sanh đứa con thứ hai. Như mọi người đàn bà Tam Ngãi khác, chị nuôi
con, thương chồng, làm rẫy mướn, hàng ngày phải xấn xả chống lại những
cái gì đe dọa, chết chóc do giặc phủ lên xóm mình, nhà mình. Trong tiếng ru
con, trong những lúc nhìn ra sông, người đàn bà nghèo nào cũng đều có ý
mong mỏi, chờ đợi, không nói với ai, nhưng lại như nói với tất cả, là thời thế
này nhất định phải thay đổi, phải khác đi. Rồi tự nhiên, người ta bắt nhớ đến
hồi chín năm. Lòng người lại sôi lên, có một sự khuấy động nào đó mà những
người đàn bà thùy mị nhất, ít nói nhất cũng không thể ngồi yên được.
Út treo thang thuốc ở đầu giường, nói với chồng:
- Bữa nay chúng nó bắt anh đi làm khu trù mật, anh cứ vận vào thang
thuốc này mà làm tới cho tôi.
Thằng đại diện tới, Út nhai cơm phun cùng nhà. Hai đứa nhỏ bị mẹ gắt,
khóc om sòm. Anh Tịch vin vào cảnh vợ bệnh, con thơ, không đi. Cả xóm
đều làm theo Út, không ai đi.
Thằng đại diện bắt cả xóm phải hầm (1)gạch, chở đi khu. Hầm xong, Út
nói với nó:
- Cầu xóm mới bắc, chưa có mang cá. Ba cái gạch này chở đi khu thì hai
cái mang cá nầy để cho ai? Sẵn gạch đây ta trám vào. Cầu bắc xong, ông có
việc quan ông đi một hơi từ Bà Mi về Cây Sanh cho khỏe, khỏi xuống xe.
-----
(1) Nung.
Thằng đại diện ngắm nghía một hồi, rồi gật. Đàn ông khỏi phải chở gạch
đi khu, bà con trong xóm được lợi cây cầu.
Từng chút một, Út giữ chặt lòng mình với cách mạng như vậy. Năm đó,
1959, Tam Ngãi nghèo lắm, đất đai chui dần vào tay những bọn như Hàm
Giỏi. Giặc rêu rao chúng đã bắn được người này, giết được người kia. Tam
Ngãi đói. Khoai tháng bảy cũng không đủ ăn. Nhà không còn hạt gạo. Út
bồng con theo chồng xuống Kế Sách làm mắm.
Một hôm anh Tám Táo, người mới vượt ngục ra, công tác ở Kế Sách đến
nhà Út chơi, than:
- Mình binh vận được sáu thùng đạn, nó đã mang ra ngoài rào bót rồi mà
không sao vô lấy được.
Út vừa cho con ăn vừa nói:
- Tôi lấy cho!
Chị mượn lưỡi hái, bơi xuồng đến bót, kêu:
- Ông xếp ơi, cho tôi cắt cỏ nghe!
Cắt cỏ thì sạch bót, nó cho ngay. Út men theo rào. Mấy thằng lính ghẹo:
"Ôn Sro-lanh boòng tê?" (2)rồi cười rộ lên. Út trả lời: "Tê" (3)nhưng mắt Út
vẫn không rời hàng rào. Vào tới đây, Út mới thấy gay go. Lấy đạn ra, bị lộ,
nó cũng bắn. Gặp bọn lính phản vận, mình vô lấy, nó cũng bắn. Nhưng phải
lấy. Đằng mình sắp nổi dậy. Một thùng đạn lấy được lúc này là cả tỉnh được
nhờ. Ngồi cắt cỏ từ sáng tới trưa, chịu cho bọn lính chọc ghẹo, Út mới tìm ra
dấu vết. Lần lượt, cả sáu thùng đạn được Út ôm lẫn với cỏ, xếp xuống xuồng
chở về.
----(2) Em có thương anh không?
(3) Không.
Từ giã Kế Sách, Út cùng chồng trở về Tam Ngãi với một xuồng lỉnh kỉnh
gạo, mắm, củi, đồ làm cá và tất cả những gì thu vén được của một người đàn
bà tần tảo. Thêm vào đó, một đứa con mới ra đời. Nhưng trên hết vẫn là chút
việc cách mạng mà Út vừa làm được trong lúc đi làm ăn xa. Giờ đây, trên
đường về, sự sung sướng đó càng trở nên náo nức hơn vì Út được tin quê nhà
đã bắt đầu đồng khởi.
Về tới nhà, anh Tịch nhào đi du kích. Út lại đi trinh sát, lại leo lên ngọn
dừa, giống như hồi xưa. Chỉ khác là bây giờ nhìn được xa hơn, chắc hơn.
Trận Rạch Chiếc, Út ra dấu cho các anh diệt cái ghe thằng cảnh sát, giết năm
thằng, lấy súng. Rồi trận Vườn Dơi. (Đó là cái vườn đầy dơi quạ của nhà
tổng Lâm). Sáng hôm ấy, Út đi chợ, bỗng thấy giặc từ ba mặt đổ vô, đếm
được ba trăm thằng. Út chạy vô nhà dân, mượn xe đạp phóng về. Chỉ kịp vứt
cái xe ở cửa chùa, Út chỉ hướng giặc sẽ đi và đề nghị anh em mình đón đánh.
Trận đó, mình đánh từ sáng tới chiều. Mỗi lần cái cù ngoéo của thằng chỉ huy
giặc huơ lên, Út lại thấy bọn lính bò lên như vịt xiêm. Đến lúc bị mình bắn
chết, nó cũng giãy lên như vịt xiêm bị cắt cổ vậy. Mấy lúc Út nhảy lên, mấy
lần các anh nắm giò lôi lại. Có một anh bị thương buông cây trung liên, Út
chạy lên, chụp lấy súng.
Đánh xong, Út quay trở lại thăm dò. Tất cả có chín chục thằng vừa chết
vừa bị thương nằm ngoài đồng. Lần đầu tiên, Út thấy giặc chết nhiều như
vậy. Đáng kiếp những ngày nó muốn bắn ai thì bắn, bỏ tù ai thì bỏ. Út nhận
xét rằng đằng mình đã nổi dậy tựa như hồi đánh Tây, nhưng bây giờ mình
khôn hơn, bản thân Út cũng đã trở thành người mẹ ba con rồi còn gì!
NGƯỜI MẸ CẦM SÚNG
Nguyễn Thi
www.dtv-ebook.com
Người Mẹ Cầm Súng Chương 6
Đó là hai câu thơ ông Sáu Hò đặt cho tổ gọi loa của ấp để mở đầu một bản
tin. Nguyên do như thế này.
Ông Chín Đà, cán bộ mặt trận, nói với Út:
- Thím có lời lẽ, đi phụ với bà con, đấu tranh.
Mười lần đi, mười lần Út bị đánh. Một lần, thằng quận hỏi:
- Con nào đi đầu đảng?
Thằng lính đằng sau trả lời thằng quận bằng cách thúc mũi súng vào lưng
Út.
Lần khác, thằng quận hỏi:
- Chồng mày đâu?
Út trả lời:
- Đi lính trên Sa Đéc.
- Sao không đi theo chồng làm vợ lính chân giày chân dép?
- Vợ cũng không bằng mẹ. Mẹ của lính cũng bị quan bắt ngồi phơi nắng
ngoài kia.
Út chỉ cho thằng lính Độ thấy bà mẹ nó đang ngồi ngoài sân.
Thằng quận đánh Út một trận bằng roi mây. Lúc đó, chị có thai đứa con
thứ tư. Về, Út nói với ông Chín Đà:
- Tôi bị đòn từ tám tuổi. Tôi không sợ đòn. Nếu không nhớ đường lối,
chắc tôi đánh nó rồi.
Ông Chín chuyển sang giao cho Út thăm dò bót Tám Thế. Bót Tám Thế
đóng ở giữa giáp ranh hai xã Tam Ngãi, An Phú Tân, khống chế cả hai bên,
hỗ trợ bọn địa chủ Cầu Kè lấy thuế và thu tô.
Chiều chiều Út rủ Phượng, Ân, hai cô gái đẹp nhất xóm ra rà rê trong đám
dưa cạnh bót. Cũng tính thả giỡn sóng (1)với nó, nếu được thì giật súng.
----(1) Giả vờ đùa cợt.
Bọn lính thằng nào cũng giống thằng nào, thấy gái là kéo ra. Út về báo với
ông Chín:
- Đám nầy:"hám chua" lắm, bót nầy lấy được.
Út về nói với chồng:
- Tôi nhứt định lấy cái bót này, nhưng lỡ phải đem thân ra cho nó giỡn
hớt, giày vò, anh chịu không?
Anh Tịch nói:
- Em làm sao được cứ làm.
Anh chân tình như vậy, Út thấy thương chồng vô cùng. Mình hy sinh thân
mình được rồi, nhưng anh ấy là chồng... Làm sao sẻ được nỗi đau lòng ấy của
anh để Út xin gánh chịu một mình? Út nhớ đến chú Chín Luông, thầm cám
ơn chú đã kiếm cho mình một người chồng thật tốt.
Đêm ấy, Út hỏi chồng lần nữa. Anh nhìn Út, cười. Nụ cười hiền hậu đầy
tình thương như mỗi lần anh trở về sau một trận đánh.
Út yên tâm đi công tác. Chiều nào chị cũng rủ Phượng, Ân ra đám dưa, bỏ
giùm hột. Cô Phượng, gốc người Khơ Me, trắng trẻo, con gái không mở
miệng thì thôi, mở miệng là cười. Cô Ân có duyên ngầm, nói chuyện rất
khéo. Cả hai cô đều gan, không biết sợ là gì. Út phụ trách Tám Thế, lớn tuổi,
sếp bót. Hai cô gái phụ trách hai thằng lính. Chiều về, ba người lại báo cáo
với ông Chín. Ông Chín gom ý lại, ngồi suy tính, rồi hướng dẫn ngày mai nên
nói gì.
Cả mười hai thằng giặc đều mám hơi Út và hai cô gái. Dưa bỏ hột xong,
hết cớ để ra, ba người xoay ra cắt cỏ quanh đám dưa. Cắt xong, mang xuống
sông để bỏ, nhà có bò đâu mà cho ăn. Lúc cả ba người sắp ngả theo mình thì
dưa lên cao. Chủ đám dưa không cho ba người vào, họ nói dưa gặp hơi đàn
bà, thúi gốc. Út nói với Tám Thế:
- Chừng nào tiện, mấy anh bắn ba phát súng báo hiệu kêu mấy em vô bót
chơi nghe.
Tám Thế làm thật. Ngày nào cũng đuổi vợ đi chợ. Ba người vào được bót.
Công việc đang chạy, đùng một cái, má cô Phượng không cho cô đi. Bà
không thích Út đến rủ con bà đi làm những điều "kỳ cục". Út đến năn nỉ:
- Nhà tôi bốn đời thù giặc, thím không tin tôi sao?
Út phải chạy đi viện cả ông Chín Đà tới nói.
Cuộc tấn công lại tiếp tục.
Nhưng Tám Thế vẫn không chịu giao bót cho ta. Út nghĩ: "Tao đã nói lấy
bót là lấy, đâu có chịu thua mày!". Út cùng hai cô về bàn với ông Chín, tổ
chức một bữa nhậu ở một nhà cạnh bót.
Tám Thế có tật nhậu nửa ly là Long Xuyên y nói ra Châu Đốc. Tiệc nửa
chừng, Út nói:
- Anh Tám à, người ta nói làm lớn láu ăn, đúng à. Sao anh không kêu anh
em ra nhậu?
Y kêu hết bọn lính ra, chỉ chừa một thằng gác kho súng ở chuồng cu. Ba
anh du kích cải trang đi ngang. Út giả đò kêu vô luôn. Bọn lính bắt đầu say.
Đã đến lúc phải đánh rồi mà ruột Út rối như tơ, không biết làm sao kêu được
thằng gác chuồng cu xuống. Để cho Phượng, Ân kèm chúng, Út lẻn lại bót,
kêu:
- Anh gác à, lấy thêm rượu cho ông sếp.
Nó không chịu xuống. Út lại nói:
- Anh không xuống thì chỉ chỗ tôi lấy cho.
- Chị không lấy được!
- Sao không? Bót này, trên Tám Thế, dưới tôi, chớ còn ai nữa.
Út nghĩ: "Tao có hy sinh thì bốn con tao nhân dân nuôi chớ không lo gì!".
Thằng gác bị chọc giận, xuống. Út dã lã, vừa cười vừa tuột cây súng trên
vai nó:
- Anh đưa tôi gác cho, vô lấy rượu đi...
Thằng lính giữ lại, Út giả đò lôi ra, rồi bất thần giằng mạnh một cái, cây
súng gọn tr...
 





