LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH- TẬP 8 THỜI LÊ SƠ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
    Ngày gửi: 09h:19' 01-10-2024
    Dung lượng: 27.1 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung

    LỜI GIỚI THIỆU
    Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
    giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
    thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
    Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
    nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
    y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
    Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ
    thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng
    nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các
    triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai
    cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
    Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
    một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
    trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
    sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể
    hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
    từng thời kỳ lịch sử.
    Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu
    của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
    Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện
    với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và
    thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và
    Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
    Thành phố Hồ Chí Minh
    TRẦN BẠCH ĐẰNG

    Khi đất nước vừa sạch bóng xâm lăng, để xoa dịu nỗi nhục thua
    trận của nhà Minh, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết biểu văn chuyển
    cho triều đình nhà Minh. Biểu văn ấy nói rõ, xin lập con cháu của họ
    Trần là Trần Cảo lên làm vua Đại Việt. Sau đó, Lê Lợi cho một đoàn
    sứ giả sang Trung Quốc cầu phong cho Trần Cảo.
    5

    Sứ đoàn gồm có Lê Thiếu Dĩnh, Lê Quang Cảnh, Lê Đức Huy và
    Đặng Hiếu Lộc. Ngoài biểu văn và cống phẩm, sứ đoàn còn mang trả
    cặp song hổ phù của Liễu Thăng, ấn bạc của Thượng thư Lý Khánh và
    Lương Minh cùng một bản kê danh sách tù binh với 280 tướng, 138
    viên quan, 12587 quân lính cùng 1200 con ngựa, 13180 lá cờ trận sẽ
    trao trả sau. Đây thực chất là đòn tấn công ngoại giao buộc nhà Minh
    phải công nhận độc lập chủ quyền nước ta.

    6

    Bấy giờ, nội bộ triều đình nhà Minh chia thành hai phe. Phe thứ
    nhất gồm những tên hiếu chiến, chủ trương tiến đánh báo thù, tái thiết
    nền đô hộ như cũ. Đứng đầu phe này là các tướng như Trương Phụ,
    Kiến Nghĩa và Hạ Nguyên Cát.
    7

    Phe thứ hai thì ôn hòa hơn, đứng đầu là Dương Sĩ Kỳ và Dương
    Vinh, hết lời can ngăn vua Minh không nên đưa quân sang Đại Việt
    vì như thế trong nước sẽ không lúc nào được yên, nạn binh đao chẳng
    biết đến khi nào mới dứt. Vả lại, các viên tướng tài giỏi như Liễu
    Thăng, Mộc Thạnh, Vương Thông còn thất bại thì những người mới
    lấy gì đảm bảo là thắng? Cứ thế, hai phe ngày đêm tranh cãi, không
    ai chịu ai.

    8

    Giữa lúc đó, phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc cũng
    nổi lên rầm rộ ở Sơn Đông, Hồ Quảng; đặc biệt là các địa phương
    tiếp giáp biên giới phía bắc Đại Việt như Quảng Đông, Quảng Tây và
    Vân Nam. Điều này khiến cho triều đình nhà Minh rất bối rối. Những
    tướng lĩnh khét tiếng tàn bạo của nhà Minh đều được sai cầm quân
    đi đàn áp khắp nơi.

    9

    Trước tình thế trong ngoài đều
    khốn khó, nhà Minh bắt buộc phải
    chấp nhận lời cầu phong của phái bộ
    sứ giả nước ta. Vua Minh sai Lễ bộ
    Tả Thị lang là La Nhữ Kính cùng với
    quan Thông chính là Hoàng Kính,
    Hồng lô Tự khanh là Từ Vĩnh Đạt
    sang nước ta để tấn phong Trần Cảo
    làm An Nam quốc vương.
    10

    Riêng về Trần Cảo, khi nghe tin mình được phong làm An Nam
    quốc vương thì vô cùng hoảng hốt. Trong lúc loạn lạc, Cảo nhận liều
    là dòng dõi vua Trần, chẳng qua chỉ để dễ kiếm sống; nay biết mình
    chẳng có công lao, không xứng ở ngôi cao hơn Lê Lợi nên bỏ trốn.
    Sợ hắn sang Trung Quốc, rồi nhà Minh lấy cớ phò hắn làm vua mà
    kéo quân sang nên các tướng đã truy lùng và giết chết để dứt hẳn mối
    lo về sau.

    11

    Cuối cùng, vào ngày 16 tháng 4 năm Mậu Thân (29-4-1428), tại
    kinh thành Thăng Long, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, đặt niên
    hiệu là Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu của nước nhà (vốn có từ
    năm 1054) là Đại Việt. Triều Lê chính thức dựng lên từ đó.
    12

    Sau nhiều cuộc đấu tranh ngoại giao khôn khéo của Lê Lợi, cuối
    cùng, ngày 5 tháng giêng năm Tân Hợi (1431), vua Minh sai Hữu
    Thị lang là Chương Xưởng và Hữu Thông chính là Từ Kỳ đem ấn
    tín và sắc phong cho Lê Lợi làm Quyền thự An Nam quốc sự (nghĩa
    là tạm coi công việc của An Nam, nhưng sử Trung Quốc lại chép là
    phong cho Lê Lợi làm An Nam quốc vương) và yêu cầu cứ ba năm
    lại sang cống một lần.
    13

    Ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi (1431), sứ thần nhà Minh về nước.
    Lê Thái Tổ sai các quan Thẩm hình viện phó sứ Nguyễn Văn Hiên,
    Ngự sử Trung thừa là Nguyễn Công Chí đi cùng với Chương Xưởng
    và Từ Kỳ sang triều Minh để đáp lễ. Từ đó, hai bên thông sứ đều đặn
    với nhau.

    14

    Khi phương Bắc đã yên, Lê Thái Tổ nghĩ đến việc ban thưởng cho
    tất cả những ai có công trong cuộc khởi nghĩa. Trước hết là 121 người
    đã sát cánh với nhà vua ngay trong thời kỳ đầu khởi nghĩa (1416).
    Tiếp theo là các võ tướng có công, có 218 người, chia làm ba hạng.
    Hạng nhất có 52 người, hạng hai có 72 người và hạng ba 94 người.
    Ngoài chức tước và tài sản do triều đình ban tặng họ còn được mang
    quốc tính (tức họ của vua - họ Lê của Lê Lợi). Bên cạnh đó, Lê Thái
    Tổ còn ban biển khai quốc công thần cho 93 văn thần võ tướng tiêu
    biểu của cuộc khởi nghĩa.
    15

    Để có người làm việc trong bộ máy nhà nước, nhà vua đã tuyển
    lựa một đội ngũ quan lại qua thi cử. Các quý tộc họ Lê dù có tước vị
    rất lớn nhưng vẫn không được phép chi phối hoạt động của triều đình
    như ở các triều đại Lý - Trần ngày trước. Mọi việc triều chính đều do
    bá quan văn võ (với các chức vụ tùy theo thứ tự đỗ đạt) đảm nhiệm
    và vua là người quyết định sau cùng.
    16

    Thực ra, việc xây dựng một đội ngũ
    quan lại để điều hành đất nước đã được
    Lê Thái Tổ tiến hành từ sau trận Tốt
    Động dù lúc đó một nửa đất nước vẫn
    nằm trong tay giặc Minh. Khoa ấy, Lê
    Lợi đã lấy đỗ 36 người, trong đó có
    Đào Công Soạn (Tiên Lữ, Hưng Yên)
    và Nguyễn Vỹ (Vĩnh Khang, Nghệ An).
    Tất cả đều được Lê Lợi tin cậy trao cho
    chức An phủ sứ các lộ hoặc Viên ngoại
    lang ở bộ. Cũng có một số người tuy
    không dự thi nhưng có tài thì vẫn được
    bổ làm quan như Nguyễn Tử Hoan
    (Quảng Bình) được trao chức quân sư.

    17

    Ngay sau khi lên ngôi, một trong những công việc được Lê Thái
    Tổ coi là cấp bách là tiếp tục tổ chức các khoa thi để kén chọn nhân
    tài. Năm 1429, nhà vua mở khoa thi Minh Kinh (hiểu rõ kinh sách
    Nho học) và lấy đỗ 7 người. Trong đó có nhà sử học tài ba Phan Phu
    Tiên (Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội ngày nay).
    18

    Ngoài ra, triều đình còn tổ chức hai khoa thi khác là Hoành Từ
    (1431) lấy đỗ 5 người và thi Hội (1433) lấy đỗ duy nhất một mình
    Chu Xa. Như vậy, sau 10 năm bôn ba đánh giặc cứu nước, giờ đây,
    Lê Thái Tổ lại phải dồn hết tâm trí để xây dựng đất nước. Chỉ trong
    6 năm ở ngôi, Lê Thái Tổ đã cho tổ chức tất cả 4 khoa thi. Điều đó
    chứng tỏ sự quan tâm của nhà vua trong việc tuyển chọn quan lại.
    19

    Lúc chưa quét sạch giặc Minh, miền
    đất phía bắc Thanh Hóa đã được Lê Lợi
    chia thành 4 đạo: Tây đạo (vùng Tuyên
    Quang, Phú Thọ đến tận Tây Bắc ngày
    nay), Đông đạo (vùng Hải Dương,
    Hưng Yên, Hải Phòng ngày nay), Bắc
    đạo (vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng
    Sơn, Thái Nguyên ngày nay) và Nam
    đạo (vùng Ninh Bình, Nam Hà, Thái
    Bình ngày nay).
    20

    sơ đồ tổ chức hành chính thời lê thái tổ

    vua
    triều đình

    tây

    đông

    bắc

    nam

    đạo

    đạo

    đạo

    đạo

    các trấn

    hải
    tây
    đạo

    các lộ

    các huyện các châu

    Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô
    thành Tây Kinh và đặt thêm đạo thứ 5 là Hải Tây đạo (từ Thanh Hóa
    trở vào phía nam). Đứng đầu mỗi đạo có chức Tổng tri do một tướng
    thân tín của Lê Lợi nắm giữ. Dưới đạo là lộ hoặc các trấn, dưới nữa
    là cấp châu hoặc cấp huyện. Đứng đầu các lộ, trấn, châu, huyện cũng
    là các tướng trung thành của Lam Sơn. Giúp việc các tướng Lam Sơn
    là một loạt các quan văn được tuyển lựa từ các cuộc thi trong cả nước.
    21

    Lê Thái Tổ cũng rất quan tâm đến việc xây dựng kỷ cương phép
    nước. Ngay trong thời kỳ chống giặc Minh, ông đã từng ban bố nhiều
    điều luật quan trọng để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa quân với
    dân. Khi lên ngôi, ông lại ban hành hai sắc lệnh đặc biệt: một là cho
    phép các quan nếu thấy các lệnh của vua đã ban hành có gì không
    hay thì tâu lên để sửa; hai là răn bảo các quan phải biết tự sửa mình
    nếu không sẽ trị tội.
    22

    Lê Thái Tổ còn ban bố nhiều điều luật, chủ yếu dựa theo hình luật
    đời nhà Đường (Trung Quốc). Đặc biệt, tội hình thời này đánh nặng
    vào những kẻ rượu chè cờ bạc, không chịu làm ăn tử tế. Ai đánh bạc
    bắt được sẽ bị chặt 3 phân ngón tay, đánh cờ thì chặt 1 phân. Những
    kẻ tụ tập rượu chè bị đánh 100 trượng. Ai chứa chấp cũng bị chịu
    phạt... Nhờ đó, mọi người ai nấy đều chăm chỉ lao động.
    23

    Sau khi ổn định triều chính, Lê Thái Tổ xuống chiếu đại xá thiên
    hạ, miễn thuế cho dân hai năm. Đồng thời, nhà vua cho 25 trong tổng
    số 35 vạn quân được giải ngũ để về quê. Số 10 vạn còn lại, được chia
    làm 5 phiên để thay nhau làm nhiệm vụ, như vậy sẽ chỉ có một phiên
    làm nghĩa vụ thường trực. Vào thời ấy, đó là một quyết định rất tích
    cực và táo bạo.
    24

    Nhưng lúc này có những người không có công lao gì thì lại sở hữu
    nhiều ruộng đất, điền trang; trong khi các quân, tướng từ chiến trận
    về thì hoàn toàn tay trắng. Thấu hiểu tâm tư của những người từng
    đồng cam cộng khổ với mình, Lê Thái Tổ đã thực hiện chính sách
    quân điền: lấy ruộng đất công của từng làng xã đem cấp lại cho quan
    và dân, tùy theo chức tước và địa vị xã hội của họ. Chính sách này
    được ban hành và thực hiện từ năm 1429.

    25

    Như vậy, quân điền là chính sách đối với ruộng đất công chứ không
    phải là toàn bộ ruộng đất. Bấy giờ, ruộng đất công của làng xã nào
    thì chia cho dân của làng xã đó, cho nên, diện tích của làng xã này có
    thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn diện tích của làng xã khác. Điều này phụ
    thuộc vào tổng số ruộng công và tổng số dân của từng làng. Người
    có chức sắc lớn hoặc địa vị xã hội cao thì sẽ được hưởng nhiều phần,
    ngược lại, người dân thường chỉ được hưởng rất ít, thậm chí chưa đầy
    một phần đất công.
    26

    Để có thêm ruộng đất công mà phân chia các vị vua đầu triều Lê
    đã quyết định trưng thu toàn bộ số ruộng đất mà quân Minh sử dụng
    trong thời kỳ chiếm đóng; ruộng đất của bọn quý tộc phản bội; liên
    tục khai hoang. Nhờ vậy, suốt thời Lê Sơ, cứ sáu năm (có khi ba năm),
    ruộng đất công được chia lại một lần.

    27

    Với dân, từ hạng cùng đinh trở lên đều được hưởng quân điền,
    nhưng số phần đất công của mỗi nhà luôn thay đổi, tùy thuộc vào sự
    thay đổi địa vị hoặc nhân khẩu. Người được hưởng quân điền phải
    thực hiện ba nghĩa vụ là: nạp tô, đi phu và đi lính. Nói khác hơn, họ
    trở thành tá điền của nhà nước và chế độ thu địa tô đã chiếm ưu thế
    trong xã hội. Đây là biểu hiện tập trung và sâu sắc quá trình phong
    kiến hóa xã hội nước ta.
    28

    Với quan lại, về nguyên tắc, từ hàng Tòng tứ phẩm (tức là bậc 8/18)
    trở xuống thì được hưởng quân điền. Còn quan từ hàng Chánh tứ phẩm
    (bậc 7/18) lên đến Chánh nhất phẩm (bậc 1/18) thì được hưởng chế
    độ ruộng đất riêng. Hẳn nhiên, diện tích quân điền mà quan lại được
    hưởng thì bao giờ cũng nhiều nhưng nghĩa vụ mà họ đóng góp cho
    nhà nước thì bao giờ cũng ít hơn dân.

    29

    Nhân dân hăng hái sản xuất, kinh tế nông nghiệp được phục hồi.
    Một thời kỳ thịnh vượng của đất nước được mở ra. Trong lịch sử nước
    nhà, quân điền là chính sách được đánh giá rất cao bởi nó thể hiện sự
    thủy chung của Lê Thái Tổ với khẩu hiệu cứu dân, vừa là một chính
    sách đầy sáng tạo giúp đẩy mạnh sự phát triển nông nghiệp - ngành
    kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng đối với nước ta.

    30

    Sau mấy năm củng cố xây dựng, đất nước đã đi vào ổn định, Lê
    Thái Tổ muốn ghi chép lại những việc đã xảy ra để truyền cho đời
    sau. Ngày 6 tháng 12 năm Tân Hợi (6-1-1432), vua sai làm sách Lam
    Sơn thực lục, một năm thì hoàn thành. Sách gồm ba quyển viết bằng
    chữ Hán theo kiểu biên niên về gốc tích của vua, về cuộc khởi nghĩa
    Lam Sơn, bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, danh sách 35 công
    thần... với những sử liệu khá phong phú. Đích thân vua đề tựa và ký
    là Lam Sơn động chủ.
    31

    Tương truyền, trước khi khởi nghĩa, Lê Thái Tổ được trời ban cho
    thanh gươm báu Thuận Thiên (theo ý trời). Từ ngày đó, Lê Thái Tổ
    luôn đem theo thanh gươm này bên mình. Một hôm đang đi thuyền
    trên hồ Thủy Quân - nay là hồ Gươm, thủ đô Hà Nội - bỗng một con
    rùa vàng xuất hiện trước mũi thuyền. Lê Thái Tổ rút gươm ra, nào ngờ
    gươm rơi ngay xuống hồ, rùa vàng cắp đi mất. Hư thực ra sao không
    rõ, nhưng câu chuyện này đã thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc
    ta vì tin rằng đất nước hòa bình nên trời lấy lại gươm.

    32

    Sau những năm kháng chiến gian khổ, lại phải bắt tay xây dựng
    đất nước từ đống hoang tàn, vua Lê Thái Tổ chưa đến 50 tuổi, sức
    khỏe đã suy yếu. Đã vậy, điều khiến nhà vua suy nghĩ đêm ngày là
    chọn người kế vị ngai vàng. Nhà vua chỉ có hai con trai, con trưởng
    là Tư Tề được đặt nhiều hy vọng thì bấy giờ lại “sinh ra điên cuồng
    bậy bạ”, trong khi đó con thứ tư là Lê Nguyên Long lúc ấy chỉ mới
    lên mười, chưa đủ trí khôn để chăm lo việc nước.
    33

    Những người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa
    năm xưa giữ chức vụ cao trong triều đình, có uy tín
    trong dân. Một số tha hóa, sống xa hoa, tự cao tự
    đại khiến nhà vua nghi kỵ. Đã vậy, trong triều lại
    có lớp nho sĩ, hoạn quan và những quý tộc họ Lê
    vì không có công lao, không được quyền cao chức
    trọng đâm ra thù oán, chờ cơ hội để hãm hại người
    khác. Bọn này nếu thấy nhà vua tỏ ra không vừa
    lòng ai thì xông vào vu cáo, đua nhau dâng sớ để
    nhà vua có cớ trị tội.

    34

    Vì thế, về cuối đời, Lê Thái Tổ đã phạm sai lầm là giết oan các
    công thần đã kề vai sát cánh bên mình từ những ngày đầu khởi nghĩa.
    Người đầu tiên bị chết là Trần Nguyên Hãn, cháu nội quan Đại Tư
    đồ đời Trần là Trần Nguyên Đán (1326-1390) và là anh em con cô
    cậu với Nguyễn Trãi. Không thấy thư tịch cổ chép năm sinh của ông
    nhưng căn cứ vào hành trạng cụ thể có thể ước đoán ông chào đời
    khoảng trước hoặc sau năm 1380 một chút.

    35

    Ông sinh tại tư dinh của cha ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch (nay
    thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã nổi danh là
    người thông minh, giỏi binh pháp lại chăm chỉ tập luyện võ nghệ nên
    khỏe mạnh khó ai địch nổi. Khi giặc Minh xâm lược nước ta gây ra
    bao điều bạo ngược khiến Trần Nguyên Hãn vô cùng căm hận. Ông
    muốn tìm người cùng chí hướng để rửa nhục cho đất nước nên thường
    đóng vai một người buôn bán dầu, đi khắp đó đây kết bạn với anh
    hùng hào kiệt mưu việc lớn.
    36

    Nghe tin Lê Lợi, trại chủ ở Lam Sơn đang thu nạp anh hùng hào
    kiệt, Trần Nguyên Hãn liền rủ Nguyễn Trãi tìm đường vào Thanh Hóa
    và được tham dự Hội thề Lũng Nhai cùng mười mấy anh em đồng chí
    hướng. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn và tự xưng
    là Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn được giữ chức Tư đồ - một
    trong những chức võ quan cao cấp của Lam Sơn. Với chức vụ này,
    ông luôn được cùng Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn bàn mưu tính kế.

    37

    Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đã có nhiều
    cống hiến xuất sắc. Với những công lao của mình, năm 1428, ông
    được Lê Lợi ban chức Tướng quốc (tức Tể tướng) và được ban quốc
    tính là họ Lê.

    38

    Nhưng làm quan chưa được bao lâu thì ông xin về trí sĩ. Nhà vua
    đồng ý, cho phép nỗi năm chỉ về chầu hai lần. Ông về hưu, làm nhà
    có lót gạch bông và đóng thuyền lớn nên bị kẻ xấu dèm pha, nói rằng
    ông có ý làm phản. Được tin này, nhà vua lập tức sai Xá nhân đến tận
    nơi để xét cho rõ hư thực. Bấy giờ, bọn Xá nhân chẳng cần hỏi han,
    cứ nhất quyết bắt Trần Nguyên Hãn về kinh đô để triều đình nghị án.
    39

    Dọc đường về kinh, Trần Nguyên Hãn uất ức, ngửa mặt lên trời
    khấn: “Tôi với nhà vua cùng hiệp mưu lo việc cứu dân cứu nước, vậy
    mà nhà vua lại muốn giết tôi. Hoàng thiên có biết thì xin soi xét cho”.
    Sử cũ chép rằng, ông vừa khấn xong thì bỗng gió lớn nổi lên khiến
    thuyền bị lật úp. Ông cùng 42 Xá nhân và Lực sĩ áp giải đều bị chết
    đuối. Triều đình hạ lệnh tịch thu hết gia sản của ông.

    40

    Danh tướng thứ hai bị giết một
    cách oan uổng là Phạm Văn Xảo. Khi
    Lê Lợi khởi nghĩa, ông là một trong
    những người đầu tiên ứng nghĩa. Năm
    1418, ông được trao chức Khu mật
    sứ, sát cánh chiến đấu với Lê Lợi lập
    nhiều chiến công vang dội. Đặc biệt,
    ông đã chỉ huy một đạo quân đánh bại
    5 vạn viện binh của Mộc Thạnh khiến
    Vương Thông phải đầu hàng.

    41

    Nhờ những công lao ấy, năm 1428, Phạm Văn Xảo được bao hàm
    Thái bảo và mang quốc tính họ Lê. Năm 1429, ông được thăng hàm
    Thái phó, tước Huyện hầu và tên ông được xếp hàng thứ 3 trong 93
    vị Khai quốc công thần. Nhưng chưa được hưởng phú quý thì lũ gian
    thần là Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoài Bá, Nguyễn Tông
    Chí và Lê Đức Dư tìm cách thêu dệt, dèm pha là ông có mưu đồ phản
    loạn. Cuối cùng nhà vua cũng phải tin theo và cho giết ông.
    42

    Khi đó, không những người bênh vực
    ông đều bị bọn này vu cho là cùng phe
    đảng với Phạm Văn Xảo nên cũng bị giết
    hoặc bị tù đày. Cái chết oan ức của Trần
    Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo là chuyện
    đau lòng đầu tiên của thời Lê Sơ. Sử cũ
    cho hay, sau đó, chính Lê Thái Tổ cũng rất
    ân hận song tất cả đều đã muộn. Lê Thái
    Tổ cho đuổi 5 tên ấy đi và hạ lệnh vĩnh
    viễn không ai được cho chúng làm quan
    nữa. Đương thời cho thế là quá nhẹ tay.

    43

    Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu
    (1433), Lê Thái Tổ mất sau gần 6 năm
    ở ngôi, thọ 49 tuổi. Con thứ của ngài là
    Lê Nguyên Long do Hoàng hậu Phạm
    Ngọc Trần sinh hạ ngày 21 tháng 11
    năm Quý Mão (1423) lên nối ngôi,
    tức vua Lê Thái Tông, đổi niên hiệu là
    Thiệu Bình. Bấy giờ nhà vua mới mười
    tuổi, lại sớm mồ côi mẹ (hoàng hậu họ
    Phạm mất lúc Thái Tông mới 3 tuổi)
    nên Đại Tư đồ Lê Sát nhận cố mệnh của
    Lê Thái Tổ phò tá cho vua nhỏ.

    44

    Lê Sát quê ở Bỉ Ngũ thuộc Lam Sơn (Thanh Hóa), theo Lê Lợi
    ngay từ ngày đầu khởi nghĩa. Ông vốn là một vị tướng tài, tham gia
    nhiều trận đánh và lập nhiều công lớn nên khi Lê Lợi lê ngôi hoàng
    đế, ông được phong Nhập nội Kiểm hiệu Tư khấu, Bình chương Quân
    quốc Trọng sự và đứng hàng thứ hai trong số 93 vị Khai quốc công
    thần. Sau khi Thái Tổ mất, Lê Sát được phong chức Tể tướng và được
    giao làm phụ chính.
    45

    Vừa có quyền hành lại vừa là nhạc phụ của vua (con gái của Lê
    Sát là Lê Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung làm Nguyên phi của
    Lê Thái Tông) nên quyền lực của Lê Sát ngày càng lớn. Vì thế ông
    thường hay cậy quyền, trái phép, làm nhiều điều ngang ngược, ai
    không tuân phục thì tìm cách làm hại. Ngay khi vừa nắm quyền, ông
    đã ngầm bỏ thuốc độc giết chết Lưu Nhân Chú, cũng là một vị Khai
    quốc công thần có nhiều công lao khiến nhiều người bề ngoài thì sợ
    nhưng trong lòng không phục.

    46

    Trong khi đó thì vua Lê Thái Tông mải chơi, không lo học hành.
    Triều đình cử Nguyễn Trãi, Trình Thuấn Du và một số đại thần thay
    phiên nhau vào giảng học nhưng vua đều đuổi đi hoặc đóng cửa không
    chịu tiếp. Những Ngôn quan (quan can gián vua) như Phan Thiên
    Tước, Lương Thiên Phúc, Nguyễn Chiêu Phủ lúc đó là những người
    nổi tiếng nghiêm cẩn và mực thước, dám nói thẳng nói thật nhưng vua,
    chỉ tin cậy đám hoạn quan nịnh thần như Lương Đăng, Đinh Thắng.
    47

    Ngày 25 tháng 4 năm Giáp Dần (1434), tức năm Thiệu Bình thứ
    nhất, sau một năm lên ngôi, Lê Thái Tông tiến hành thăng chức đồng
    loạt cho cả ngàn quan lại mà chẳng có lý do gì. Hôm ấy, quan Nội
    mật (quan ở Khu Mật viện, cơ quan cao nhất của triều đình chuyên
    lo các vấn đề dân sự) phải gọi tên cấp sắc liên tục suốt từ sáng đến
    trưa mà vẫn chưa xong.

    48
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !