LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    Lịch sử Việt Nam bằng tranh tập 4 Thời Nhà Lý

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:44' 07-04-2024
    Dung lượng: 18.2 MB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung, Lương Định Quốc.
    biểu ghi biên mục trước xuất bản do thư viện KHTH TP.HCM thực hiện
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
    Thời nhà Lý / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân, Lê Văn Năm biên soạn ; họa sĩ
    Nguyễn Quang Cảnh ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015.
    316 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.4).
    1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Lý, 1010-1225 -- Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ
    Quỳnh Trân. III. Lê Văn Năm. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam -- History -- Lý dynasty, 1010-1225 -- Pictorical works.
    959.7023 -- dc 22
    T449

    https://thuviensach.vn

    Lời giới THiệu

    Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
    giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
    thống qua những truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
    Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và lịch
    sử Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa, y
    phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
    Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
    từ người cổ Việt Nam của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
    Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ độc
    lập tự chủ của Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
    hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vừa qua.
    Bộ sách chia thành nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
    một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
    trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
    sử Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể
    hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
    từng thời kỳ lịch sử.
    Công trình này là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên
    cứu của Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và Nhà
    xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh.
    Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
    thể hiện với mục đích và yêu cầu trên, nên trong quá trình biên soạn
    chắc không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn và Nhà xuất
    bản Trẻ mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
    Thành phố Hồ Chí Minh
    Trần Bạch Đằng

    https://thuviensach.vn

    https://thuviensach.vn

    Ngày mồng 1 tháng 10 năm giáp Ngọ (1054), vua Lý Thái Tông
    băng hà. Ngôi vua được truyền cho con trai trưởng là Thái tử Nhật
    Tôn. Nhật Tôn còn có một người em trai là hoàng tử Nhật Trung.
    Hoàng tử Nhật Trung vốn là người hiền hậu, lại không có ý tranh đoạt
    ngai vàng nên Thái tử Nhật Tôn lên ngôi một cách thuận lợi, được cả
    hoàng gia lẫn triều thần ủng hộ.

    7

    https://thuviensach.vn

    Sách sử không ghi rõ mẹ của Nhật Tôn tên thật là gì, chỉ biết bà
    mang họ Mai. Tương truyền, trước khi mang thai Thái tử, bà nằm
    mộng thấy mặt trăng rơi vào bụng. Ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi
    (1023), Thái tử Nhật Tôn chào đời tại cung Long Đức vì lúc này vua
    cha vẫn đang là Thái tử. Năm năm sau (1028), Lý Phật Mã lên ngôi
    (tức vua Lý Thái Tông), bà Mai được lập làm Hoàng hậu, Nhật Tôn
    được lập làm Thái tử. Đến khi Nhật Tôn lên ngôi vua, bà Mai được
    tôn làm Linh Cảm Thái hậu.

    8

    https://thuviensach.vn

    Nhật Tôn vốn là một cậu bé thông minh, từ nhỏ đã hiểu kinh sách,
    biết âm luật và giỏi binh thư, võ lược. Lớn lên, Nhật Tôn thường
    được vua Thái Tông sai cầm quân đi đánh dẹp những cuộc nổi loạn.
    Quân của Thái tử đi tới đâu thì chiến thắng tới đó nên uy danh của
    Nhật Tôn ngày càng lớn. Thêm nữa, do sống ở cung Long Đức, gần
    gũi với nhân dân lao động suốt hai mươi bảy năm nên Nhật Tôn rất
    được lòng dân chúng.
    9

    https://thuviensach.vn

    Là người luôn đề cao sức mạnh dân tộc, muốn đất nước ngày càng
    lớn mạnh nên khi vừa mới lên ngôi, Lý Thánh Tông liền đổi tên nước
    ta từ Đại Cồ Việt thành Đại Việt, mở ra một kỷ nguyên Đại Việt kéo
    dài đến 750 năm (cho đến đầu thế kỷ 19, cụ thể là năm 1804, dưới
    triều vua gia Long, tên nước mới đổi thành Việt Nam).

    10

    https://thuviensach.vn

    11

    https://thuviensach.vn

    Trong mười tám năm trị vì (1054-1072), vua Thánh Tông đã thay
    đổi niên hiệu năm lần*, phần nhiều là để đánh dấu một sự kiện quan
    trọng nào đó. Như năm Mậu Thân (1068), khi châu Chân Đăng dâng
    vua hai con bạch tượng (voi trắng) quý, vua đổi niên hiệu thành Thiên
    Huống Bảo Tượng. Hoặc vào tháng 7 năm Kỷ Dậu (1069), vua lại đổi
    niên hiệu thành Thần Võ để nhắc nhở cho mọi người biết sức mạnh
    của Đại Việt.
    * Đó là các niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054-1058), Chương Thánh Gia Khánh
    (1059-1065), Long Chương Thiên Tự (1066-1067), Thiên Huống Bảo Tượng (1068),
    Thần Võ (1069-1072).

    12

    https://thuviensach.vn

    Do đã sống gần gũi với dân gian một thời gian dài,
    đã từng thấy nhiều cảnh đói rét, oan uổng, bất công từ
    chốn thị thành đến miền thôn dã nên Lý Thánh Tông
    rất hiểu nổi khổ của dân chúng và từ đó, người rất
    thương dân. Ngay khi mới lên ngôi, vua Thánh Tông
    đã cho các cung nữ trong cung Thúy Hoa được trở về
    quê quán, được lấy chồng, sinh con, sống cuộc sống
    bình thường như bao cô gái khác.

    13

    https://thuviensach.vn

    Sau đó, vua lại cho đốt bỏ những hình cụ dùng để tra tấn tội nhân.
    Từ đây, tù nhân không còn bị tra khảo tàn nhẫn để lấy lời khai nữa.
    Không những vậy, vào những năm đại hạn, mất mùa, lo rằng dân
    chúng sẽ bị đói rét, vua Thánh Tông lại thường cho mở kho lấy lúa,
    tiền, vải chia cho dân nghèo.

    14

    https://thuviensach.vn

    Một hôm, giữa trời đông rét mướt, chạnh lòng nghĩ đến các tù nhân,
    vua Thánh Tông bèn bảo:
    - Trẫm ở trong cung, sưởi lò than thú*, mặc áo hồ cừu** mà còn rét
    như thế này huống chi những tù phạm bị giam trong ngục, bị gông
    cùm trói buộc, ngay gian chưa rõ, cơm không đủ no bụng, áo không
    phủ kín thân, gặp một cơn gió bấc thổi, nhỡ rét quá mà chết thì thật
    là thương lắm.
    Rồi nhà vua truyền lệnh cho quan Hữu ty phát cho tù nhân chăn
    chiếu đầy đủ và cho ăn một ngày hai bữa. Từ đấy số tù nhân chết vì
    đói rét giảm hẳn.
    * Lò sưởi đốt bằng thứ than làm từ xương động vật.
    ** Áo hồ cừu là loại áo làm bằng lông chồn, nhẹ và ấm.

    15

    https://thuviensach.vn

    Lại thương những người vì kém hiểu biết mà phạm tội, vua còn sửa
    đổi, giảm nhẹ một số hình phạt đã ghi trong bộ Hình thư dưới thời vua
    Lý Thái Tông. Năm 1055, trong một lần xét án ở điện Thiên Khánh,
    có công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua Thánh Tông đã
    chỉ vào công chúa mà nói:
    - Trẫm yêu dân cũng như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ có kẻ
    không hiểu biết, tự dấn thân vào đường phạm pháp mà phải tội, trẫm
    lấy làm thương xót lắm.
    16

    https://thuviensach.vn

    Và vua ra lệnh:
    - Từ rày về sau, tội trạng bất kể nặng nhẹ cũng khoan thứ* bớt đi!
    Đến năm 1071, vua Thánh Tông còn định ra lệ cho phép người
    mắc tội trượng hình** có thể dùng tiền để chuộc tội. Tuy nhiên, những
    người phạm trọng tội mà bị xử tử hình thì không được hưởng bất kỳ
    ân xá nào, kể cả khi vua có ban lệnh đại xá toàn thiên hạ.
    * Hành động có tính khoan dung và tha thứ.
    ** Hình phạt bị đánh bằng trượng.

    17

    https://thuviensach.vn

    Bên cạnh đó, để các quan phụ trách xử án luôn giữ được sự công
    bằng, trong sáng, vua Thánh Tông quyết định cấp lương bổng thật
    hậu cho họ. Các quan cao cấp trong tư pháp như Sĩ sư Ngụy Trọng
    Hòa và Đặng Thể Tư được cấp mỗi tháng 50 quan tiền, 200 bó lúa
    và cá muối. Còn mười viên ngục lại thì mỗi tháng lãnh 20 quan tiền,
    100 bó lúa.

    18

    https://thuviensach.vn

    Vua Lý Thánh Tông là người thích đi thăm thú dân tình ở khắp
    nơi. Vua đã đi thăm hầu hết các châu huyện trên cả nước, kể cả những
    vùng rừng núi xa xôi như châu Lạng. Khi thì vua đi xem nông dân
    gặt lúa, khi thì đi xem ngư dân đánh cá. Khi đó, vì chưa có con trai
    để lập làm Thái tử nên vua còn hay đi cầu tự tại những nơi dân gian
    cho là rất linh thiêng.
    19

    https://thuviensach.vn

    Năm 1062, vì đã bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có người thừa kế ngai
    vàng nên vua Thánh Tông buồn bực, thường đi du ngoạn cho khuây
    khỏa. Một hôm, vua đi qua làng Thổ Lỗi (gia Lâm, Hà Nội ngày
    nay), thấy có ngôi chùa đẹp liền ghé vào thăm. Thấy xa giá nhà vua
    đi tới, dân làng đổ xô ra xem, chỉ trừ một người con gái mải mê hái
    dâu cạnh một gốc cây lan là không mảy may để ý đến đấng thiên tử.
    20

    https://thuviensach.vn

    Vua ngạc nhiên, cho mời cô gái đó đến. Thấy nàng ăn nói lưu loát,
    thông minh, lại xinh đẹp, nết na nên vua đưa nàng về cung, cưới làm
    vợ, đặt tên mới là Ỷ Lan*. Bốn năm sau, Ỷ Lan sinh được một hoàng
    nam. Vua Thánh Tông vô cùng mừng rỡ, đặt tên con là Càn Đức,
    phong làm Thái tử, còn Ỷ Lan cũng được phong làm Nguyên phi**.
    * Ỷ Lan có nghĩa là dựa vào gốc cây lan.
    ** Nguyên phi đứng đầu hàng phi, chỉ đứng dưới hoàng hậu.

    21

    https://thuviensach.vn

    Các quan lại trong triều khi đó có nhiều người tài giỏi,
    nổi bật trong đó có Thái sư Lý Đạo Thành. Ngay từ khi
    mới lên ngôi, năm 1054, vua Thánh Tông đã phong cho
    Lý Đạo Thành chức Thái sư và Lý Đạo Thành giữ chức
    này trong suốt mười tám năm Thánh Tông trị vì đất nước.
    Lý Đạo Thành tuy theo đạo Phật nhưng lại đề cao những
    tư tưởng của Nho giáo như lòng trung thành tuyệt đối với
    đấng thiên tử, tôn trọng sự “chính danh” tức là mỗi người
    đều phải làm đúng chức phận của mình để “vua ra vua”,
    “tôi* ra tôi”, “cha ra cha”, “con ra con” thì xã hội mới có
    kỷ cương, gia đình mới có nề nếp.
    * Tôi ở đây có nghĩa là bề tôi dưới quyền của vua.

    22

    https://thuviensach.vn

    Mùa thu năm Kỷ Hợi (1059), để chỉnh đốn tác phong làm việc của
    quan lại cho trang trọng hơn, vua Thánh Tông đã cấp cho các quan
    trong triều mũ phốc đội đầu* và giày da. Từ đấy các quan khi vào chầu
    vua phải đội mũ và đi giày. Đến năm 1063, vua Thánh Tông lại đặt
    thêm lệ tung hô, chúc tụng nhà vua. Khi vào yết kiến, các quan phải
    xướng lên câu “Thánh cung vạn phúc”** rồi quân sĩ đồng thanh hô theo.
    * Mũ phốc đầu là mũ cánh chuồn.
    ** “Thánh cung vạn phúc” có nghĩa là nhà vua được muôn phước.

    23

    https://thuviensach.vn

    Ải Chi Lăng ngày nay. Ảnh: Vi Hồng Tuyên

    giống như các vua đời trước, vua Thánh Tông đối xử với các quan
    đứng đầu các châu vùng biên giới rất mềm dẻo nên rất được lòng họ.
    Các quan châu mục này vẫn thường dâng lên vua những sản vật quý
    của địa phương. Ở vùng biên giới, châu Lạng là châu rộng nhất và
    quan trọng nhất vì nó nằm án ngữ trên con đường bộ từ Trung Quốc
    sang Đại Việt*. Châu Lạng lại có động giáp là lớn nhất, nằm ở phía
    nam ải Chi Lăng - một cửa ải hiểm yếu. Từ vua Thái Tổ, Thái Tông
    đến vua Thánh Tông, tất cả đều rất ưu ái châu này.
    * Châu Lạng nay là tỉnh Lạng Sơn và một phần tỉnh Bắc Giang.

    24

    https://thuviensach.vn

    Vua Thái Tông từng gả công chúa Bình Dương cho quan Châu mục
    châu Lạng là Thân Thiệu Thái. Công chúa sinh hạ được người con trai
    là Thân Cảnh Nguyên. Sau này, Cảnh Nguyên trở thành một chàng
    trai thông minh, tài giỏi, được nối nghiệp cha làm Châu mục. Năm
    1059, trong một chuyến đi săn ở sông Nam Bình thuộc châu Lạng,
    vua Lý Thánh Tông đã đến thăm công chúa Bình Dương.
    25

    https://thuviensach.vn

    Tại đây, nhà vua đã gặp Cảnh Nguyên và rất mến mộ chàng trai tài
    trí này. Bảy năm sau (1066), khi người con gái yêu của vua là công
    chúa Thiên Thành đến tuổi cập kê, vua gả nàng cho Thân Cảnh Nguyên.
    Họ Thân từ đấy càng trung thành với nhà Lý và trở thành phên giậu*
    chắc chắn trong việc chống quân Tống xâm lược sau này. Nhờ chính
    sách kết thân ấy mà lòng dân miền núi đều hướng về triều đình.
    * Phên giậu hay rào giậu - chỉ sự che chắn ở biên cương.

    26

    https://thuviensach.vn

    Vua Lý Thánh Tông còn xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh,
    chia làm hai loại. Loại thứ nhất là quân Cấm vệ có nhiệm vụ bảo vệ
    nhà vua, hoàng gia và kinh thành. Trước đây, dưới thời vua Lý Thái
    Tông, toàn thể quân Cấm vệ được chia làm mười đơn vị, mỗi đơn vị
    được gọi là quân. Mỗi quân là 200 người, có cả lính kỵ binh và lính
    bắn đá. Thời vua Lý Thánh Tông cho tăng thêm sáu quân nữa, tất cả
    là mười sáu quân.

    27

    https://thuviensach.vn

    Quân Cấm vệ đều khỏe mạnh, giỏi võ nghệ và rất trung thành với
    nhà vua. Trên trán mỗi người đều thích ba chữ Thiên tử binh*. Ngày
    thường, họ đóng trại xung quanh kinh thành, khi vua đi đâu xa thì họ
    đi theo bảo vệ vua. Khi đất nước có loạn, họ sẽ là những người lính
    đi trước, dũng cảm xông pha mũi gươm, ngọn giáo để bảo vệ vua và
    triều đình.
    * Tức là binh lính của nhà vua.

    28

    https://thuviensach.vn

    Loại quân thứ hai thì không có quân số nhất định. Đó là những
    người dân ở trong độ tuổi đi làm lính nhưng mỗi tháng chỉ lên đơn
    vị một lần, gọi là đi phiên. Thời gian đi phiên không lâu. Hết phiên
    lại về quê làm ruộng. Loại quân này đóng ở các châu quận, không có
    lương, chỉ có cấp chỉ huy vì phải thường trực ở doanh trại nên được
    cấp lúa và vải. Hệ thống quân đội như vậy vừa đảm bảo quân số lại
    đảm bảo nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp.
    29

    https://thuviensach.vn

    Bấy giờ, thanh thế nước Đại Việt rất lớn, các nước nhỏ như Chân
    Lạp, Chiêm Thành vẫn thường sang tiến cống. Ngay cả đối với nhà
    Tống ở phía bắc, vua Lý Thánh Tông vẫn giữ thế bình đẳng, đôi khi
    còn tỏ ra lấn lướt nữa. Tuy vậy, một năm sau khi vua lên ngôi, nhà
    Tống sai sứ sang phong cho vua làm Quận vương, nhà vua cũng chấp
    nhận để duy trì mối giao hảo.

    30

    https://thuviensach.vn

    Hai năm sau, nhân dịp ở vùng rừng núi có người bắt được hai con
    thú lạ, vua bèn sai Viên ngoại lang Mai Nguyên Thanh đem sang
    biếu vua Tống, nói rằng đây là con kỳ lân*. Triều đình nhà Tống ngỡ
    ngàng vì kỳ lân vốn chỉ là một con vật huyền thoại, không ai biết
    được thực hư như thế nào.
    * Kỳ lân trong bộ “tứ linh” tượng trưng cho thánh nhân và được tưởng tượng hình dáng
    gần giống con sư tử. Có lẽ ở đây Lý Thánh Tông muốn ngầm ý nói với vua Tống rằng
    Đại Việt đã có thánh nhân?

    31

    https://thuviensach.vn

    Triều đình nhà Tống cho rằng đó không phải kỳ lân nên rất tức
    giận, muốn gây hấn Đại Việt nhưng một viên quan là Tư Mã Quang
    ngăn lại:
    - Ta chưa chắc chắn rằng đây là kỳ lân thực hay giả. Nhưng nếu
    quả con lân thực mà xuất hiện không đúng lúc cũng không phải là
    điềm lành. Còn nếu đúng là con lân giả, ta làm lớn chuyện thì càng
    khiến cho người phương xa có dịp cười ta thôi!
    Vì thế, để giữ sĩ diện, nhà Tống đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt*,
    giả lả, tặng quà cho sứ giả rồi làm lễ tiễn về.
    * Quả bồ hòn gần giống quả nhãn, có vị rất đắng. trước kia chưa có xà phòng, dân
    chúng thường dùng quả này để giặt quần áo. Thành ngữ “ngậm bồ hòn làm ngọt”
    để chỉ trạng thái miễn cưỡng phải chấp nhận một chuyện không vừa lòng.

    32

    https://thuviensach.vn

    Với quan lại nhà Tống ở các vùng đất giáp biên giới Đại Việt,
    vua Thánh Tông càng tỏ ra lấn lướt. Mùa xuân năm Canh Tý (1060),
    có một băng cướp chạy từ châu Lạng của Đại Việt sang huyện Như
    Ngao của nhà Tống. Quan Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái
    - chồng của công chúa Bình Dương - đã không ngần ngại đem quân
    vào nước Tống để truy bắt bọn cướp. Kết quả là Thân Thiệu Thái đã
    bắt được toàn bộ băng cướp và nhiều nguời liên quan, thu giữ nhiều
    trâu bò, của cải.
    33

    https://thuviensach.vn

    Trong số những người bị bắt có lẫn một viên quan nhà Tống là
    Dương Bảo Tài. Triều đình nhà Tống sai sứ đến ung châu đàm phán
    với nhà Lý. Vua Thánh Tông cũng sai sứ tới ung châu. Sứ thần nhà
    Tống đem nhiều của cải ra đút lót cho sứ của Đại Việt và nhờ mang
    thư của nhà Tống về dâng lên vua Thánh Tông. Trong thư, quan nhà
    Tống xin vua Lý trả lại Dương Bảo Tài nhưng vua Thánh Tông không
    đồng ý, nhà Tống cũng đành phải chịu, không dám gây hấn.
    34

    https://thuviensach.vn

    Dù biết Thánh Tông không dễ dàng nghe lệnh mình nhưng nhà
    Tống vẫn phong thêm chức tước cho vua Đại Việt. Năm giáp Thìn
    (1064), vua Tống phong cho Lý Thánh Tông là Đồng bình chương
    sự. Năm Đinh Mùi (1068) lại phong là Nam Bình vương. Tuy không
    dám ra mặt gây chiến tranh nhưng nhà Tống vẫn âm thầm nuôi ý định
    xâm chiếm Đại Việt. Cùng lúc ấy, ở phía nam Đại Việt, vua Chiêm
    Thành cũng đang muốn tấn công nước ta.

    35

    https://thuviensach.vn

    Vua Chiêm Thành khi đó là Chế Củ (Rudravarman iii) đã ra sức
    chuẩn bị lương thực, vũ khí, rèn luyện quân lính, có ý muốn dựa vào
    nhà Tống mà đánh Đại Việt. Chế Củ cho người sang cống nhà Tống
    phương vật* để xin thần phục và xin mua ngựa. Vua Tống nhân cơ
    hội này muốn kết liên minh với Chiêm Thành mà xâm lăng Đại Việt
    nên đã tặng vua Chiêm Thành một con ngựa bạch nhưng lại chỉ cho
    phép người Chiêm Thành mua lừa ở Quảng Châu.
    * Sản phẩm của địa phương.

    36

    https://thuviensach.vn

    Để đánh tan liên minh Tống - Chiêm Thành, vào mùa xuân năm Kỷ
    Dậu (1069), vua Thánh Tông quyết định tự mình cầm quân đi đánh
    Chiêm Thành. Để đề phòng những kẻ có ý cướp ngôi trong lúc mình
    vắng mặt ở kinh thành, ngày 5 tháng 3 năm ấy, vua Thánh Tông đã
    cho cử hành lễ thề trọng thể tại sân Long Trì*. Vua Thánh Tông còn
    phong cho Lý Thường Kiệt làm Đại tướng quân, lãnh ấn tiên phong,
    kiêm chức Nguyên soái. Em của Lý Thường Kiệt là Thường Hiến
    cũng đi theo đoàn quân chinh phạt.
    * Lễ thề này thường gọi là lễ thề đền Đồng Cổ, đã được tổ chức thường xuyên dưới triều
    vua Lý Thái Tông.

    37

    https://thuviensach.vn

    Sau khi giao quyền điều hành đất nước cho Nguyên phi Ỷ Lan và
    Thái sư Lý Đạo Thành, đầu tháng 3 năm ấy, vua Thánh Tông xuống
    thuyền, cùng đại quân rẽ sóng ra biển Đông. Thuyền đi về hướng nam
    chừng nửa tháng thì đến cửa Nhật Lệ (Quảng Bình). Tại cửa biển này,
    thủy quân Chiêm Thành đã xông ra đánh chặn nhưng không cản được
    bước tiến của quân Đại Việt.

    38

    https://thuviensach.vn

    Ngày 3 tháng 4, đoàn thuyền của vua Thánh Tông đã tiến đến Thị
    Nại (Quy Nhơn). Đại quân đổ bộ lên bờ sông Tu Mao*. Sau nhiều trận
    đánh ác liệt, quân Đại Việt đã đánh bại được quân Chiêm Thành, chiếm
    được quốc đô Phật Thệ. Chế Củ phải dẫn gia đình chạy về phía nam.
    Lý Thường Kiệt đem quân đuổi đến biên giới Chân Lạp thì bắt được.
    * Theo Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì đấy có thể là nhánh cực nam của hạ lưu sông Tam
    Huyện (còn gọi là Tân An) ở Bình Định. Nguồn: Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt:
    lịch sử ngoại giao và tông giáo đời Lý, Ban Tu thư đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1966,
    tr.63.

    39

    https://thuviensach.vn

    40

    https://thuviensach.vn

    Chiến thắng trở về, vua Thánh Tông càng vui hơn khi chứng kiến
    cảnh đất nước bình yên dưới sự điều hành của Nguyên phi Ỷ Lan và
    Thái sư Lý Đạo Thành. Để chuộc tội, Chế Củ xin dâng ba châu Địa
    Lý, Ma Linh và Bố Chính (cả ba châu này thuộc đất Quảng Bình và
    Quảng Trị ngày nay). Vua Lý Thánh Tông đồng ý và sai sứ sang nhà
    Tống báo tin. Trong lời biểu có viết: “Nước Chiêm Thành đã lâu không
    tới cống. Tôi tự đem quân đánh...”. Vua Tống tuy tức giận nhưng cũng
    đành chấp nhận và đành từ bỏ ý đồ liên minh với Chiêm Thành.

    41

    https://thuviensach.vn

    Sau chiến thắng, vua Lý Thánh Tông ban
    thưởng cho những người có công. Lý Thường
    Kiệt được phong làm Phụ quốc Thái phó, lại
    được vua Thánh Tông nhận làm con nuôi (tức là
    được đứng vào hàng tước vương). Vua còn ghi
    công cho Thái sư Lý Đạo Thành và Nguyên phi
    Ỷ Lan đã giữ yên được đất nước trong lúc vua
    chinh chiến nơi xa.

    42

    https://thuviensach.vn

    Đất nước càng ngày càng hưng thịnh
    nhưng vua Thánh Tông không vì thế mà
    lơ là chính sự. Hàng năm, vua vẫn giữ
    lệ cày ruộng Tịch Điền. Tháng 4 năm
    Bính Thân (1056), nhà vua ban chiếu
    khuyến nông khiến ruộng nương nơi nơi
    xanh ngát, hoa trái đầy cành. Khi hạn hán
    xảy ra, như vào tháng 4 năm Canh Tuất
    (1070), triều đình phát thóc, lụa trong
    kho cho dân nghèo. Mỏ vàng mỏ bạc
    được đưa vào khai thác. Các ngành nghề
    thủ công đều được mở mang, phát triển.
    Kinh tế phát triển, quốc khố đầy ăm ắp.

    43

    https://thuviensach.vn

    Nghề dệt ở Đại Việt lúc này được cải tiến thêm một bước nhờ được
    kết hợp nghề dệt lĩnh của Chiêm Thành. Nghề dệt lĩnh do một người
    con gái Chiêm Thành tên là Phan Thị Ngọc Đô truyền dạy. Nhờ có
    tay nghề điêu luyện, độc đáo, nàng cùng hai mươi tư thị nữ được nhà
    vua đưa đến ở làng Trích Sài cạnh Hồ Tây để dệt lĩnh. Tại đây nàng
    truyền nghề này cho dân làng và tạo nên một vùng chuyên dệt lĩnh
    Chăm. Khi nàng mất, dân làng lập miếu thờ, gọi nàng là bà chúa Lĩnh
    và tôn làm tổ nghề của làng mình.

    44

    https://thuviensach.vn

    CHÚ THÍCH
    Tỉnh lỵ ngày nay
    Biên giới ngày nay
    Chùa Thầy
    Tháp Báo Thiên
    Chùa Lý Triều Quốc Sư
    Chùa Diên Hựu
    Chùa Láng
    Chùa Tam Sơn
    Chùa Dặn
    Đền Lý Bát Đế
    Chùa Tiêu Sơn
    Chùa tháp Phật Tích
    Chùa Bách Môn
    Chùa Giạm

    Chùa Hàm Long
    Chùa Bà Tấm
    Chùa Hương Lăng
    Chùa Đậu
    Chùa tháp Long Đọi
    Chùa Côn Sơn
    Chùa Quỳnh Lâm
    Chùa Phù Vân Yên Tử
    Chùa Non Nước
    Chùa Sùng Nghiêm
    Diên Thánh
    Chùa tháp Tường Long
    Chùa trăm gian Hà Nội

    Vua Lý Thánh Tông cũng là người sùng đạo Phật. Nhà vua đã cho
    xây thêm nhiều chùa, tháp như: chùa Đông Lâm, chùa Tĩnh Lự ở núi
    Đông Cứu - Bắc Ninh (1055), chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ (1057),
    chùa Sùng Nghiêm Báo Đức ở châu Vũ Ninh - nay là huyện Quế Võ,
    tỉnh Bắc Ninh (1059), chùa Nhị Thiên Vương ở phía đông nam thành
    Thăng Long (1070)... Nay một số chùa còn dấu tích như chùa Phật
    Tích (Bắc Ninh), chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), chùa tháp Đồ Sơn
    (Hải Phòng)... đều được dựng vào năm 1057.
    45

    https://thuviensach.vn

    Trên núi Lam Kha (huyện Tiên Du, Bắc Ninh) có một tượng Phật
    A Di Đà bằng đá, cao 2,5m do vua Thánh Tông sai Lang tướng Quách
    Mãn làm vào năm 1057. Đặc biệt, chùa Sùng Khánh Báo Thiên - gọi
    tắt là Báo Thiên - được khởi công xây dựng vào năm 1056 ở trong
    thành Thăng Long là một ngôi chùa rất độc đáo. Chùa xây xong, vua
    lại ban cho 12.000 cân đồng để đúc chuông và thảo một bài văn khắc
    vào đó.

    46

    https://thuviensach.vn

    Năm sau, vào mùa xuân, vua Thánh Tông lại cho xây một tòa tháp
    lớn ngay trong khuôn viên chùa, gọi là tháp Báo Thiên. Tháp có mười
    hai tầng, cao hai mươi trượng (gần 70m), được người đời sau xưng
    tụng như một chiếc cột chống trời ở giữa đất kinh kỳ. Tầng trên cùng
    của tháp được đúc bằng đồng. Tháp Báo Thiên về sau được liệt vào
    một trong bốn bảo vật của Đại Việt mà người Trung Quốc gọi là An
    Nam tứ đại khí*.
    * Ba bảo vật còn lại là tượng Phật Quỳnh
    Lâm cao 20m (Đông Triều, Quảng Ninh),
    vạc chùa Phổ Minh (Nam Định), chuông
    Quy Điền ở chùa Diên Hựu (Thăng Long,
    nay là Hà Nội).

    47

    https://thuviensach.vn

    Theo sử cũ, hai vị cao tăng có công trong việc đúc tượng, đúc
    chuông thời Lý là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không. Truyền
    thuyết kể rằng, Dương Không Lộ không những tinh thông Phật pháp
    mà còn giỏi pháp thuật. Có lần Thái tử nhà Tống bị bệnh nan y, phải
    nhờ ông sang chữa. Sau khi chữa khỏi, được ban thưởng vàng bạc,
    ông không nhận chỉ xin một ít đồng đen. Vua Tống hỏi:
    - Sư nước Nam muốn xin bao nhiêu đồng đen?
    Không Lộ chỉ vào tay nải:
    - Bần tăng chỉ cần đầy bao này là đủ!

    48

    https://thuviensach.vn

    Thấy chiếc tay nải cỏn con, vua Tống đồng ý ngay. Không ngờ
    cho bao nhiêu đồng vào mà tay nải vẫn không đầy. Cả một kho đồng
    lớn thoáng chốc đã hết nhẵn, không còn một thỏi. Được bẩm báo, vua
    Tống tức tốc cho quân đuổi theo đòi lại nhưng Không Lộ đã đi đến
    bờ sông. Nhà sư lấy chiếc nón đội đầu bỏ xuống nước rồi ung dung
    bước lên mà lướt đi, chỉ một lát đã mất hút.

    49

    https://thuviensach.vn

    Về nước, sư Không Lộ dùng số đồng
    trên đúc một tượng Phật lớn, cao sáu trượng
    (khoảng 20m), một chiếc đỉnh to đến mười
    người ôm và một chiếc chuông khổng lồ
    gọi là hồng chung. Chuông đúc xong, ông
    cầm dùi đánh thử. Kích thước khổng lồ của
    hồng chung cộng với sức mạnh của ông đã
    khiến tiếng chuông vang đến tận Trung
    Quốc. Tiếng chuông dội vào tai con trâu
    vàng ở bên Trung Quốc. Tưởng mẹ* gọi,
    con trâu vàng thức dậy, ve vẩy đuôi rồi bất
    kể rừng núi, sông suối mà phóng đến bên
    hồng chung, rúc vào nằm bên cạnh.
    * Người xưa quan niệm đồng đen là mẹ của vàng.

    50

    https://thuviensach.vn
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !