Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH- TẬP 8 THỜI LÊ SƠ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
Ngày gửi: 09h:19' 01-10-2024
Dung lượng: 27.1 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
Ngày gửi: 09h:19' 01-10-2024
Dung lượng: 27.1 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ
thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng
nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các
triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể
hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu
của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện
với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và
thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và
Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Khi đất nước vừa sạch bóng xâm lăng, để xoa dịu nỗi nhục thua
trận của nhà Minh, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết biểu văn chuyển
cho triều đình nhà Minh. Biểu văn ấy nói rõ, xin lập con cháu của họ
Trần là Trần Cảo lên làm vua Đại Việt. Sau đó, Lê Lợi cho một đoàn
sứ giả sang Trung Quốc cầu phong cho Trần Cảo.
5
Sứ đoàn gồm có Lê Thiếu Dĩnh, Lê Quang Cảnh, Lê Đức Huy và
Đặng Hiếu Lộc. Ngoài biểu văn và cống phẩm, sứ đoàn còn mang trả
cặp song hổ phù của Liễu Thăng, ấn bạc của Thượng thư Lý Khánh và
Lương Minh cùng một bản kê danh sách tù binh với 280 tướng, 138
viên quan, 12587 quân lính cùng 1200 con ngựa, 13180 lá cờ trận sẽ
trao trả sau. Đây thực chất là đòn tấn công ngoại giao buộc nhà Minh
phải công nhận độc lập chủ quyền nước ta.
6
Bấy giờ, nội bộ triều đình nhà Minh chia thành hai phe. Phe thứ
nhất gồm những tên hiếu chiến, chủ trương tiến đánh báo thù, tái thiết
nền đô hộ như cũ. Đứng đầu phe này là các tướng như Trương Phụ,
Kiến Nghĩa và Hạ Nguyên Cát.
7
Phe thứ hai thì ôn hòa hơn, đứng đầu là Dương Sĩ Kỳ và Dương
Vinh, hết lời can ngăn vua Minh không nên đưa quân sang Đại Việt
vì như thế trong nước sẽ không lúc nào được yên, nạn binh đao chẳng
biết đến khi nào mới dứt. Vả lại, các viên tướng tài giỏi như Liễu
Thăng, Mộc Thạnh, Vương Thông còn thất bại thì những người mới
lấy gì đảm bảo là thắng? Cứ thế, hai phe ngày đêm tranh cãi, không
ai chịu ai.
8
Giữa lúc đó, phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc cũng
nổi lên rầm rộ ở Sơn Đông, Hồ Quảng; đặc biệt là các địa phương
tiếp giáp biên giới phía bắc Đại Việt như Quảng Đông, Quảng Tây và
Vân Nam. Điều này khiến cho triều đình nhà Minh rất bối rối. Những
tướng lĩnh khét tiếng tàn bạo của nhà Minh đều được sai cầm quân
đi đàn áp khắp nơi.
9
Trước tình thế trong ngoài đều
khốn khó, nhà Minh bắt buộc phải
chấp nhận lời cầu phong của phái bộ
sứ giả nước ta. Vua Minh sai Lễ bộ
Tả Thị lang là La Nhữ Kính cùng với
quan Thông chính là Hoàng Kính,
Hồng lô Tự khanh là Từ Vĩnh Đạt
sang nước ta để tấn phong Trần Cảo
làm An Nam quốc vương.
10
Riêng về Trần Cảo, khi nghe tin mình được phong làm An Nam
quốc vương thì vô cùng hoảng hốt. Trong lúc loạn lạc, Cảo nhận liều
là dòng dõi vua Trần, chẳng qua chỉ để dễ kiếm sống; nay biết mình
chẳng có công lao, không xứng ở ngôi cao hơn Lê Lợi nên bỏ trốn.
Sợ hắn sang Trung Quốc, rồi nhà Minh lấy cớ phò hắn làm vua mà
kéo quân sang nên các tướng đã truy lùng và giết chết để dứt hẳn mối
lo về sau.
11
Cuối cùng, vào ngày 16 tháng 4 năm Mậu Thân (29-4-1428), tại
kinh thành Thăng Long, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, đặt niên
hiệu là Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu của nước nhà (vốn có từ
năm 1054) là Đại Việt. Triều Lê chính thức dựng lên từ đó.
12
Sau nhiều cuộc đấu tranh ngoại giao khôn khéo của Lê Lợi, cuối
cùng, ngày 5 tháng giêng năm Tân Hợi (1431), vua Minh sai Hữu
Thị lang là Chương Xưởng và Hữu Thông chính là Từ Kỳ đem ấn
tín và sắc phong cho Lê Lợi làm Quyền thự An Nam quốc sự (nghĩa
là tạm coi công việc của An Nam, nhưng sử Trung Quốc lại chép là
phong cho Lê Lợi làm An Nam quốc vương) và yêu cầu cứ ba năm
lại sang cống một lần.
13
Ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi (1431), sứ thần nhà Minh về nước.
Lê Thái Tổ sai các quan Thẩm hình viện phó sứ Nguyễn Văn Hiên,
Ngự sử Trung thừa là Nguyễn Công Chí đi cùng với Chương Xưởng
và Từ Kỳ sang triều Minh để đáp lễ. Từ đó, hai bên thông sứ đều đặn
với nhau.
14
Khi phương Bắc đã yên, Lê Thái Tổ nghĩ đến việc ban thưởng cho
tất cả những ai có công trong cuộc khởi nghĩa. Trước hết là 121 người
đã sát cánh với nhà vua ngay trong thời kỳ đầu khởi nghĩa (1416).
Tiếp theo là các võ tướng có công, có 218 người, chia làm ba hạng.
Hạng nhất có 52 người, hạng hai có 72 người và hạng ba 94 người.
Ngoài chức tước và tài sản do triều đình ban tặng họ còn được mang
quốc tính (tức họ của vua - họ Lê của Lê Lợi). Bên cạnh đó, Lê Thái
Tổ còn ban biển khai quốc công thần cho 93 văn thần võ tướng tiêu
biểu của cuộc khởi nghĩa.
15
Để có người làm việc trong bộ máy nhà nước, nhà vua đã tuyển
lựa một đội ngũ quan lại qua thi cử. Các quý tộc họ Lê dù có tước vị
rất lớn nhưng vẫn không được phép chi phối hoạt động của triều đình
như ở các triều đại Lý - Trần ngày trước. Mọi việc triều chính đều do
bá quan văn võ (với các chức vụ tùy theo thứ tự đỗ đạt) đảm nhiệm
và vua là người quyết định sau cùng.
16
Thực ra, việc xây dựng một đội ngũ
quan lại để điều hành đất nước đã được
Lê Thái Tổ tiến hành từ sau trận Tốt
Động dù lúc đó một nửa đất nước vẫn
nằm trong tay giặc Minh. Khoa ấy, Lê
Lợi đã lấy đỗ 36 người, trong đó có
Đào Công Soạn (Tiên Lữ, Hưng Yên)
và Nguyễn Vỹ (Vĩnh Khang, Nghệ An).
Tất cả đều được Lê Lợi tin cậy trao cho
chức An phủ sứ các lộ hoặc Viên ngoại
lang ở bộ. Cũng có một số người tuy
không dự thi nhưng có tài thì vẫn được
bổ làm quan như Nguyễn Tử Hoan
(Quảng Bình) được trao chức quân sư.
17
Ngay sau khi lên ngôi, một trong những công việc được Lê Thái
Tổ coi là cấp bách là tiếp tục tổ chức các khoa thi để kén chọn nhân
tài. Năm 1429, nhà vua mở khoa thi Minh Kinh (hiểu rõ kinh sách
Nho học) và lấy đỗ 7 người. Trong đó có nhà sử học tài ba Phan Phu
Tiên (Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội ngày nay).
18
Ngoài ra, triều đình còn tổ chức hai khoa thi khác là Hoành Từ
(1431) lấy đỗ 5 người và thi Hội (1433) lấy đỗ duy nhất một mình
Chu Xa. Như vậy, sau 10 năm bôn ba đánh giặc cứu nước, giờ đây,
Lê Thái Tổ lại phải dồn hết tâm trí để xây dựng đất nước. Chỉ trong
6 năm ở ngôi, Lê Thái Tổ đã cho tổ chức tất cả 4 khoa thi. Điều đó
chứng tỏ sự quan tâm của nhà vua trong việc tuyển chọn quan lại.
19
Lúc chưa quét sạch giặc Minh, miền
đất phía bắc Thanh Hóa đã được Lê Lợi
chia thành 4 đạo: Tây đạo (vùng Tuyên
Quang, Phú Thọ đến tận Tây Bắc ngày
nay), Đông đạo (vùng Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng ngày nay), Bắc
đạo (vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng
Sơn, Thái Nguyên ngày nay) và Nam
đạo (vùng Ninh Bình, Nam Hà, Thái
Bình ngày nay).
20
sơ đồ tổ chức hành chính thời lê thái tổ
vua
triều đình
tây
đông
bắc
nam
đạo
đạo
đạo
đạo
các trấn
hải
tây
đạo
các lộ
các huyện các châu
Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô
thành Tây Kinh và đặt thêm đạo thứ 5 là Hải Tây đạo (từ Thanh Hóa
trở vào phía nam). Đứng đầu mỗi đạo có chức Tổng tri do một tướng
thân tín của Lê Lợi nắm giữ. Dưới đạo là lộ hoặc các trấn, dưới nữa
là cấp châu hoặc cấp huyện. Đứng đầu các lộ, trấn, châu, huyện cũng
là các tướng trung thành của Lam Sơn. Giúp việc các tướng Lam Sơn
là một loạt các quan văn được tuyển lựa từ các cuộc thi trong cả nước.
21
Lê Thái Tổ cũng rất quan tâm đến việc xây dựng kỷ cương phép
nước. Ngay trong thời kỳ chống giặc Minh, ông đã từng ban bố nhiều
điều luật quan trọng để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa quân với
dân. Khi lên ngôi, ông lại ban hành hai sắc lệnh đặc biệt: một là cho
phép các quan nếu thấy các lệnh của vua đã ban hành có gì không
hay thì tâu lên để sửa; hai là răn bảo các quan phải biết tự sửa mình
nếu không sẽ trị tội.
22
Lê Thái Tổ còn ban bố nhiều điều luật, chủ yếu dựa theo hình luật
đời nhà Đường (Trung Quốc). Đặc biệt, tội hình thời này đánh nặng
vào những kẻ rượu chè cờ bạc, không chịu làm ăn tử tế. Ai đánh bạc
bắt được sẽ bị chặt 3 phân ngón tay, đánh cờ thì chặt 1 phân. Những
kẻ tụ tập rượu chè bị đánh 100 trượng. Ai chứa chấp cũng bị chịu
phạt... Nhờ đó, mọi người ai nấy đều chăm chỉ lao động.
23
Sau khi ổn định triều chính, Lê Thái Tổ xuống chiếu đại xá thiên
hạ, miễn thuế cho dân hai năm. Đồng thời, nhà vua cho 25 trong tổng
số 35 vạn quân được giải ngũ để về quê. Số 10 vạn còn lại, được chia
làm 5 phiên để thay nhau làm nhiệm vụ, như vậy sẽ chỉ có một phiên
làm nghĩa vụ thường trực. Vào thời ấy, đó là một quyết định rất tích
cực và táo bạo.
24
Nhưng lúc này có những người không có công lao gì thì lại sở hữu
nhiều ruộng đất, điền trang; trong khi các quân, tướng từ chiến trận
về thì hoàn toàn tay trắng. Thấu hiểu tâm tư của những người từng
đồng cam cộng khổ với mình, Lê Thái Tổ đã thực hiện chính sách
quân điền: lấy ruộng đất công của từng làng xã đem cấp lại cho quan
và dân, tùy theo chức tước và địa vị xã hội của họ. Chính sách này
được ban hành và thực hiện từ năm 1429.
25
Như vậy, quân điền là chính sách đối với ruộng đất công chứ không
phải là toàn bộ ruộng đất. Bấy giờ, ruộng đất công của làng xã nào
thì chia cho dân của làng xã đó, cho nên, diện tích của làng xã này có
thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn diện tích của làng xã khác. Điều này phụ
thuộc vào tổng số ruộng công và tổng số dân của từng làng. Người
có chức sắc lớn hoặc địa vị xã hội cao thì sẽ được hưởng nhiều phần,
ngược lại, người dân thường chỉ được hưởng rất ít, thậm chí chưa đầy
một phần đất công.
26
Để có thêm ruộng đất công mà phân chia các vị vua đầu triều Lê
đã quyết định trưng thu toàn bộ số ruộng đất mà quân Minh sử dụng
trong thời kỳ chiếm đóng; ruộng đất của bọn quý tộc phản bội; liên
tục khai hoang. Nhờ vậy, suốt thời Lê Sơ, cứ sáu năm (có khi ba năm),
ruộng đất công được chia lại một lần.
27
Với dân, từ hạng cùng đinh trở lên đều được hưởng quân điền,
nhưng số phần đất công của mỗi nhà luôn thay đổi, tùy thuộc vào sự
thay đổi địa vị hoặc nhân khẩu. Người được hưởng quân điền phải
thực hiện ba nghĩa vụ là: nạp tô, đi phu và đi lính. Nói khác hơn, họ
trở thành tá điền của nhà nước và chế độ thu địa tô đã chiếm ưu thế
trong xã hội. Đây là biểu hiện tập trung và sâu sắc quá trình phong
kiến hóa xã hội nước ta.
28
Với quan lại, về nguyên tắc, từ hàng Tòng tứ phẩm (tức là bậc 8/18)
trở xuống thì được hưởng quân điền. Còn quan từ hàng Chánh tứ phẩm
(bậc 7/18) lên đến Chánh nhất phẩm (bậc 1/18) thì được hưởng chế
độ ruộng đất riêng. Hẳn nhiên, diện tích quân điền mà quan lại được
hưởng thì bao giờ cũng nhiều nhưng nghĩa vụ mà họ đóng góp cho
nhà nước thì bao giờ cũng ít hơn dân.
29
Nhân dân hăng hái sản xuất, kinh tế nông nghiệp được phục hồi.
Một thời kỳ thịnh vượng của đất nước được mở ra. Trong lịch sử nước
nhà, quân điền là chính sách được đánh giá rất cao bởi nó thể hiện sự
thủy chung của Lê Thái Tổ với khẩu hiệu cứu dân, vừa là một chính
sách đầy sáng tạo giúp đẩy mạnh sự phát triển nông nghiệp - ngành
kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng đối với nước ta.
30
Sau mấy năm củng cố xây dựng, đất nước đã đi vào ổn định, Lê
Thái Tổ muốn ghi chép lại những việc đã xảy ra để truyền cho đời
sau. Ngày 6 tháng 12 năm Tân Hợi (6-1-1432), vua sai làm sách Lam
Sơn thực lục, một năm thì hoàn thành. Sách gồm ba quyển viết bằng
chữ Hán theo kiểu biên niên về gốc tích của vua, về cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn, bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, danh sách 35 công
thần... với những sử liệu khá phong phú. Đích thân vua đề tựa và ký
là Lam Sơn động chủ.
31
Tương truyền, trước khi khởi nghĩa, Lê Thái Tổ được trời ban cho
thanh gươm báu Thuận Thiên (theo ý trời). Từ ngày đó, Lê Thái Tổ
luôn đem theo thanh gươm này bên mình. Một hôm đang đi thuyền
trên hồ Thủy Quân - nay là hồ Gươm, thủ đô Hà Nội - bỗng một con
rùa vàng xuất hiện trước mũi thuyền. Lê Thái Tổ rút gươm ra, nào ngờ
gươm rơi ngay xuống hồ, rùa vàng cắp đi mất. Hư thực ra sao không
rõ, nhưng câu chuyện này đã thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc
ta vì tin rằng đất nước hòa bình nên trời lấy lại gươm.
32
Sau những năm kháng chiến gian khổ, lại phải bắt tay xây dựng
đất nước từ đống hoang tàn, vua Lê Thái Tổ chưa đến 50 tuổi, sức
khỏe đã suy yếu. Đã vậy, điều khiến nhà vua suy nghĩ đêm ngày là
chọn người kế vị ngai vàng. Nhà vua chỉ có hai con trai, con trưởng
là Tư Tề được đặt nhiều hy vọng thì bấy giờ lại “sinh ra điên cuồng
bậy bạ”, trong khi đó con thứ tư là Lê Nguyên Long lúc ấy chỉ mới
lên mười, chưa đủ trí khôn để chăm lo việc nước.
33
Những người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa
năm xưa giữ chức vụ cao trong triều đình, có uy tín
trong dân. Một số tha hóa, sống xa hoa, tự cao tự
đại khiến nhà vua nghi kỵ. Đã vậy, trong triều lại
có lớp nho sĩ, hoạn quan và những quý tộc họ Lê
vì không có công lao, không được quyền cao chức
trọng đâm ra thù oán, chờ cơ hội để hãm hại người
khác. Bọn này nếu thấy nhà vua tỏ ra không vừa
lòng ai thì xông vào vu cáo, đua nhau dâng sớ để
nhà vua có cớ trị tội.
34
Vì thế, về cuối đời, Lê Thái Tổ đã phạm sai lầm là giết oan các
công thần đã kề vai sát cánh bên mình từ những ngày đầu khởi nghĩa.
Người đầu tiên bị chết là Trần Nguyên Hãn, cháu nội quan Đại Tư
đồ đời Trần là Trần Nguyên Đán (1326-1390) và là anh em con cô
cậu với Nguyễn Trãi. Không thấy thư tịch cổ chép năm sinh của ông
nhưng căn cứ vào hành trạng cụ thể có thể ước đoán ông chào đời
khoảng trước hoặc sau năm 1380 một chút.
35
Ông sinh tại tư dinh của cha ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch (nay
thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã nổi danh là
người thông minh, giỏi binh pháp lại chăm chỉ tập luyện võ nghệ nên
khỏe mạnh khó ai địch nổi. Khi giặc Minh xâm lược nước ta gây ra
bao điều bạo ngược khiến Trần Nguyên Hãn vô cùng căm hận. Ông
muốn tìm người cùng chí hướng để rửa nhục cho đất nước nên thường
đóng vai một người buôn bán dầu, đi khắp đó đây kết bạn với anh
hùng hào kiệt mưu việc lớn.
36
Nghe tin Lê Lợi, trại chủ ở Lam Sơn đang thu nạp anh hùng hào
kiệt, Trần Nguyên Hãn liền rủ Nguyễn Trãi tìm đường vào Thanh Hóa
và được tham dự Hội thề Lũng Nhai cùng mười mấy anh em đồng chí
hướng. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn và tự xưng
là Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn được giữ chức Tư đồ - một
trong những chức võ quan cao cấp của Lam Sơn. Với chức vụ này,
ông luôn được cùng Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn bàn mưu tính kế.
37
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đã có nhiều
cống hiến xuất sắc. Với những công lao của mình, năm 1428, ông
được Lê Lợi ban chức Tướng quốc (tức Tể tướng) và được ban quốc
tính là họ Lê.
38
Nhưng làm quan chưa được bao lâu thì ông xin về trí sĩ. Nhà vua
đồng ý, cho phép nỗi năm chỉ về chầu hai lần. Ông về hưu, làm nhà
có lót gạch bông và đóng thuyền lớn nên bị kẻ xấu dèm pha, nói rằng
ông có ý làm phản. Được tin này, nhà vua lập tức sai Xá nhân đến tận
nơi để xét cho rõ hư thực. Bấy giờ, bọn Xá nhân chẳng cần hỏi han,
cứ nhất quyết bắt Trần Nguyên Hãn về kinh đô để triều đình nghị án.
39
Dọc đường về kinh, Trần Nguyên Hãn uất ức, ngửa mặt lên trời
khấn: “Tôi với nhà vua cùng hiệp mưu lo việc cứu dân cứu nước, vậy
mà nhà vua lại muốn giết tôi. Hoàng thiên có biết thì xin soi xét cho”.
Sử cũ chép rằng, ông vừa khấn xong thì bỗng gió lớn nổi lên khiến
thuyền bị lật úp. Ông cùng 42 Xá nhân và Lực sĩ áp giải đều bị chết
đuối. Triều đình hạ lệnh tịch thu hết gia sản của ông.
40
Danh tướng thứ hai bị giết một
cách oan uổng là Phạm Văn Xảo. Khi
Lê Lợi khởi nghĩa, ông là một trong
những người đầu tiên ứng nghĩa. Năm
1418, ông được trao chức Khu mật
sứ, sát cánh chiến đấu với Lê Lợi lập
nhiều chiến công vang dội. Đặc biệt,
ông đã chỉ huy một đạo quân đánh bại
5 vạn viện binh của Mộc Thạnh khiến
Vương Thông phải đầu hàng.
41
Nhờ những công lao ấy, năm 1428, Phạm Văn Xảo được bao hàm
Thái bảo và mang quốc tính họ Lê. Năm 1429, ông được thăng hàm
Thái phó, tước Huyện hầu và tên ông được xếp hàng thứ 3 trong 93
vị Khai quốc công thần. Nhưng chưa được hưởng phú quý thì lũ gian
thần là Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoài Bá, Nguyễn Tông
Chí và Lê Đức Dư tìm cách thêu dệt, dèm pha là ông có mưu đồ phản
loạn. Cuối cùng nhà vua cũng phải tin theo và cho giết ông.
42
Khi đó, không những người bênh vực
ông đều bị bọn này vu cho là cùng phe
đảng với Phạm Văn Xảo nên cũng bị giết
hoặc bị tù đày. Cái chết oan ức của Trần
Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo là chuyện
đau lòng đầu tiên của thời Lê Sơ. Sử cũ
cho hay, sau đó, chính Lê Thái Tổ cũng rất
ân hận song tất cả đều đã muộn. Lê Thái
Tổ cho đuổi 5 tên ấy đi và hạ lệnh vĩnh
viễn không ai được cho chúng làm quan
nữa. Đương thời cho thế là quá nhẹ tay.
43
Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu
(1433), Lê Thái Tổ mất sau gần 6 năm
ở ngôi, thọ 49 tuổi. Con thứ của ngài là
Lê Nguyên Long do Hoàng hậu Phạm
Ngọc Trần sinh hạ ngày 21 tháng 11
năm Quý Mão (1423) lên nối ngôi,
tức vua Lê Thái Tông, đổi niên hiệu là
Thiệu Bình. Bấy giờ nhà vua mới mười
tuổi, lại sớm mồ côi mẹ (hoàng hậu họ
Phạm mất lúc Thái Tông mới 3 tuổi)
nên Đại Tư đồ Lê Sát nhận cố mệnh của
Lê Thái Tổ phò tá cho vua nhỏ.
44
Lê Sát quê ở Bỉ Ngũ thuộc Lam Sơn (Thanh Hóa), theo Lê Lợi
ngay từ ngày đầu khởi nghĩa. Ông vốn là một vị tướng tài, tham gia
nhiều trận đánh và lập nhiều công lớn nên khi Lê Lợi lê ngôi hoàng
đế, ông được phong Nhập nội Kiểm hiệu Tư khấu, Bình chương Quân
quốc Trọng sự và đứng hàng thứ hai trong số 93 vị Khai quốc công
thần. Sau khi Thái Tổ mất, Lê Sát được phong chức Tể tướng và được
giao làm phụ chính.
45
Vừa có quyền hành lại vừa là nhạc phụ của vua (con gái của Lê
Sát là Lê Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung làm Nguyên phi của
Lê Thái Tông) nên quyền lực của Lê Sát ngày càng lớn. Vì thế ông
thường hay cậy quyền, trái phép, làm nhiều điều ngang ngược, ai
không tuân phục thì tìm cách làm hại. Ngay khi vừa nắm quyền, ông
đã ngầm bỏ thuốc độc giết chết Lưu Nhân Chú, cũng là một vị Khai
quốc công thần có nhiều công lao khiến nhiều người bề ngoài thì sợ
nhưng trong lòng không phục.
46
Trong khi đó thì vua Lê Thái Tông mải chơi, không lo học hành.
Triều đình cử Nguyễn Trãi, Trình Thuấn Du và một số đại thần thay
phiên nhau vào giảng học nhưng vua đều đuổi đi hoặc đóng cửa không
chịu tiếp. Những Ngôn quan (quan can gián vua) như Phan Thiên
Tước, Lương Thiên Phúc, Nguyễn Chiêu Phủ lúc đó là những người
nổi tiếng nghiêm cẩn và mực thước, dám nói thẳng nói thật nhưng vua,
chỉ tin cậy đám hoạn quan nịnh thần như Lương Đăng, Đinh Thắng.
47
Ngày 25 tháng 4 năm Giáp Dần (1434), tức năm Thiệu Bình thứ
nhất, sau một năm lên ngôi, Lê Thái Tông tiến hành thăng chức đồng
loạt cho cả ngàn quan lại mà chẳng có lý do gì. Hôm ấy, quan Nội
mật (quan ở Khu Mật viện, cơ quan cao nhất của triều đình chuyên
lo các vấn đề dân sự) phải gọi tên cấp sắc liên tục suốt từ sáng đến
trưa mà vẫn chưa xong.
48
Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
thống, qua cách kể chuyện súc tích và tranh minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, từng triều đại cụ thể.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến thực hiện xuyên suốt từ
thời cổ của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng Vương dựng
nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ tự chủ của các
triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia làm nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
sử Việt Nam. Trong quá trình biện soạn, các tác giả còn chú ý thể
hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
từng thời kỳ lịch sử.
Công trình là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên cứu
của Viện Khoa học Xã hội tại TP Hồ Chí Minh và Nhà xuất bản Trẻ.
Đây là bộ lịch sử bằng tranh đầu tiên của nước ta được thực hiện
với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên soạn và
thể hiện không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn, họa sĩ và
Nhà xuất bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
Khi đất nước vừa sạch bóng xâm lăng, để xoa dịu nỗi nhục thua
trận của nhà Minh, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết biểu văn chuyển
cho triều đình nhà Minh. Biểu văn ấy nói rõ, xin lập con cháu của họ
Trần là Trần Cảo lên làm vua Đại Việt. Sau đó, Lê Lợi cho một đoàn
sứ giả sang Trung Quốc cầu phong cho Trần Cảo.
5
Sứ đoàn gồm có Lê Thiếu Dĩnh, Lê Quang Cảnh, Lê Đức Huy và
Đặng Hiếu Lộc. Ngoài biểu văn và cống phẩm, sứ đoàn còn mang trả
cặp song hổ phù của Liễu Thăng, ấn bạc của Thượng thư Lý Khánh và
Lương Minh cùng một bản kê danh sách tù binh với 280 tướng, 138
viên quan, 12587 quân lính cùng 1200 con ngựa, 13180 lá cờ trận sẽ
trao trả sau. Đây thực chất là đòn tấn công ngoại giao buộc nhà Minh
phải công nhận độc lập chủ quyền nước ta.
6
Bấy giờ, nội bộ triều đình nhà Minh chia thành hai phe. Phe thứ
nhất gồm những tên hiếu chiến, chủ trương tiến đánh báo thù, tái thiết
nền đô hộ như cũ. Đứng đầu phe này là các tướng như Trương Phụ,
Kiến Nghĩa và Hạ Nguyên Cát.
7
Phe thứ hai thì ôn hòa hơn, đứng đầu là Dương Sĩ Kỳ và Dương
Vinh, hết lời can ngăn vua Minh không nên đưa quân sang Đại Việt
vì như thế trong nước sẽ không lúc nào được yên, nạn binh đao chẳng
biết đến khi nào mới dứt. Vả lại, các viên tướng tài giỏi như Liễu
Thăng, Mộc Thạnh, Vương Thông còn thất bại thì những người mới
lấy gì đảm bảo là thắng? Cứ thế, hai phe ngày đêm tranh cãi, không
ai chịu ai.
8
Giữa lúc đó, phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc cũng
nổi lên rầm rộ ở Sơn Đông, Hồ Quảng; đặc biệt là các địa phương
tiếp giáp biên giới phía bắc Đại Việt như Quảng Đông, Quảng Tây và
Vân Nam. Điều này khiến cho triều đình nhà Minh rất bối rối. Những
tướng lĩnh khét tiếng tàn bạo của nhà Minh đều được sai cầm quân
đi đàn áp khắp nơi.
9
Trước tình thế trong ngoài đều
khốn khó, nhà Minh bắt buộc phải
chấp nhận lời cầu phong của phái bộ
sứ giả nước ta. Vua Minh sai Lễ bộ
Tả Thị lang là La Nhữ Kính cùng với
quan Thông chính là Hoàng Kính,
Hồng lô Tự khanh là Từ Vĩnh Đạt
sang nước ta để tấn phong Trần Cảo
làm An Nam quốc vương.
10
Riêng về Trần Cảo, khi nghe tin mình được phong làm An Nam
quốc vương thì vô cùng hoảng hốt. Trong lúc loạn lạc, Cảo nhận liều
là dòng dõi vua Trần, chẳng qua chỉ để dễ kiếm sống; nay biết mình
chẳng có công lao, không xứng ở ngôi cao hơn Lê Lợi nên bỏ trốn.
Sợ hắn sang Trung Quốc, rồi nhà Minh lấy cớ phò hắn làm vua mà
kéo quân sang nên các tướng đã truy lùng và giết chết để dứt hẳn mối
lo về sau.
11
Cuối cùng, vào ngày 16 tháng 4 năm Mậu Thân (29-4-1428), tại
kinh thành Thăng Long, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, đặt niên
hiệu là Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu của nước nhà (vốn có từ
năm 1054) là Đại Việt. Triều Lê chính thức dựng lên từ đó.
12
Sau nhiều cuộc đấu tranh ngoại giao khôn khéo của Lê Lợi, cuối
cùng, ngày 5 tháng giêng năm Tân Hợi (1431), vua Minh sai Hữu
Thị lang là Chương Xưởng và Hữu Thông chính là Từ Kỳ đem ấn
tín và sắc phong cho Lê Lợi làm Quyền thự An Nam quốc sự (nghĩa
là tạm coi công việc của An Nam, nhưng sử Trung Quốc lại chép là
phong cho Lê Lợi làm An Nam quốc vương) và yêu cầu cứ ba năm
lại sang cống một lần.
13
Ngày 20 tháng 11 năm Tân Hợi (1431), sứ thần nhà Minh về nước.
Lê Thái Tổ sai các quan Thẩm hình viện phó sứ Nguyễn Văn Hiên,
Ngự sử Trung thừa là Nguyễn Công Chí đi cùng với Chương Xưởng
và Từ Kỳ sang triều Minh để đáp lễ. Từ đó, hai bên thông sứ đều đặn
với nhau.
14
Khi phương Bắc đã yên, Lê Thái Tổ nghĩ đến việc ban thưởng cho
tất cả những ai có công trong cuộc khởi nghĩa. Trước hết là 121 người
đã sát cánh với nhà vua ngay trong thời kỳ đầu khởi nghĩa (1416).
Tiếp theo là các võ tướng có công, có 218 người, chia làm ba hạng.
Hạng nhất có 52 người, hạng hai có 72 người và hạng ba 94 người.
Ngoài chức tước và tài sản do triều đình ban tặng họ còn được mang
quốc tính (tức họ của vua - họ Lê của Lê Lợi). Bên cạnh đó, Lê Thái
Tổ còn ban biển khai quốc công thần cho 93 văn thần võ tướng tiêu
biểu của cuộc khởi nghĩa.
15
Để có người làm việc trong bộ máy nhà nước, nhà vua đã tuyển
lựa một đội ngũ quan lại qua thi cử. Các quý tộc họ Lê dù có tước vị
rất lớn nhưng vẫn không được phép chi phối hoạt động của triều đình
như ở các triều đại Lý - Trần ngày trước. Mọi việc triều chính đều do
bá quan văn võ (với các chức vụ tùy theo thứ tự đỗ đạt) đảm nhiệm
và vua là người quyết định sau cùng.
16
Thực ra, việc xây dựng một đội ngũ
quan lại để điều hành đất nước đã được
Lê Thái Tổ tiến hành từ sau trận Tốt
Động dù lúc đó một nửa đất nước vẫn
nằm trong tay giặc Minh. Khoa ấy, Lê
Lợi đã lấy đỗ 36 người, trong đó có
Đào Công Soạn (Tiên Lữ, Hưng Yên)
và Nguyễn Vỹ (Vĩnh Khang, Nghệ An).
Tất cả đều được Lê Lợi tin cậy trao cho
chức An phủ sứ các lộ hoặc Viên ngoại
lang ở bộ. Cũng có một số người tuy
không dự thi nhưng có tài thì vẫn được
bổ làm quan như Nguyễn Tử Hoan
(Quảng Bình) được trao chức quân sư.
17
Ngay sau khi lên ngôi, một trong những công việc được Lê Thái
Tổ coi là cấp bách là tiếp tục tổ chức các khoa thi để kén chọn nhân
tài. Năm 1429, nhà vua mở khoa thi Minh Kinh (hiểu rõ kinh sách
Nho học) và lấy đỗ 7 người. Trong đó có nhà sử học tài ba Phan Phu
Tiên (Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội ngày nay).
18
Ngoài ra, triều đình còn tổ chức hai khoa thi khác là Hoành Từ
(1431) lấy đỗ 5 người và thi Hội (1433) lấy đỗ duy nhất một mình
Chu Xa. Như vậy, sau 10 năm bôn ba đánh giặc cứu nước, giờ đây,
Lê Thái Tổ lại phải dồn hết tâm trí để xây dựng đất nước. Chỉ trong
6 năm ở ngôi, Lê Thái Tổ đã cho tổ chức tất cả 4 khoa thi. Điều đó
chứng tỏ sự quan tâm của nhà vua trong việc tuyển chọn quan lại.
19
Lúc chưa quét sạch giặc Minh, miền
đất phía bắc Thanh Hóa đã được Lê Lợi
chia thành 4 đạo: Tây đạo (vùng Tuyên
Quang, Phú Thọ đến tận Tây Bắc ngày
nay), Đông đạo (vùng Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng ngày nay), Bắc
đạo (vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng
Sơn, Thái Nguyên ngày nay) và Nam
đạo (vùng Ninh Bình, Nam Hà, Thái
Bình ngày nay).
20
sơ đồ tổ chức hành chính thời lê thái tổ
vua
triều đình
tây
đông
bắc
nam
đạo
đạo
đạo
đạo
các trấn
hải
tây
đạo
các lộ
các huyện các châu
Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi Đông Đô thành Đông Kinh, Tây Đô
thành Tây Kinh và đặt thêm đạo thứ 5 là Hải Tây đạo (từ Thanh Hóa
trở vào phía nam). Đứng đầu mỗi đạo có chức Tổng tri do một tướng
thân tín của Lê Lợi nắm giữ. Dưới đạo là lộ hoặc các trấn, dưới nữa
là cấp châu hoặc cấp huyện. Đứng đầu các lộ, trấn, châu, huyện cũng
là các tướng trung thành của Lam Sơn. Giúp việc các tướng Lam Sơn
là một loạt các quan văn được tuyển lựa từ các cuộc thi trong cả nước.
21
Lê Thái Tổ cũng rất quan tâm đến việc xây dựng kỷ cương phép
nước. Ngay trong thời kỳ chống giặc Minh, ông đã từng ban bố nhiều
điều luật quan trọng để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa quân với
dân. Khi lên ngôi, ông lại ban hành hai sắc lệnh đặc biệt: một là cho
phép các quan nếu thấy các lệnh của vua đã ban hành có gì không
hay thì tâu lên để sửa; hai là răn bảo các quan phải biết tự sửa mình
nếu không sẽ trị tội.
22
Lê Thái Tổ còn ban bố nhiều điều luật, chủ yếu dựa theo hình luật
đời nhà Đường (Trung Quốc). Đặc biệt, tội hình thời này đánh nặng
vào những kẻ rượu chè cờ bạc, không chịu làm ăn tử tế. Ai đánh bạc
bắt được sẽ bị chặt 3 phân ngón tay, đánh cờ thì chặt 1 phân. Những
kẻ tụ tập rượu chè bị đánh 100 trượng. Ai chứa chấp cũng bị chịu
phạt... Nhờ đó, mọi người ai nấy đều chăm chỉ lao động.
23
Sau khi ổn định triều chính, Lê Thái Tổ xuống chiếu đại xá thiên
hạ, miễn thuế cho dân hai năm. Đồng thời, nhà vua cho 25 trong tổng
số 35 vạn quân được giải ngũ để về quê. Số 10 vạn còn lại, được chia
làm 5 phiên để thay nhau làm nhiệm vụ, như vậy sẽ chỉ có một phiên
làm nghĩa vụ thường trực. Vào thời ấy, đó là một quyết định rất tích
cực và táo bạo.
24
Nhưng lúc này có những người không có công lao gì thì lại sở hữu
nhiều ruộng đất, điền trang; trong khi các quân, tướng từ chiến trận
về thì hoàn toàn tay trắng. Thấu hiểu tâm tư của những người từng
đồng cam cộng khổ với mình, Lê Thái Tổ đã thực hiện chính sách
quân điền: lấy ruộng đất công của từng làng xã đem cấp lại cho quan
và dân, tùy theo chức tước và địa vị xã hội của họ. Chính sách này
được ban hành và thực hiện từ năm 1429.
25
Như vậy, quân điền là chính sách đối với ruộng đất công chứ không
phải là toàn bộ ruộng đất. Bấy giờ, ruộng đất công của làng xã nào
thì chia cho dân của làng xã đó, cho nên, diện tích của làng xã này có
thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn diện tích của làng xã khác. Điều này phụ
thuộc vào tổng số ruộng công và tổng số dân của từng làng. Người
có chức sắc lớn hoặc địa vị xã hội cao thì sẽ được hưởng nhiều phần,
ngược lại, người dân thường chỉ được hưởng rất ít, thậm chí chưa đầy
một phần đất công.
26
Để có thêm ruộng đất công mà phân chia các vị vua đầu triều Lê
đã quyết định trưng thu toàn bộ số ruộng đất mà quân Minh sử dụng
trong thời kỳ chiếm đóng; ruộng đất của bọn quý tộc phản bội; liên
tục khai hoang. Nhờ vậy, suốt thời Lê Sơ, cứ sáu năm (có khi ba năm),
ruộng đất công được chia lại một lần.
27
Với dân, từ hạng cùng đinh trở lên đều được hưởng quân điền,
nhưng số phần đất công của mỗi nhà luôn thay đổi, tùy thuộc vào sự
thay đổi địa vị hoặc nhân khẩu. Người được hưởng quân điền phải
thực hiện ba nghĩa vụ là: nạp tô, đi phu và đi lính. Nói khác hơn, họ
trở thành tá điền của nhà nước và chế độ thu địa tô đã chiếm ưu thế
trong xã hội. Đây là biểu hiện tập trung và sâu sắc quá trình phong
kiến hóa xã hội nước ta.
28
Với quan lại, về nguyên tắc, từ hàng Tòng tứ phẩm (tức là bậc 8/18)
trở xuống thì được hưởng quân điền. Còn quan từ hàng Chánh tứ phẩm
(bậc 7/18) lên đến Chánh nhất phẩm (bậc 1/18) thì được hưởng chế
độ ruộng đất riêng. Hẳn nhiên, diện tích quân điền mà quan lại được
hưởng thì bao giờ cũng nhiều nhưng nghĩa vụ mà họ đóng góp cho
nhà nước thì bao giờ cũng ít hơn dân.
29
Nhân dân hăng hái sản xuất, kinh tế nông nghiệp được phục hồi.
Một thời kỳ thịnh vượng của đất nước được mở ra. Trong lịch sử nước
nhà, quân điền là chính sách được đánh giá rất cao bởi nó thể hiện sự
thủy chung của Lê Thái Tổ với khẩu hiệu cứu dân, vừa là một chính
sách đầy sáng tạo giúp đẩy mạnh sự phát triển nông nghiệp - ngành
kinh tế có vai trò cực kỳ quan trọng đối với nước ta.
30
Sau mấy năm củng cố xây dựng, đất nước đã đi vào ổn định, Lê
Thái Tổ muốn ghi chép lại những việc đã xảy ra để truyền cho đời
sau. Ngày 6 tháng 12 năm Tân Hợi (6-1-1432), vua sai làm sách Lam
Sơn thực lục, một năm thì hoàn thành. Sách gồm ba quyển viết bằng
chữ Hán theo kiểu biên niên về gốc tích của vua, về cuộc khởi nghĩa
Lam Sơn, bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, danh sách 35 công
thần... với những sử liệu khá phong phú. Đích thân vua đề tựa và ký
là Lam Sơn động chủ.
31
Tương truyền, trước khi khởi nghĩa, Lê Thái Tổ được trời ban cho
thanh gươm báu Thuận Thiên (theo ý trời). Từ ngày đó, Lê Thái Tổ
luôn đem theo thanh gươm này bên mình. Một hôm đang đi thuyền
trên hồ Thủy Quân - nay là hồ Gươm, thủ đô Hà Nội - bỗng một con
rùa vàng xuất hiện trước mũi thuyền. Lê Thái Tổ rút gươm ra, nào ngờ
gươm rơi ngay xuống hồ, rùa vàng cắp đi mất. Hư thực ra sao không
rõ, nhưng câu chuyện này đã thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc
ta vì tin rằng đất nước hòa bình nên trời lấy lại gươm.
32
Sau những năm kháng chiến gian khổ, lại phải bắt tay xây dựng
đất nước từ đống hoang tàn, vua Lê Thái Tổ chưa đến 50 tuổi, sức
khỏe đã suy yếu. Đã vậy, điều khiến nhà vua suy nghĩ đêm ngày là
chọn người kế vị ngai vàng. Nhà vua chỉ có hai con trai, con trưởng
là Tư Tề được đặt nhiều hy vọng thì bấy giờ lại “sinh ra điên cuồng
bậy bạ”, trong khi đó con thứ tư là Lê Nguyên Long lúc ấy chỉ mới
lên mười, chưa đủ trí khôn để chăm lo việc nước.
33
Những người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa
năm xưa giữ chức vụ cao trong triều đình, có uy tín
trong dân. Một số tha hóa, sống xa hoa, tự cao tự
đại khiến nhà vua nghi kỵ. Đã vậy, trong triều lại
có lớp nho sĩ, hoạn quan và những quý tộc họ Lê
vì không có công lao, không được quyền cao chức
trọng đâm ra thù oán, chờ cơ hội để hãm hại người
khác. Bọn này nếu thấy nhà vua tỏ ra không vừa
lòng ai thì xông vào vu cáo, đua nhau dâng sớ để
nhà vua có cớ trị tội.
34
Vì thế, về cuối đời, Lê Thái Tổ đã phạm sai lầm là giết oan các
công thần đã kề vai sát cánh bên mình từ những ngày đầu khởi nghĩa.
Người đầu tiên bị chết là Trần Nguyên Hãn, cháu nội quan Đại Tư
đồ đời Trần là Trần Nguyên Đán (1326-1390) và là anh em con cô
cậu với Nguyễn Trãi. Không thấy thư tịch cổ chép năm sinh của ông
nhưng căn cứ vào hành trạng cụ thể có thể ước đoán ông chào đời
khoảng trước hoặc sau năm 1380 một chút.
35
Ông sinh tại tư dinh của cha ở xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch (nay
thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã nổi danh là
người thông minh, giỏi binh pháp lại chăm chỉ tập luyện võ nghệ nên
khỏe mạnh khó ai địch nổi. Khi giặc Minh xâm lược nước ta gây ra
bao điều bạo ngược khiến Trần Nguyên Hãn vô cùng căm hận. Ông
muốn tìm người cùng chí hướng để rửa nhục cho đất nước nên thường
đóng vai một người buôn bán dầu, đi khắp đó đây kết bạn với anh
hùng hào kiệt mưu việc lớn.
36
Nghe tin Lê Lợi, trại chủ ở Lam Sơn đang thu nạp anh hùng hào
kiệt, Trần Nguyên Hãn liền rủ Nguyễn Trãi tìm đường vào Thanh Hóa
và được tham dự Hội thề Lũng Nhai cùng mười mấy anh em đồng chí
hướng. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn và tự xưng
là Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn được giữ chức Tư đồ - một
trong những chức võ quan cao cấp của Lam Sơn. Với chức vụ này,
ông luôn được cùng Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn bàn mưu tính kế.
37
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn đã có nhiều
cống hiến xuất sắc. Với những công lao của mình, năm 1428, ông
được Lê Lợi ban chức Tướng quốc (tức Tể tướng) và được ban quốc
tính là họ Lê.
38
Nhưng làm quan chưa được bao lâu thì ông xin về trí sĩ. Nhà vua
đồng ý, cho phép nỗi năm chỉ về chầu hai lần. Ông về hưu, làm nhà
có lót gạch bông và đóng thuyền lớn nên bị kẻ xấu dèm pha, nói rằng
ông có ý làm phản. Được tin này, nhà vua lập tức sai Xá nhân đến tận
nơi để xét cho rõ hư thực. Bấy giờ, bọn Xá nhân chẳng cần hỏi han,
cứ nhất quyết bắt Trần Nguyên Hãn về kinh đô để triều đình nghị án.
39
Dọc đường về kinh, Trần Nguyên Hãn uất ức, ngửa mặt lên trời
khấn: “Tôi với nhà vua cùng hiệp mưu lo việc cứu dân cứu nước, vậy
mà nhà vua lại muốn giết tôi. Hoàng thiên có biết thì xin soi xét cho”.
Sử cũ chép rằng, ông vừa khấn xong thì bỗng gió lớn nổi lên khiến
thuyền bị lật úp. Ông cùng 42 Xá nhân và Lực sĩ áp giải đều bị chết
đuối. Triều đình hạ lệnh tịch thu hết gia sản của ông.
40
Danh tướng thứ hai bị giết một
cách oan uổng là Phạm Văn Xảo. Khi
Lê Lợi khởi nghĩa, ông là một trong
những người đầu tiên ứng nghĩa. Năm
1418, ông được trao chức Khu mật
sứ, sát cánh chiến đấu với Lê Lợi lập
nhiều chiến công vang dội. Đặc biệt,
ông đã chỉ huy một đạo quân đánh bại
5 vạn viện binh của Mộc Thạnh khiến
Vương Thông phải đầu hàng.
41
Nhờ những công lao ấy, năm 1428, Phạm Văn Xảo được bao hàm
Thái bảo và mang quốc tính họ Lê. Năm 1429, ông được thăng hàm
Thái phó, tước Huyện hầu và tên ông được xếp hàng thứ 3 trong 93
vị Khai quốc công thần. Nhưng chưa được hưởng phú quý thì lũ gian
thần là Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoài Bá, Nguyễn Tông
Chí và Lê Đức Dư tìm cách thêu dệt, dèm pha là ông có mưu đồ phản
loạn. Cuối cùng nhà vua cũng phải tin theo và cho giết ông.
42
Khi đó, không những người bênh vực
ông đều bị bọn này vu cho là cùng phe
đảng với Phạm Văn Xảo nên cũng bị giết
hoặc bị tù đày. Cái chết oan ức của Trần
Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo là chuyện
đau lòng đầu tiên của thời Lê Sơ. Sử cũ
cho hay, sau đó, chính Lê Thái Tổ cũng rất
ân hận song tất cả đều đã muộn. Lê Thái
Tổ cho đuổi 5 tên ấy đi và hạ lệnh vĩnh
viễn không ai được cho chúng làm quan
nữa. Đương thời cho thế là quá nhẹ tay.
43
Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu
(1433), Lê Thái Tổ mất sau gần 6 năm
ở ngôi, thọ 49 tuổi. Con thứ của ngài là
Lê Nguyên Long do Hoàng hậu Phạm
Ngọc Trần sinh hạ ngày 21 tháng 11
năm Quý Mão (1423) lên nối ngôi,
tức vua Lê Thái Tông, đổi niên hiệu là
Thiệu Bình. Bấy giờ nhà vua mới mười
tuổi, lại sớm mồ côi mẹ (hoàng hậu họ
Phạm mất lúc Thái Tông mới 3 tuổi)
nên Đại Tư đồ Lê Sát nhận cố mệnh của
Lê Thái Tổ phò tá cho vua nhỏ.
44
Lê Sát quê ở Bỉ Ngũ thuộc Lam Sơn (Thanh Hóa), theo Lê Lợi
ngay từ ngày đầu khởi nghĩa. Ông vốn là một vị tướng tài, tham gia
nhiều trận đánh và lập nhiều công lớn nên khi Lê Lợi lê ngôi hoàng
đế, ông được phong Nhập nội Kiểm hiệu Tư khấu, Bình chương Quân
quốc Trọng sự và đứng hàng thứ hai trong số 93 vị Khai quốc công
thần. Sau khi Thái Tổ mất, Lê Sát được phong chức Tể tướng và được
giao làm phụ chính.
45
Vừa có quyền hành lại vừa là nhạc phụ của vua (con gái của Lê
Sát là Lê Thị Ngọc Dao được tuyển vào cung làm Nguyên phi của
Lê Thái Tông) nên quyền lực của Lê Sát ngày càng lớn. Vì thế ông
thường hay cậy quyền, trái phép, làm nhiều điều ngang ngược, ai
không tuân phục thì tìm cách làm hại. Ngay khi vừa nắm quyền, ông
đã ngầm bỏ thuốc độc giết chết Lưu Nhân Chú, cũng là một vị Khai
quốc công thần có nhiều công lao khiến nhiều người bề ngoài thì sợ
nhưng trong lòng không phục.
46
Trong khi đó thì vua Lê Thái Tông mải chơi, không lo học hành.
Triều đình cử Nguyễn Trãi, Trình Thuấn Du và một số đại thần thay
phiên nhau vào giảng học nhưng vua đều đuổi đi hoặc đóng cửa không
chịu tiếp. Những Ngôn quan (quan can gián vua) như Phan Thiên
Tước, Lương Thiên Phúc, Nguyễn Chiêu Phủ lúc đó là những người
nổi tiếng nghiêm cẩn và mực thước, dám nói thẳng nói thật nhưng vua,
chỉ tin cậy đám hoạn quan nịnh thần như Lương Đăng, Đinh Thắng.
47
Ngày 25 tháng 4 năm Giáp Dần (1434), tức năm Thiệu Bình thứ
nhất, sau một năm lên ngôi, Lê Thái Tông tiến hành thăng chức đồng
loạt cho cả ngàn quan lại mà chẳng có lý do gì. Hôm ấy, quan Nội
mật (quan ở Khu Mật viện, cơ quan cao nhất của triều đình chuyên
lo các vấn đề dân sự) phải gọi tên cấp sắc liên tục suốt từ sáng đến
trưa mà vẫn chưa xong.
48
 





