Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH- TẬP 3 THỜI NHÀ NGÔ-ĐINH- TIỀN LÊ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
Ngày gửi: 09h:14' 01-10-2024
Dung lượng: 16.4 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
Ngày gửi: 09h:14' 01-10-2024
Dung lượng: 16.4 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Đức Hòa,
Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Huy Khôi, Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
biểu ghi biên mục trước xuất bản do thư viện KHTH TP.HCM thực hiện
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Thời nhà Ngô – Đinh – Tiền Lê / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Đinh Văn Liên ... [và nh.ng. khác] biên
soạn ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015.
304 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.3).
1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Ngô, 939-944 -- Sách tranh. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Đinh,
968-980 -- Sách tranh. 3. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Tiền Lê, 980-1009 -- Sách tranh. I. Trần Bạch
Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam -- History -- Ngô dynasty, 939-944 -- Pictorical works. 2. Vietnam -- History -- Đinh dynasty,
968-980 -- Pictorical works. 3. Vietnam -- History -- Early Lê dynasty, 980-1009 --Pictorical works.
959.702 -- dc 22
T449
Lời giới thiệu
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
thống qua những truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và lịch
sử Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa, y
phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
từ người cổ Việt Nam của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ độc
lập tự chủ của Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách chia thành nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
sử Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể
hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
từng thời kỳ lịch sử.
Công trình này là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên
cứu của Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và Nhà
xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
thể hiện với mục đích và yêu cầu trên, nên trong quá trình biên soạn
chắc không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn và Nhà xuất
bản Trẻ mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
Trần Bạch Đằng
Ngô Quyền sinh năm 898
tại làng Đường Lâm (huyện Ba
Vì, Hà Nội ngày nay), là con
của hào trưởng Ngô Mân nổi
tiếng một vùng. Tương truyền,
mẹ Ngô Quyền nằm mơ thấy
một con đại bàng trắng từ trên
cây lao vút xuống người, bà
giật mình tỉnh giấc, thụ thai
mà sinh ra Ngô Quyền.
5
Người xưa kể rằng khi Ngô Quyền sinh ra, ánh sáng
lạ tỏa đầy nhà, hương hoa bay thoang thoảng và chim
về ca hót líu lo. Ngô Quyền sinh ra tướng mạo khác
thường, khôi ngô tuấn tú, mặt vuông mắt sáng. Đặc
biệt trên lưng có ba nốt ruồi rất khác lạ.
Có một thầy tướng từng nói với Ngô Mân rằng:
“Nhà ông vừa sinh được một quý nhân, thằng bé có
cốt cách hơn người, có phước lớn lắm, ắt ngày sau sẽ
là bậc anh hào giúp dân cứu nước”.
6
Ngô Quyền lớn lên trở thành một thanh niên khôi ngô tuấn tú, mắt
sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức khỏe phi thường có
thể nhấc cả vạc đồng. Những đêm trăng sáng, ông thường rủ đám trai
làng tập võ suốt đêm. Võ nghệ cao cường, song tính ông khoan hòa
nên ai cũng mến mộ. Ngô Quyền rất thích săn bắn, ông thường dẫn đầu
đám trai làng đi săn và mang nhiều thịt thú rừng về chia cho dân làng.
7
Ngô Quyền rất thích kết
giao với anh hùng hào kiệt bốn
phương. Đặc biệt, ông thường
ra tay giúp đỡ người yếu, chống
lại kẻ ác. Có lần, gặp bọn cậy
quyền cậy thế, bắt cóc đàn bà
con gái, tiếng than khóc, la hét
vang một góc chợ. Ngô Quyền
giận lắm, thẳng tay đâm chết
tên suất đội tàn ác. Từ đó, tiếng
tăm của ông lại càng được nhiều
người biết tới.
8
Ngô Quyền lớn lên khi họ
Khúc đã ba đời dựng nền tự
chủ (Khúc Thừa Dụ, Khúc
Thừa Hạo và Khúc Thừa
Mỹ). Đất nước thống nhất
hòa bình, nơi nơi đầm ấm,
yên vui. Thứ sử Ngô Mân
và Ngô Quyền đều làm quan
dưới trướng họ Khúc, chung
sức đem lại bình yên cho
người dân.
9
Nhưng khi Khúc Thừa Mỹ làm Tiết độ sứ thì Nam Hán - một tiểu
triều đình cát cứ ở Quảng Châu, Trung Quốc - bắt đầu cường thịnh.
Năm 930, Nam Hán đem quân xâm lược nước ta. Khúc Thừa Mỹ
trước đây chỉ lo dựa vào uy thế đã rệu rã của triều đình Hậu Lương
mà không lo chuẩn bị binh lực trong nước nên khi bị tấn công, ông
chỉ biết tập hợp một số quân thân cận để chống đỡ và cho người đi
triệu tập hào trưởng các nơi đem quân ứng cứu. Khi Ngô Quyền nghe
tin, đem quân Đường Lâm đến trợ giúp thì thành Đại La đã thất thủ,
Khúc Thừa Mỹ bị bắt đem về Quảng Châu.
10
Nam Hán cử Lý Tiến sang làm Thứ
sử Giao Châu, lại cử tướng Lương Khắc
Trinh trấn giữ thành Đại La và bắt đầu
đặt nền đô hộ hà khắc lên đất nước ta.
Nhưng quân Nam Hán cũng chỉ kiểm
soát được vùng châu thổ sông Hồng. Từ
đèo Ba Dội (thị xã Tam Điệp, huyện
Ninh Bình) trở vào Nam, gồm Ái châu
(Thanh Hóa), Hoan châu (Nghệ An, Hà
Tĩnh) thì vẫn do các hào trưởng và các
bộ tướng cũ của họ Khúc trấn giữ. Nhân
dân ở đây ra sức tích trữ lương thực, rèn
luyện võ nghệ để chờ ngày khởi binh
đánh đuổi kẻ thù.
11
Lúc bấy giờ, ở làng Ràng (xã Dương Xá, huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa) có hào trưởng Dương Đình Nghệ vốn là bộ tướng cũ của
họ Khúc. Dương Đình Nghệ ra sức tích trữ lương thảo, chiêu mộ nghĩa
sĩ, nuôi chí đánh đuổi giặc Nam Hán.
12
Làng Ràng, quê hương của Dương Đình
Nghệ trở thành nơi hội tụ anh hùng. Hào kiệt ở
khắp nơi đem gia tướng, nghĩa binh về tụ nghĩa
mong có ngày đánh đuổi quân xâm lược giành
lại nền tự chủ mà họ Khúc đã dựng nên. Trong
số những tụ nghĩa có Đinh Công Trứ - một hào
trưởng vùng Trường châu (huyện Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình ngày nay). Công Trứ là người trung
thực, khẳng khái và có tài thao lược nên được
Dương Đình Nghệ tin tưởng giao cho việc trấn
giữ Hoan châu.
13
Căm giận trước cảnh bạo ngược của quân Nam Hán, Ngô Quyền
cũng rong ruổi từ vùng Đường Lâm về theo Dương Đình Nghệ - bạn
đồng liêu của cha mình. Vị bộ tướng khôi ngô tuấn tú, giỏi võ và có
nhiều mưu lược này được Dương Đình Nghệ rất yêu mến và được
nghĩa quân quý trọng.
14
Dưới trướng Dương Đình Nghệ còn có một bộ tướng là Kiều Công
Tiễn vốn là một hào trưởng ở Phong châu (thuộc địa phận tỉnh Phú
Thọ ngày nay). Kiều Công Tiễn đi theo Dương Đình Nghệ từ những
ngày đầu tập hợp lực lượng, lại có sức khỏe vô địch nên được Dương
Đình Nghệ tin tưởng cho làm bộ tướng thân cận. Kiều Công Tiễn thấy
Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ yêu mến và các tướng sĩ nể phục
thì đem lòng ganh ghét. Vả lại, Kiều rất say mê Dương Nhi - con gái
của Dương Đình Nghệ - song Dương Đình Nghệ chưa chịu gả còn
Dương Nhi thì ngày càng quyến luyến Ngô Quyền.
15
Đêm rằm hàng tháng, trong doanh trại nghĩa quân thường mở hội
thi võ để tranh tài cao thấp. Kiều thách Ngô Quyền thi đấu vật, ai
thắng sẽ được hỏi Dương Nhi làm vợ. Đêm hôm đó, dưới sự chứng
kiến của Dương Đình Nghệ, Dương Nhi và các anh hùng, Kiều Công
Tiễn tấn công Ngô Quyền bằng những đòn rất hiểm, độc. Nhưng Ngô
Quyền vẫn ung dung đón đỡ và bằng một đòn gia truyền đã quật ngã
đối phương. Từ đó, Dương Đình Nghệ càng tin tưởng và yêu thương
Ngô Quyền. Ông còn gả Dương Nhi cho Ngô Quyền.
16
Sau thời gian chuẩn bị lực lượng, tháng 3 năm 931, Dương Đình
Nghệ tiến quân ra Bắc, bao vây thành Đại La.
Nghĩa quân ra sức công thành khiến quân Nam Hán sợ hãi mà
bỏ chạy, tướng giặc Lương Khắc Trinh bị giết trong đám loạn quân.
Thứ sử Lý Tiến vội theo đám tàn quân trốn chạy về nước nhưng lại
bị triều đình Nam Hán xử tử vì tội hèn nhát. Trong chiến thắng này,
Ngô Quyền có công rất lớn.
17
18
Mất thành Đại La, nhà Nam Hán vội sai Thừa chỉ Trình Bảo đem
quân sang cứu viện. Viện quân của giặc dồn sức bao vây thành Đại
La tiêu diệt nghĩa quân. Nhưng Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã
chia quân làm hai cánh xông ra ngoài thành tập kích vào hai bên sườn
quân Nam Hán. Quân giặc bị đánh bất ngờ, hàng ngũ tan vỡ, tướng
Trình Bảo bị giết chết, đạo quân tiếp viện bị tiêu diệt.
19
Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ, tự xưng là Tiết độ sứ, đứng ra
lãnh đạo đất nước. Ông phong cho Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan
châu và Ngô Quyền làm Thứ sử Ái châu.
20
Làm Thứ sử Ái châu, Ngô Quyền vừa chăm lo canh tác, vừa rèn
luyện quân lính phòng khi đất nước lại có giặc ngoại xâm. Chỉ trong
một thời gian ngắn, vùng đất Ái châu đã trở nên bình yên, giàu có.
21
Tháng 3 năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn giết chết Dương
Đình Nghệ rồi tự lập mình lên làm Tiết độ sứ. Việc làm ấy của Kiều
Công Tiễn đã khiến anh hùng ở khắp nơi căm giận. Ở Ái châu, Ngô
Quyền cùng các tướng sĩ đã lập bàn thờ Dương Đình Nghệ, thề cùng
nhau giết chết Kiều Công Tiễn trả thù.
22
Kiều Công Tiễn sau khi giết chết Dương Đình Nghệ
thì bị nhân dân căm ghét. Cùng lúc ấy, nghe tin Ngô
Quyền cùng bộ tướng ở Ái châu chuẩn bị kéo quân ra
đánh thành Đại La để báo thù, Kiều Công Tiễn sợ hãi,
vội vã sai sứ giả đem lễ vật qua đầu hàng vua Nam
Hán là Lưu Cung và xin nhà Nam Hán cử đại quân
qua trợ giúp đánh dẹp Ngô Quyền.
23
Vua Nam Hán mừng rỡ, cho đây là cơ hội tốt để thâu tóm Giao
Châu và trả mối hận năm xưa. Dù có nhiều văn quan vì e ngại thời
tiết khắc nghiệt, e ngại Giao Châu còn có nhiều người tài mà ngăn
cản thì vua Nam Hán vẫn tin rằng với binh hùng tướng mạnh, lại có
Kiều Công Tiễn làm nội ứng, việc chiếm Giao Châu tất “dễ như trở
bàn tay”.
24
Vua Nam Hán phong cho con trai là Lưu Hoằng Tháo làm Giao
vương, thống lĩnh đội thủy binh hùng mạnh vượt biển tiến vào nước
ta, mượn tiếng giúp Kiều Công Tiễn đánh Ngô Quyền song thực chất
là xâm lược Giao Châu. Còn đích thân Lưu Cung dẫn một đạo quân
khác theo đường bộ tiến đến trấn Hải Môn (nay thuộc huyện Bác
Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) nằm sát biên giới Giao Châu để
chi viện khi cần thiết.
25
Đứng trước nạn ngoại xâm, dân chúng toàn cõi Giao
Châu đều hướng về Ngô Quyền. Các hào trưởng hùng
mạnh như Lã Minh ở Liễu Chữ (huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc Đường (huyện
Kim Động, tỉnh Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động
(huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), Phạm Chiêm ở
Nam Sách (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), Đinh
Công Trứ ở Hoa Lư (Hoa Lư, Ninh Bình)... đều đem
quân về dưới ngọn cờ của Ngô Quyền, quyết trừng trị
Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán.
26
Đặc biệt, trong số này có Kiều Công Hãn là cháu của Kiều Công
Tiễn, do bất bình với việc làm của ông nội mình mà mang quân về
theo Ngô Quyền đánh giặc ngoại xâm cứu nước. Công Hãn được Ngô
Quyền tin dùng, cho cùng ngồi bàn bạc việc quân cơ.
27
Với quyết tâm trừ nội phản trước, đuổi giặc ngoại xâm sau, tháng 9
năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền dẫn quân vượt đèo Ba Dội tấn công
thành Đại La. Kiều Công Tiễn hốt hoảng hô quân chống đỡ nhưng
bởi lòng quân không phục, lại khiếp sợ trước khí thế hừng hực của
đối phương mà chẳng mấy chốc, quân của Kiều Công Tiễn đã bỏ vũ
khí đầu hàng. Kiều Công Tiễn bị bắt tại trận.
28
Ngô Quyền cho chém đầu Kiều Công Tiễn để làm lễ tế cờ, rửa hận
cho Dương Đình Nghệ. Sau khi dẹp xong nội loạn, cả nước lại cùng
Ngô Quyền chung tay đuổi giặc ngoại xâm.
29
Ngô Quyền bàn với bộ tướng rằng: “Hoằng
Tháo là đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân
lính mệt mỏi, lại nghe được tin Công Tiễn bị
giết chết, không còn kẻ làm nội ứng, đã mất
tinh thần trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch
với quân mệt mỏi tất phá được. Song chúng
lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì
chuyện được thua chẳng thể biết được...”
30
Sau đó, Ngô Quyền kéo quân về vùng ven biển đông bắc, khẩn
trương chuẩn bị đón đánh quân Nam Hán, lại cho quân đóng ở vùng
hạ lưu sông Bạch Đằng từ Binh Kiều, Hạ Đoan tới Lương Khê*. Đặc
biệt, Ngô Quyền còn cho đắp thành Lương Xám** để đóng đại bản
doanh. Đây là một thành đất hình vành kiệu nên nhân dân còn gọi là
thành Vành Kiệu. Thành có chu vi 1.700m, bề mặt rộng 1m (có nơi
rộng 7m) cao khoảng 0,8m, chỗ cao nhất 1,6m. Chính giữa là đài quan
sát và chỉ huy của Ngô Quyền.
*, ** Những địa điểm này, ngày nay đều thuộc huyện An Hải – Hải Phòng.
31
Khi Ngô Quyền cùng tướng sĩ tới đây dựng thành, lập lũy, trai tráng
các làng Lâm Động (huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng),
Đằng châu (huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), người mang vũ khí,
kẻ mang chiến thuyền, lương thực... lũ lượt kéo nhau đến xin đầu
quân đánh giặc. Truyền thuyết dân gian còn nhắc tới 38 chàng trai
làng Gia Viễn (Hải Phòng) dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tất Tố và
Đào Nhuận đã tự vũ trang rồi vượt đường xa đến xin được đánh giặc
dưới trướng Ngô Quyền.
32
Có ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả là những người giỏi võ
ở Hoàng Pha (xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải
Phòng) cũng đến ứng nghĩa. Một hào trưởng họ Phạm ở Đằng Giang
(huyện An Hải, thành phố Hải Phòng) đã khẳng khái đứng ra chiêu
mộ dân binh rồi đến đầu quân dưới trướng của Ngô Quyền.
33
Dưới trướng của Ngô Quyền còn có nhiều tướng giỏi, cùng chung
lòng, chung sức như: Ngô Xương Ngập con cả của Ngô Quyền, Dương
Tam Kha con của Dương Đình Nghệ và là anh vợ của Ngô Quyền, Đỗ
Cảnh Thạc là hào trưởng vùng Đỗ Động... Đặc biệt, trong bộ tướng của
Ngô Quyền có một nữ tướng xinh đẹp nhưng rất cương quyết, cứng
rắn là Dương Phương Lan, quê ở bên bờ sông Đáy (huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội). Phương Lan gặp Ngô Quyền ở cầu Ba Trăng
khi ông từ Đường Lâm vào châu Ái theo Dương Đình Nghệ. “Yêu vì
nghĩa, mến vì tài”, họ đã lấy nhau trước khi Ngô Quyền làm con rể
Dương Đình Nghệ.
34
Sau khi xem xét kỹ địa thế, Ngô Quyền quyết định chọn vùng cửa
sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến với quân Nam Hán. Bạch Đằng
còn có tên là sông Rừng. Đây là vùng cửa sông hiểm trở có sóng bạc
đầu vây phủ quanh năm. Sông Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc
và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta.
Bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục mô tả: “Sông rộng
hơn hai dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn
man mác giáp tới chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến”.
35
Phía hạ lưu sông Bạch Đằng, hai
bên bờ sông là những cánh rừng bạt
ngàn, thuận tiện cho việc mai phục,
đánh úp. Vì dòng Bạch Đằng Giang
khi đó còn rất rậm rạp nên gắn liền
với hai bên bờ sông này là những
địa danh: sông Rừng, bến đò Rừng,
xóm Rừng, chợ Rừng, giếng Rừng...
Những tên sông, tên đất này còn lưu
lại cho đến ngày nay.
36
Trên vùng sông biển mênh mông và hoang vu này, Ngô Quyền đã
cho dựng một trận địa cọc ngầm lợi hại. Ông huy động toàn bộ quân
sĩ và người dân địa phương vào rừng chặt cây, vót nhọn thành những
cây cọc, đầu nhọn của cọc còn được bọc sắt. Chờ khi nước triều rút,
ông cho người đem cọc đóng xuống lòng sông tạo thành bãi cọc dày
đặc. Trận địa cọc này là một bãi chướng ngại vô cùng lợi hại. Khi
thủy triều lên thì bãi cọc ngập chìm dưới nước nhưng khi thủy triều
xuống thì bãi cọc nhô lên, đâm thủng thuyền bè qua lại.
37
Ngoài ra, ông còn bố trí phục binh ở khắp nơi quanh trận địa cọc
ngầm, ở trong các cánh rừng rậm rạp, ở trong các nhánh sông nhỏ
dẫn vào sông Bạch Đằng. Hai tướng Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh
Thạc được giao nhiệm vụ chỉ huy đội quân mai phục ở hữu ngạn sông
Bạch Đằng. Hai tướng cho một đạo cung thủ mai phục dọc theo cánh
rừng bên bờ sông, sát bãi cọc.
38
Ngô Quyền lại giao cho Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân mai
phục bên tả ngạn dòng sông. Đạo quân này ẩn núp trong các hòn đảo
nhỏ và rừng cây xung quanh, chờ khi có hiệu lệnh sẽ cho quân đổ ra
đánh vào sườn quân địch và chặn đường rút lui của chúng.
39
Ngô Quyền và Dương Phương Lan dẫn đầu một đạo quân lớn,
đóng ở phía thượng nguồn để chặn giặc, không cho quân Nam Hán
tiến sâu vào nội địa nước ta và chờ thuyền giặc vướng vào bãi cọc thì
đánh thẳng vào đoàn binh thuyền của giặc. Đạo quân này có nhiệm
vụ tiêu diệt toàn bộ cánh quân chủ lực của quân Nam Hán, quyết định
kết quả thắng thua của trận đánh này.
40
Nghĩa sĩ Nguyễn Tất Tố vốn giỏi bơi lội lại quen với sông nước
vùng này nên được giao dẫn đầu một đội kinh thuyền gồm vài chục
chiến thuyền nhỏ, chờ khi nước triều lên thì kéo ra khiêu chiến, nhử
địch vào trận địa mai phục đã dàn sẵn.
41
Lúc bấy giờ, Hoằng Tháo đã từ Quảng Châu vượt biển chuẩn bị
vào đến cửa sông Bạch Đằng. Đang mùa gió heo may, tuy thuận
buồm xuôi gió nhưng cũng mất khoảng mười ngày, quân Nam Hán
mới đến được vùng đất cửa sông này. Quân sĩ đã mỏi mệt, lại nghe
tin Kiều Công Tiễn đã bị giết nên hoang mang, giao động. Tuy vậy,
cậy có quân đông, thuyền lớn, Hoằng Tháo vẫn cho tiến quân vào
đất Giao Châu.
42
Vừa vào tới cửa sông Bạch Đằng, quân Nam Hán đã bị đoàn kinh
thuyền của Nguyễn Tất Tố tiến ra đánh chặn. Thấy quân ta ít, vũ khí
thô sơ, Hoằng Tháo xua quân đánh đuổi quyết liệt... Khi nước triều
bắt đầu rút, quân ta giả thua rút chạy. Lưu Hoằng Tháo thấy quân ta
rút chạy, vội vã thúc đại quân đuổi theo, vượt qua bãi cọc tiến sâu
vào trận địa mai phục của ta.
43
44
Khi trận địa cọc bắt đầu nhô lên, Ngô Quyền ra lệnh tổng phản
công. Đích thân Ngô Quyền dẫn đạo quân chủ lực từ hai bên bờ sông
ào ra đánh chặn đầu quân Nam Hán. Quân địch bị tấn công bất ngờ
mà rối loạn, mất ý chí chiến đấu, trong khi quân ta càng đánh lại càng
hăng, càng mạnh khiến giặc hoảng sợ mà bỏ chạy.
45
Nhưng chạy gần tới cửa sông, đạo quân của Lưu Hoằng Tháo lại
sa vào trận địa cọc ngầm, thuyền lớp bị cọc đâm thủng, lớp bị dồn lại
thành một khối không sao thoát ra biển được. Quân Nam Hán vô cùng
hoảng loạn, nhiều tên nhảy xuống sông hòng bơi lên bờ chạy trốn.
46
Khi đạo quân chủ lực của Ngô Quyền đuổi
đến nơi, một trận chiến kinh hồn diễn ra, quân
giặc lớp bị giết, lớp bị thương, lớp rơi xuống
sông vướng vào cọc nhọn, tiếng kêu la, than
khóc đầy trời.
47
48
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Đức Hòa,
Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Huy Khôi, Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
biểu ghi biên mục trước xuất bản do thư viện KHTH TP.HCM thực hiện
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Thời nhà Ngô – Đinh – Tiền Lê / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Đinh Văn Liên ... [và nh.ng. khác] biên
soạn ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015.
304 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.3).
1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Ngô, 939-944 -- Sách tranh. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Đinh,
968-980 -- Sách tranh. 3. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Tiền Lê, 980-1009 -- Sách tranh. I. Trần Bạch
Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam -- History -- Ngô dynasty, 939-944 -- Pictorical works. 2. Vietnam -- History -- Đinh dynasty,
968-980 -- Pictorical works. 3. Vietnam -- History -- Early Lê dynasty, 980-1009 --Pictorical works.
959.702 -- dc 22
T449
Lời giới thiệu
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
thống qua những truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và lịch
sử Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa, y
phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
từ người cổ Việt Nam của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ độc
lập tự chủ của Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách chia thành nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
sử Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể
hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
từng thời kỳ lịch sử.
Công trình này là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên
cứu của Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và Nhà
xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
thể hiện với mục đích và yêu cầu trên, nên trong quá trình biên soạn
chắc không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn và Nhà xuất
bản Trẻ mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
Trần Bạch Đằng
Ngô Quyền sinh năm 898
tại làng Đường Lâm (huyện Ba
Vì, Hà Nội ngày nay), là con
của hào trưởng Ngô Mân nổi
tiếng một vùng. Tương truyền,
mẹ Ngô Quyền nằm mơ thấy
một con đại bàng trắng từ trên
cây lao vút xuống người, bà
giật mình tỉnh giấc, thụ thai
mà sinh ra Ngô Quyền.
5
Người xưa kể rằng khi Ngô Quyền sinh ra, ánh sáng
lạ tỏa đầy nhà, hương hoa bay thoang thoảng và chim
về ca hót líu lo. Ngô Quyền sinh ra tướng mạo khác
thường, khôi ngô tuấn tú, mặt vuông mắt sáng. Đặc
biệt trên lưng có ba nốt ruồi rất khác lạ.
Có một thầy tướng từng nói với Ngô Mân rằng:
“Nhà ông vừa sinh được một quý nhân, thằng bé có
cốt cách hơn người, có phước lớn lắm, ắt ngày sau sẽ
là bậc anh hào giúp dân cứu nước”.
6
Ngô Quyền lớn lên trở thành một thanh niên khôi ngô tuấn tú, mắt
sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức khỏe phi thường có
thể nhấc cả vạc đồng. Những đêm trăng sáng, ông thường rủ đám trai
làng tập võ suốt đêm. Võ nghệ cao cường, song tính ông khoan hòa
nên ai cũng mến mộ. Ngô Quyền rất thích săn bắn, ông thường dẫn đầu
đám trai làng đi săn và mang nhiều thịt thú rừng về chia cho dân làng.
7
Ngô Quyền rất thích kết
giao với anh hùng hào kiệt bốn
phương. Đặc biệt, ông thường
ra tay giúp đỡ người yếu, chống
lại kẻ ác. Có lần, gặp bọn cậy
quyền cậy thế, bắt cóc đàn bà
con gái, tiếng than khóc, la hét
vang một góc chợ. Ngô Quyền
giận lắm, thẳng tay đâm chết
tên suất đội tàn ác. Từ đó, tiếng
tăm của ông lại càng được nhiều
người biết tới.
8
Ngô Quyền lớn lên khi họ
Khúc đã ba đời dựng nền tự
chủ (Khúc Thừa Dụ, Khúc
Thừa Hạo và Khúc Thừa
Mỹ). Đất nước thống nhất
hòa bình, nơi nơi đầm ấm,
yên vui. Thứ sử Ngô Mân
và Ngô Quyền đều làm quan
dưới trướng họ Khúc, chung
sức đem lại bình yên cho
người dân.
9
Nhưng khi Khúc Thừa Mỹ làm Tiết độ sứ thì Nam Hán - một tiểu
triều đình cát cứ ở Quảng Châu, Trung Quốc - bắt đầu cường thịnh.
Năm 930, Nam Hán đem quân xâm lược nước ta. Khúc Thừa Mỹ
trước đây chỉ lo dựa vào uy thế đã rệu rã của triều đình Hậu Lương
mà không lo chuẩn bị binh lực trong nước nên khi bị tấn công, ông
chỉ biết tập hợp một số quân thân cận để chống đỡ và cho người đi
triệu tập hào trưởng các nơi đem quân ứng cứu. Khi Ngô Quyền nghe
tin, đem quân Đường Lâm đến trợ giúp thì thành Đại La đã thất thủ,
Khúc Thừa Mỹ bị bắt đem về Quảng Châu.
10
Nam Hán cử Lý Tiến sang làm Thứ
sử Giao Châu, lại cử tướng Lương Khắc
Trinh trấn giữ thành Đại La và bắt đầu
đặt nền đô hộ hà khắc lên đất nước ta.
Nhưng quân Nam Hán cũng chỉ kiểm
soát được vùng châu thổ sông Hồng. Từ
đèo Ba Dội (thị xã Tam Điệp, huyện
Ninh Bình) trở vào Nam, gồm Ái châu
(Thanh Hóa), Hoan châu (Nghệ An, Hà
Tĩnh) thì vẫn do các hào trưởng và các
bộ tướng cũ của họ Khúc trấn giữ. Nhân
dân ở đây ra sức tích trữ lương thực, rèn
luyện võ nghệ để chờ ngày khởi binh
đánh đuổi kẻ thù.
11
Lúc bấy giờ, ở làng Ràng (xã Dương Xá, huyện Thiệu Hóa, tỉnh
Thanh Hóa) có hào trưởng Dương Đình Nghệ vốn là bộ tướng cũ của
họ Khúc. Dương Đình Nghệ ra sức tích trữ lương thảo, chiêu mộ nghĩa
sĩ, nuôi chí đánh đuổi giặc Nam Hán.
12
Làng Ràng, quê hương của Dương Đình
Nghệ trở thành nơi hội tụ anh hùng. Hào kiệt ở
khắp nơi đem gia tướng, nghĩa binh về tụ nghĩa
mong có ngày đánh đuổi quân xâm lược giành
lại nền tự chủ mà họ Khúc đã dựng nên. Trong
số những tụ nghĩa có Đinh Công Trứ - một hào
trưởng vùng Trường châu (huyện Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình ngày nay). Công Trứ là người trung
thực, khẳng khái và có tài thao lược nên được
Dương Đình Nghệ tin tưởng giao cho việc trấn
giữ Hoan châu.
13
Căm giận trước cảnh bạo ngược của quân Nam Hán, Ngô Quyền
cũng rong ruổi từ vùng Đường Lâm về theo Dương Đình Nghệ - bạn
đồng liêu của cha mình. Vị bộ tướng khôi ngô tuấn tú, giỏi võ và có
nhiều mưu lược này được Dương Đình Nghệ rất yêu mến và được
nghĩa quân quý trọng.
14
Dưới trướng Dương Đình Nghệ còn có một bộ tướng là Kiều Công
Tiễn vốn là một hào trưởng ở Phong châu (thuộc địa phận tỉnh Phú
Thọ ngày nay). Kiều Công Tiễn đi theo Dương Đình Nghệ từ những
ngày đầu tập hợp lực lượng, lại có sức khỏe vô địch nên được Dương
Đình Nghệ tin tưởng cho làm bộ tướng thân cận. Kiều Công Tiễn thấy
Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ yêu mến và các tướng sĩ nể phục
thì đem lòng ganh ghét. Vả lại, Kiều rất say mê Dương Nhi - con gái
của Dương Đình Nghệ - song Dương Đình Nghệ chưa chịu gả còn
Dương Nhi thì ngày càng quyến luyến Ngô Quyền.
15
Đêm rằm hàng tháng, trong doanh trại nghĩa quân thường mở hội
thi võ để tranh tài cao thấp. Kiều thách Ngô Quyền thi đấu vật, ai
thắng sẽ được hỏi Dương Nhi làm vợ. Đêm hôm đó, dưới sự chứng
kiến của Dương Đình Nghệ, Dương Nhi và các anh hùng, Kiều Công
Tiễn tấn công Ngô Quyền bằng những đòn rất hiểm, độc. Nhưng Ngô
Quyền vẫn ung dung đón đỡ và bằng một đòn gia truyền đã quật ngã
đối phương. Từ đó, Dương Đình Nghệ càng tin tưởng và yêu thương
Ngô Quyền. Ông còn gả Dương Nhi cho Ngô Quyền.
16
Sau thời gian chuẩn bị lực lượng, tháng 3 năm 931, Dương Đình
Nghệ tiến quân ra Bắc, bao vây thành Đại La.
Nghĩa quân ra sức công thành khiến quân Nam Hán sợ hãi mà
bỏ chạy, tướng giặc Lương Khắc Trinh bị giết trong đám loạn quân.
Thứ sử Lý Tiến vội theo đám tàn quân trốn chạy về nước nhưng lại
bị triều đình Nam Hán xử tử vì tội hèn nhát. Trong chiến thắng này,
Ngô Quyền có công rất lớn.
17
18
Mất thành Đại La, nhà Nam Hán vội sai Thừa chỉ Trình Bảo đem
quân sang cứu viện. Viện quân của giặc dồn sức bao vây thành Đại
La tiêu diệt nghĩa quân. Nhưng Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã
chia quân làm hai cánh xông ra ngoài thành tập kích vào hai bên sườn
quân Nam Hán. Quân giặc bị đánh bất ngờ, hàng ngũ tan vỡ, tướng
Trình Bảo bị giết chết, đạo quân tiếp viện bị tiêu diệt.
19
Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ, tự xưng là Tiết độ sứ, đứng ra
lãnh đạo đất nước. Ông phong cho Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan
châu và Ngô Quyền làm Thứ sử Ái châu.
20
Làm Thứ sử Ái châu, Ngô Quyền vừa chăm lo canh tác, vừa rèn
luyện quân lính phòng khi đất nước lại có giặc ngoại xâm. Chỉ trong
một thời gian ngắn, vùng đất Ái châu đã trở nên bình yên, giàu có.
21
Tháng 3 năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn giết chết Dương
Đình Nghệ rồi tự lập mình lên làm Tiết độ sứ. Việc làm ấy của Kiều
Công Tiễn đã khiến anh hùng ở khắp nơi căm giận. Ở Ái châu, Ngô
Quyền cùng các tướng sĩ đã lập bàn thờ Dương Đình Nghệ, thề cùng
nhau giết chết Kiều Công Tiễn trả thù.
22
Kiều Công Tiễn sau khi giết chết Dương Đình Nghệ
thì bị nhân dân căm ghét. Cùng lúc ấy, nghe tin Ngô
Quyền cùng bộ tướng ở Ái châu chuẩn bị kéo quân ra
đánh thành Đại La để báo thù, Kiều Công Tiễn sợ hãi,
vội vã sai sứ giả đem lễ vật qua đầu hàng vua Nam
Hán là Lưu Cung và xin nhà Nam Hán cử đại quân
qua trợ giúp đánh dẹp Ngô Quyền.
23
Vua Nam Hán mừng rỡ, cho đây là cơ hội tốt để thâu tóm Giao
Châu và trả mối hận năm xưa. Dù có nhiều văn quan vì e ngại thời
tiết khắc nghiệt, e ngại Giao Châu còn có nhiều người tài mà ngăn
cản thì vua Nam Hán vẫn tin rằng với binh hùng tướng mạnh, lại có
Kiều Công Tiễn làm nội ứng, việc chiếm Giao Châu tất “dễ như trở
bàn tay”.
24
Vua Nam Hán phong cho con trai là Lưu Hoằng Tháo làm Giao
vương, thống lĩnh đội thủy binh hùng mạnh vượt biển tiến vào nước
ta, mượn tiếng giúp Kiều Công Tiễn đánh Ngô Quyền song thực chất
là xâm lược Giao Châu. Còn đích thân Lưu Cung dẫn một đạo quân
khác theo đường bộ tiến đến trấn Hải Môn (nay thuộc huyện Bác
Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) nằm sát biên giới Giao Châu để
chi viện khi cần thiết.
25
Đứng trước nạn ngoại xâm, dân chúng toàn cõi Giao
Châu đều hướng về Ngô Quyền. Các hào trưởng hùng
mạnh như Lã Minh ở Liễu Chữ (huyện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc Đường (huyện
Kim Động, tỉnh Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động
(huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), Phạm Chiêm ở
Nam Sách (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), Đinh
Công Trứ ở Hoa Lư (Hoa Lư, Ninh Bình)... đều đem
quân về dưới ngọn cờ của Ngô Quyền, quyết trừng trị
Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán.
26
Đặc biệt, trong số này có Kiều Công Hãn là cháu của Kiều Công
Tiễn, do bất bình với việc làm của ông nội mình mà mang quân về
theo Ngô Quyền đánh giặc ngoại xâm cứu nước. Công Hãn được Ngô
Quyền tin dùng, cho cùng ngồi bàn bạc việc quân cơ.
27
Với quyết tâm trừ nội phản trước, đuổi giặc ngoại xâm sau, tháng 9
năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền dẫn quân vượt đèo Ba Dội tấn công
thành Đại La. Kiều Công Tiễn hốt hoảng hô quân chống đỡ nhưng
bởi lòng quân không phục, lại khiếp sợ trước khí thế hừng hực của
đối phương mà chẳng mấy chốc, quân của Kiều Công Tiễn đã bỏ vũ
khí đầu hàng. Kiều Công Tiễn bị bắt tại trận.
28
Ngô Quyền cho chém đầu Kiều Công Tiễn để làm lễ tế cờ, rửa hận
cho Dương Đình Nghệ. Sau khi dẹp xong nội loạn, cả nước lại cùng
Ngô Quyền chung tay đuổi giặc ngoại xâm.
29
Ngô Quyền bàn với bộ tướng rằng: “Hoằng
Tháo là đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân
lính mệt mỏi, lại nghe được tin Công Tiễn bị
giết chết, không còn kẻ làm nội ứng, đã mất
tinh thần trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch
với quân mệt mỏi tất phá được. Song chúng
lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì
chuyện được thua chẳng thể biết được...”
30
Sau đó, Ngô Quyền kéo quân về vùng ven biển đông bắc, khẩn
trương chuẩn bị đón đánh quân Nam Hán, lại cho quân đóng ở vùng
hạ lưu sông Bạch Đằng từ Binh Kiều, Hạ Đoan tới Lương Khê*. Đặc
biệt, Ngô Quyền còn cho đắp thành Lương Xám** để đóng đại bản
doanh. Đây là một thành đất hình vành kiệu nên nhân dân còn gọi là
thành Vành Kiệu. Thành có chu vi 1.700m, bề mặt rộng 1m (có nơi
rộng 7m) cao khoảng 0,8m, chỗ cao nhất 1,6m. Chính giữa là đài quan
sát và chỉ huy của Ngô Quyền.
*, ** Những địa điểm này, ngày nay đều thuộc huyện An Hải – Hải Phòng.
31
Khi Ngô Quyền cùng tướng sĩ tới đây dựng thành, lập lũy, trai tráng
các làng Lâm Động (huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng),
Đằng châu (huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), người mang vũ khí,
kẻ mang chiến thuyền, lương thực... lũ lượt kéo nhau đến xin đầu
quân đánh giặc. Truyền thuyết dân gian còn nhắc tới 38 chàng trai
làng Gia Viễn (Hải Phòng) dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tất Tố và
Đào Nhuận đã tự vũ trang rồi vượt đường xa đến xin được đánh giặc
dưới trướng Ngô Quyền.
32
Có ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả là những người giỏi võ
ở Hoàng Pha (xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải
Phòng) cũng đến ứng nghĩa. Một hào trưởng họ Phạm ở Đằng Giang
(huyện An Hải, thành phố Hải Phòng) đã khẳng khái đứng ra chiêu
mộ dân binh rồi đến đầu quân dưới trướng của Ngô Quyền.
33
Dưới trướng của Ngô Quyền còn có nhiều tướng giỏi, cùng chung
lòng, chung sức như: Ngô Xương Ngập con cả của Ngô Quyền, Dương
Tam Kha con của Dương Đình Nghệ và là anh vợ của Ngô Quyền, Đỗ
Cảnh Thạc là hào trưởng vùng Đỗ Động... Đặc biệt, trong bộ tướng của
Ngô Quyền có một nữ tướng xinh đẹp nhưng rất cương quyết, cứng
rắn là Dương Phương Lan, quê ở bên bờ sông Đáy (huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội). Phương Lan gặp Ngô Quyền ở cầu Ba Trăng
khi ông từ Đường Lâm vào châu Ái theo Dương Đình Nghệ. “Yêu vì
nghĩa, mến vì tài”, họ đã lấy nhau trước khi Ngô Quyền làm con rể
Dương Đình Nghệ.
34
Sau khi xem xét kỹ địa thế, Ngô Quyền quyết định chọn vùng cửa
sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến với quân Nam Hán. Bạch Đằng
còn có tên là sông Rừng. Đây là vùng cửa sông hiểm trở có sóng bạc
đầu vây phủ quanh năm. Sông Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc
và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta.
Bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục mô tả: “Sông rộng
hơn hai dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn
man mác giáp tới chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến”.
35
Phía hạ lưu sông Bạch Đằng, hai
bên bờ sông là những cánh rừng bạt
ngàn, thuận tiện cho việc mai phục,
đánh úp. Vì dòng Bạch Đằng Giang
khi đó còn rất rậm rạp nên gắn liền
với hai bên bờ sông này là những
địa danh: sông Rừng, bến đò Rừng,
xóm Rừng, chợ Rừng, giếng Rừng...
Những tên sông, tên đất này còn lưu
lại cho đến ngày nay.
36
Trên vùng sông biển mênh mông và hoang vu này, Ngô Quyền đã
cho dựng một trận địa cọc ngầm lợi hại. Ông huy động toàn bộ quân
sĩ và người dân địa phương vào rừng chặt cây, vót nhọn thành những
cây cọc, đầu nhọn của cọc còn được bọc sắt. Chờ khi nước triều rút,
ông cho người đem cọc đóng xuống lòng sông tạo thành bãi cọc dày
đặc. Trận địa cọc này là một bãi chướng ngại vô cùng lợi hại. Khi
thủy triều lên thì bãi cọc ngập chìm dưới nước nhưng khi thủy triều
xuống thì bãi cọc nhô lên, đâm thủng thuyền bè qua lại.
37
Ngoài ra, ông còn bố trí phục binh ở khắp nơi quanh trận địa cọc
ngầm, ở trong các cánh rừng rậm rạp, ở trong các nhánh sông nhỏ
dẫn vào sông Bạch Đằng. Hai tướng Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh
Thạc được giao nhiệm vụ chỉ huy đội quân mai phục ở hữu ngạn sông
Bạch Đằng. Hai tướng cho một đạo cung thủ mai phục dọc theo cánh
rừng bên bờ sông, sát bãi cọc.
38
Ngô Quyền lại giao cho Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân mai
phục bên tả ngạn dòng sông. Đạo quân này ẩn núp trong các hòn đảo
nhỏ và rừng cây xung quanh, chờ khi có hiệu lệnh sẽ cho quân đổ ra
đánh vào sườn quân địch và chặn đường rút lui của chúng.
39
Ngô Quyền và Dương Phương Lan dẫn đầu một đạo quân lớn,
đóng ở phía thượng nguồn để chặn giặc, không cho quân Nam Hán
tiến sâu vào nội địa nước ta và chờ thuyền giặc vướng vào bãi cọc thì
đánh thẳng vào đoàn binh thuyền của giặc. Đạo quân này có nhiệm
vụ tiêu diệt toàn bộ cánh quân chủ lực của quân Nam Hán, quyết định
kết quả thắng thua của trận đánh này.
40
Nghĩa sĩ Nguyễn Tất Tố vốn giỏi bơi lội lại quen với sông nước
vùng này nên được giao dẫn đầu một đội kinh thuyền gồm vài chục
chiến thuyền nhỏ, chờ khi nước triều lên thì kéo ra khiêu chiến, nhử
địch vào trận địa mai phục đã dàn sẵn.
41
Lúc bấy giờ, Hoằng Tháo đã từ Quảng Châu vượt biển chuẩn bị
vào đến cửa sông Bạch Đằng. Đang mùa gió heo may, tuy thuận
buồm xuôi gió nhưng cũng mất khoảng mười ngày, quân Nam Hán
mới đến được vùng đất cửa sông này. Quân sĩ đã mỏi mệt, lại nghe
tin Kiều Công Tiễn đã bị giết nên hoang mang, giao động. Tuy vậy,
cậy có quân đông, thuyền lớn, Hoằng Tháo vẫn cho tiến quân vào
đất Giao Châu.
42
Vừa vào tới cửa sông Bạch Đằng, quân Nam Hán đã bị đoàn kinh
thuyền của Nguyễn Tất Tố tiến ra đánh chặn. Thấy quân ta ít, vũ khí
thô sơ, Hoằng Tháo xua quân đánh đuổi quyết liệt... Khi nước triều
bắt đầu rút, quân ta giả thua rút chạy. Lưu Hoằng Tháo thấy quân ta
rút chạy, vội vã thúc đại quân đuổi theo, vượt qua bãi cọc tiến sâu
vào trận địa mai phục của ta.
43
44
Khi trận địa cọc bắt đầu nhô lên, Ngô Quyền ra lệnh tổng phản
công. Đích thân Ngô Quyền dẫn đạo quân chủ lực từ hai bên bờ sông
ào ra đánh chặn đầu quân Nam Hán. Quân địch bị tấn công bất ngờ
mà rối loạn, mất ý chí chiến đấu, trong khi quân ta càng đánh lại càng
hăng, càng mạnh khiến giặc hoảng sợ mà bỏ chạy.
45
Nhưng chạy gần tới cửa sông, đạo quân của Lưu Hoằng Tháo lại
sa vào trận địa cọc ngầm, thuyền lớp bị cọc đâm thủng, lớp bị dồn lại
thành một khối không sao thoát ra biển được. Quân Nam Hán vô cùng
hoảng loạn, nhiều tên nhảy xuống sông hòng bơi lên bờ chạy trốn.
46
Khi đạo quân chủ lực của Ngô Quyền đuổi
đến nơi, một trận chiến kinh hồn diễn ra, quân
giặc lớp bị giết, lớp bị thương, lớp rơi xuống
sông vướng vào cọc nhọn, tiếng kêu la, than
khóc đầy trời.
47
48
 





