LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    LỊCH SỬ VIỆT NAM BẰNG TRANH- TẬP 3 THỜI NHÀ NGÔ-ĐINH- TIỀN LÊ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Thư viện Trường Tiểu học Cẩm Phúc
    Ngày gửi: 09h:14' 01-10-2024
    Dung lượng: 16.4 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
    Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Đức Hòa,
    Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Huy Khôi, Tô Hoài Đạt, Lâm Chí Trung
    biểu ghi biên mục trước xuất bản do thư viện KHTH TP.HCM thực hiện
    General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
    Thời nhà Ngô – Đinh – Tiền Lê / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Đinh Văn Liên ... [và nh.ng. khác] biên
    soạn ; họa sĩ Nguyễn Đức Hòa ... [và nh.ng. khác]. - Tái bản lần 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2015.
    304 tr. : minh họa ; 24 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.3).
    1. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Ngô, 939-944 -- Sách tranh. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Đinh,
    968-980 -- Sách tranh. 3. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều nhà Tiền Lê, 980-1009 -- Sách tranh. I. Trần Bạch
    Đằng. II. Đinh Văn Liên. III. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnam -- History -- Ngô dynasty, 939-944 -- Pictorical works. 2. Vietnam -- History -- Đinh dynasty,
    968-980 -- Pictorical works. 3. Vietnam -- History -- Early Lê dynasty, 980-1009 --Pictorical works.
    959.702 -- dc 22
    T449

    Lời giới thiệu
    Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích
    giới thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ
    thống qua những truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
    Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và lịch
    sử Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa, y
    phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
    Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
    từ người cổ Việt Nam của các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
    Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ độc
    lập tự chủ của Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
    hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
    Bộ sách chia thành nhiều tập, mỗi tập viết về một thời kỳ hay
    một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
    trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch
    sử Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể
    hiện các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của
    từng thời kỳ lịch sử.
    Công trình này là nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ nghiên
    cứu của Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và Nhà
    xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí Minh.
    Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
    thể hiện với mục đích và yêu cầu trên, nên trong quá trình biên soạn
    chắc không tránh khỏi những sơ xuất. Ban biên soạn và Nhà xuất
    bản Trẻ mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
    Thành phố Hồ Chí Minh
    Trần Bạch Đằng

    Ngô Quyền sinh năm 898
    tại làng Đường Lâm (huyện Ba
    Vì, Hà Nội ngày nay), là con
    của hào trưởng Ngô Mân nổi
    tiếng một vùng. Tương truyền,
    mẹ Ngô Quyền nằm mơ thấy
    một con đại bàng trắng từ trên
    cây lao vút xuống người, bà
    giật mình tỉnh giấc, thụ thai
    mà sinh ra Ngô Quyền.

    5

    Người xưa kể rằng khi Ngô Quyền sinh ra, ánh sáng
    lạ tỏa đầy nhà, hương hoa bay thoang thoảng và chim
    về ca hót líu lo. Ngô Quyền sinh ra tướng mạo khác
    thường, khôi ngô tuấn tú, mặt vuông mắt sáng. Đặc
    biệt trên lưng có ba nốt ruồi rất khác lạ.
    Có một thầy tướng từng nói với Ngô Mân rằng:
    “Nhà ông vừa sinh được một quý nhân, thằng bé có
    cốt cách hơn người, có phước lớn lắm, ắt ngày sau sẽ
    là bậc anh hào giúp dân cứu nước”.

    6

    Ngô Quyền lớn lên trở thành một thanh niên khôi ngô tuấn tú, mắt
    sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, sức khỏe phi thường có
    thể nhấc cả vạc đồng. Những đêm trăng sáng, ông thường rủ đám trai
    làng tập võ suốt đêm. Võ nghệ cao cường, song tính ông khoan hòa
    nên ai cũng mến mộ. Ngô Quyền rất thích săn bắn, ông thường dẫn đầu
    đám trai làng đi săn và mang nhiều thịt thú rừng về chia cho dân làng.

    7

    Ngô Quyền rất thích kết
    giao với anh hùng hào kiệt bốn
    phương. Đặc biệt, ông thường
    ra tay giúp đỡ người yếu, chống
    lại kẻ ác. Có lần, gặp bọn cậy
    quyền cậy thế, bắt cóc đàn bà
    con gái, tiếng than khóc, la hét
    vang một góc chợ. Ngô Quyền
    giận lắm, thẳng tay đâm chết
    tên suất đội tàn ác. Từ đó, tiếng
    tăm của ông lại càng được nhiều
    người biết tới.

    8

    Ngô Quyền lớn lên khi họ
    Khúc đã ba đời dựng nền tự
    chủ (Khúc Thừa Dụ, Khúc
    Thừa Hạo và Khúc Thừa
    Mỹ). Đất nước thống nhất
    hòa bình, nơi nơi đầm ấm,
    yên vui. Thứ sử Ngô Mân
    và Ngô Quyền đều làm quan
    dưới trướng họ Khúc, chung
    sức đem lại bình yên cho
    người dân.

    9

    Nhưng khi Khúc Thừa Mỹ làm Tiết độ sứ thì Nam Hán - một tiểu
    triều đình cát cứ ở Quảng Châu, Trung Quốc - bắt đầu cường thịnh.
    Năm 930, Nam Hán đem quân xâm lược nước ta. Khúc Thừa Mỹ
    trước đây chỉ lo dựa vào uy thế đã rệu rã của triều đình Hậu Lương
    mà không lo chuẩn bị binh lực trong nước nên khi bị tấn công, ông
    chỉ biết tập hợp một số quân thân cận để chống đỡ và cho người đi
    triệu tập hào trưởng các nơi đem quân ứng cứu. Khi Ngô Quyền nghe
    tin, đem quân Đường Lâm đến trợ giúp thì thành Đại La đã thất thủ,
    Khúc Thừa Mỹ bị bắt đem về Quảng Châu.

    10

    Nam Hán cử Lý Tiến sang làm Thứ
    sử Giao Châu, lại cử tướng Lương Khắc
    Trinh trấn giữ thành Đại La và bắt đầu
    đặt nền đô hộ hà khắc lên đất nước ta.
    Nhưng quân Nam Hán cũng chỉ kiểm
    soát được vùng châu thổ sông Hồng. Từ
    đèo Ba Dội (thị xã Tam Điệp, huyện
    Ninh Bình) trở vào Nam, gồm Ái châu
    (Thanh Hóa), Hoan châu (Nghệ An, Hà
    Tĩnh) thì vẫn do các hào trưởng và các
    bộ tướng cũ của họ Khúc trấn giữ. Nhân
    dân ở đây ra sức tích trữ lương thực, rèn
    luyện võ nghệ để chờ ngày khởi binh
    đánh đuổi kẻ thù.
    11

    Lúc bấy giờ, ở làng Ràng (xã Dương Xá, huyện Thiệu Hóa, tỉnh
    Thanh Hóa) có hào trưởng Dương Đình Nghệ vốn là bộ tướng cũ của
    họ Khúc. Dương Đình Nghệ ra sức tích trữ lương thảo, chiêu mộ nghĩa
    sĩ, nuôi chí đánh đuổi giặc Nam Hán.

    12

    Làng Ràng, quê hương của Dương Đình
    Nghệ trở thành nơi hội tụ anh hùng. Hào kiệt ở
    khắp nơi đem gia tướng, nghĩa binh về tụ nghĩa
    mong có ngày đánh đuổi quân xâm lược giành
    lại nền tự chủ mà họ Khúc đã dựng nên. Trong
    số những tụ nghĩa có Đinh Công Trứ - một hào
    trưởng vùng Trường châu (huyện Hoa Lư, tỉnh
    Ninh Bình ngày nay). Công Trứ là người trung
    thực, khẳng khái và có tài thao lược nên được
    Dương Đình Nghệ tin tưởng giao cho việc trấn
    giữ Hoan châu.

    13

    Căm giận trước cảnh bạo ngược của quân Nam Hán, Ngô Quyền
    cũng rong ruổi từ vùng Đường Lâm về theo Dương Đình Nghệ - bạn
    đồng liêu của cha mình. Vị bộ tướng khôi ngô tuấn tú, giỏi võ và có
    nhiều mưu lược này được Dương Đình Nghệ rất yêu mến và được
    nghĩa quân quý trọng.

    14

    Dưới trướng Dương Đình Nghệ còn có một bộ tướng là Kiều Công
    Tiễn vốn là một hào trưởng ở Phong châu (thuộc địa phận tỉnh Phú
    Thọ ngày nay). Kiều Công Tiễn đi theo Dương Đình Nghệ từ những
    ngày đầu tập hợp lực lượng, lại có sức khỏe vô địch nên được Dương
    Đình Nghệ tin tưởng cho làm bộ tướng thân cận. Kiều Công Tiễn thấy
    Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ yêu mến và các tướng sĩ nể phục
    thì đem lòng ganh ghét. Vả lại, Kiều rất say mê Dương Nhi - con gái
    của Dương Đình Nghệ - song Dương Đình Nghệ chưa chịu gả còn
    Dương Nhi thì ngày càng quyến luyến Ngô Quyền.

    15

    Đêm rằm hàng tháng, trong doanh trại nghĩa quân thường mở hội
    thi võ để tranh tài cao thấp. Kiều thách Ngô Quyền thi đấu vật, ai
    thắng sẽ được hỏi Dương Nhi làm vợ. Đêm hôm đó, dưới sự chứng
    kiến của Dương Đình Nghệ, Dương Nhi và các anh hùng, Kiều Công
    Tiễn tấn công Ngô Quyền bằng những đòn rất hiểm, độc. Nhưng Ngô
    Quyền vẫn ung dung đón đỡ và bằng một đòn gia truyền đã quật ngã
    đối phương. Từ đó, Dương Đình Nghệ càng tin tưởng và yêu thương
    Ngô Quyền. Ông còn gả Dương Nhi cho Ngô Quyền.
    16

    Sau thời gian chuẩn bị lực lượng, tháng 3 năm 931, Dương Đình
    Nghệ tiến quân ra Bắc, bao vây thành Đại La.
    Nghĩa quân ra sức công thành khiến quân Nam Hán sợ hãi mà
    bỏ chạy, tướng giặc Lương Khắc Trinh bị giết trong đám loạn quân.
    Thứ sử Lý Tiến vội theo đám tàn quân trốn chạy về nước nhưng lại
    bị triều đình Nam Hán xử tử vì tội hèn nhát. Trong chiến thắng này,
    Ngô Quyền có công rất lớn.

    17

    18

    Mất thành Đại La, nhà Nam Hán vội sai Thừa chỉ Trình Bảo đem
    quân sang cứu viện. Viện quân của giặc dồn sức bao vây thành Đại
    La tiêu diệt nghĩa quân. Nhưng Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã
    chia quân làm hai cánh xông ra ngoài thành tập kích vào hai bên sườn
    quân Nam Hán. Quân giặc bị đánh bất ngờ, hàng ngũ tan vỡ, tướng
    Trình Bảo bị giết chết, đạo quân tiếp viện bị tiêu diệt.

    19

    Sau chiến thắng, Dương Đình Nghệ, tự xưng là Tiết độ sứ, đứng ra
    lãnh đạo đất nước. Ông phong cho Đinh Công Trứ làm Thứ sử Hoan
    châu và Ngô Quyền làm Thứ sử Ái châu.

    20

    Làm Thứ sử Ái châu, Ngô Quyền vừa chăm lo canh tác, vừa rèn
    luyện quân lính phòng khi đất nước lại có giặc ngoại xâm. Chỉ trong
    một thời gian ngắn, vùng đất Ái châu đã trở nên bình yên, giàu có.

    21

    Tháng 3 năm Đinh Dậu (937), Kiều Công Tiễn giết chết Dương
    Đình Nghệ rồi tự lập mình lên làm Tiết độ sứ. Việc làm ấy của Kiều
    Công Tiễn đã khiến anh hùng ở khắp nơi căm giận. Ở Ái châu, Ngô
    Quyền cùng các tướng sĩ đã lập bàn thờ Dương Đình Nghệ, thề cùng
    nhau giết chết Kiều Công Tiễn trả thù.

    22

    Kiều Công Tiễn sau khi giết chết Dương Đình Nghệ
    thì bị nhân dân căm ghét. Cùng lúc ấy, nghe tin Ngô
    Quyền cùng bộ tướng ở Ái châu chuẩn bị kéo quân ra
    đánh thành Đại La để báo thù, Kiều Công Tiễn sợ hãi,
    vội vã sai sứ giả đem lễ vật qua đầu hàng vua Nam
    Hán là Lưu Cung và xin nhà Nam Hán cử đại quân
    qua trợ giúp đánh dẹp Ngô Quyền.

    23

    Vua Nam Hán mừng rỡ, cho đây là cơ hội tốt để thâu tóm Giao
    Châu và trả mối hận năm xưa. Dù có nhiều văn quan vì e ngại thời
    tiết khắc nghiệt, e ngại Giao Châu còn có nhiều người tài mà ngăn
    cản thì vua Nam Hán vẫn tin rằng với binh hùng tướng mạnh, lại có
    Kiều Công Tiễn làm nội ứng, việc chiếm Giao Châu tất “dễ như trở
    bàn tay”.

    24

    Vua Nam Hán phong cho con trai là Lưu Hoằng Tháo làm Giao
    vương, thống lĩnh đội thủy binh hùng mạnh vượt biển tiến vào nước
    ta, mượn tiếng giúp Kiều Công Tiễn đánh Ngô Quyền song thực chất
    là xâm lược Giao Châu. Còn đích thân Lưu Cung dẫn một đạo quân
    khác theo đường bộ tiến đến trấn Hải Môn (nay thuộc huyện Bác
    Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) nằm sát biên giới Giao Châu để
    chi viện khi cần thiết.

    25

    Đứng trước nạn ngoại xâm, dân chúng toàn cõi Giao
    Châu đều hướng về Ngô Quyền. Các hào trưởng hùng
    mạnh như Lã Minh ở Liễu Chữ (huyện Thuận Thành,
    tỉnh Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc Đường (huyện
    Kim Động, tỉnh Hưng Yên), Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động
    (huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), Phạm Chiêm ở
    Nam Sách (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), Đinh
    Công Trứ ở Hoa Lư (Hoa Lư, Ninh Bình)... đều đem
    quân về dưới ngọn cờ của Ngô Quyền, quyết trừng trị
    Kiều Công Tiễn và đánh tan quân Nam Hán.
    26

    Đặc biệt, trong số này có Kiều Công Hãn là cháu của Kiều Công
    Tiễn, do bất bình với việc làm của ông nội mình mà mang quân về
    theo Ngô Quyền đánh giặc ngoại xâm cứu nước. Công Hãn được Ngô
    Quyền tin dùng, cho cùng ngồi bàn bạc việc quân cơ.

    27

    Với quyết tâm trừ nội phản trước, đuổi giặc ngoại xâm sau, tháng 9
    năm Mậu Tuất (938), Ngô Quyền dẫn quân vượt đèo Ba Dội tấn công
    thành Đại La. Kiều Công Tiễn hốt hoảng hô quân chống đỡ nhưng
    bởi lòng quân không phục, lại khiếp sợ trước khí thế hừng hực của
    đối phương mà chẳng mấy chốc, quân của Kiều Công Tiễn đã bỏ vũ
    khí đầu hàng. Kiều Công Tiễn bị bắt tại trận.

    28

    Ngô Quyền cho chém đầu Kiều Công Tiễn để làm lễ tế cờ, rửa hận
    cho Dương Đình Nghệ. Sau khi dẹp xong nội loạn, cả nước lại cùng
    Ngô Quyền chung tay đuổi giặc ngoại xâm.

    29

    Ngô Quyền bàn với bộ tướng rằng: “Hoằng
    Tháo là đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến, quân
    lính mệt mỏi, lại nghe được tin Công Tiễn bị
    giết chết, không còn kẻ làm nội ứng, đã mất
    tinh thần trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch
    với quân mệt mỏi tất phá được. Song chúng
    lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì
    chuyện được thua chẳng thể biết được...”

    30

    Sau đó, Ngô Quyền kéo quân về vùng ven biển đông bắc, khẩn
    trương chuẩn bị đón đánh quân Nam Hán, lại cho quân đóng ở vùng
    hạ lưu sông Bạch Đằng từ Binh Kiều, Hạ Đoan tới Lương Khê*. Đặc
    biệt, Ngô Quyền còn cho đắp thành Lương Xám** để đóng đại bản
    doanh. Đây là một thành đất hình vành kiệu nên nhân dân còn gọi là
    thành Vành Kiệu. Thành có chu vi 1.700m, bề mặt rộng 1m (có nơi
    rộng 7m) cao khoảng 0,8m, chỗ cao nhất 1,6m. Chính giữa là đài quan
    sát và chỉ huy của Ngô Quyền.
    *, ** Những địa điểm này, ngày nay đều thuộc huyện An Hải – Hải Phòng.

    31

    Khi Ngô Quyền cùng tướng sĩ tới đây dựng thành, lập lũy, trai tráng
    các làng Lâm Động (huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng),
    Đằng châu (huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), người mang vũ khí,
    kẻ mang chiến thuyền, lương thực... lũ lượt kéo nhau đến xin đầu
    quân đánh giặc. Truyền thuyết dân gian còn nhắc tới 38 chàng trai
    làng Gia Viễn (Hải Phòng) dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tất Tố và
    Đào Nhuận đã tự vũ trang rồi vượt đường xa đến xin được đánh giặc
    dưới trướng Ngô Quyền.

    32

    Có ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả là những người giỏi võ
    ở Hoàng Pha (xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải
    Phòng) cũng đến ứng nghĩa. Một hào trưởng họ Phạm ở Đằng Giang
    (huyện An Hải, thành phố Hải Phòng) đã khẳng khái đứng ra chiêu
    mộ dân binh rồi đến đầu quân dưới trướng của Ngô Quyền.

    33

    Dưới trướng của Ngô Quyền còn có nhiều tướng giỏi, cùng chung
    lòng, chung sức như: Ngô Xương Ngập con cả của Ngô Quyền, Dương
    Tam Kha con của Dương Đình Nghệ và là anh vợ của Ngô Quyền, Đỗ
    Cảnh Thạc là hào trưởng vùng Đỗ Động... Đặc biệt, trong bộ tướng của
    Ngô Quyền có một nữ tướng xinh đẹp nhưng rất cương quyết, cứng
    rắn là Dương Phương Lan, quê ở bên bờ sông Đáy (huyện Chương
    Mỹ, thành phố Hà Nội). Phương Lan gặp Ngô Quyền ở cầu Ba Trăng
    khi ông từ Đường Lâm vào châu Ái theo Dương Đình Nghệ. “Yêu vì
    nghĩa, mến vì tài”, họ đã lấy nhau trước khi Ngô Quyền làm con rể
    Dương Đình Nghệ.
    34

    Sau khi xem xét kỹ địa thế, Ngô Quyền quyết định chọn vùng cửa
    sông Bạch Đằng làm nơi quyết chiến với quân Nam Hán. Bạch Đằng
    còn có tên là sông Rừng. Đây là vùng cửa sông hiểm trở có sóng bạc
    đầu vây phủ quanh năm. Sông Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc
    và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta.
    Bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục mô tả: “Sông rộng
    hơn hai dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn
    man mác giáp tới chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến”.

    35

    Phía hạ lưu sông Bạch Đằng, hai
    bên bờ sông là những cánh rừng bạt
    ngàn, thuận tiện cho việc mai phục,
    đánh úp. Vì dòng Bạch Đằng Giang
    khi đó còn rất rậm rạp nên gắn liền
    với hai bên bờ sông này là những
    địa danh: sông Rừng, bến đò Rừng,
    xóm Rừng, chợ Rừng, giếng Rừng...
    Những tên sông, tên đất này còn lưu
    lại cho đến ngày nay.
    36

    Trên vùng sông biển mênh mông và hoang vu này, Ngô Quyền đã
    cho dựng một trận địa cọc ngầm lợi hại. Ông huy động toàn bộ quân
    sĩ và người dân địa phương vào rừng chặt cây, vót nhọn thành những
    cây cọc, đầu nhọn của cọc còn được bọc sắt. Chờ khi nước triều rút,
    ông cho người đem cọc đóng xuống lòng sông tạo thành bãi cọc dày
    đặc. Trận địa cọc này là một bãi chướng ngại vô cùng lợi hại. Khi
    thủy triều lên thì bãi cọc ngập chìm dưới nước nhưng khi thủy triều
    xuống thì bãi cọc nhô lên, đâm thủng thuyền bè qua lại.
    37

    Ngoài ra, ông còn bố trí phục binh ở khắp nơi quanh trận địa cọc
    ngầm, ở trong các cánh rừng rậm rạp, ở trong các nhánh sông nhỏ
    dẫn vào sông Bạch Đằng. Hai tướng Ngô Xương Ngập và Đỗ Cảnh
    Thạc được giao nhiệm vụ chỉ huy đội quân mai phục ở hữu ngạn sông
    Bạch Đằng. Hai tướng cho một đạo cung thủ mai phục dọc theo cánh
    rừng bên bờ sông, sát bãi cọc.

    38

    Ngô Quyền lại giao cho Dương Tam Kha chỉ huy đạo quân mai
    phục bên tả ngạn dòng sông. Đạo quân này ẩn núp trong các hòn đảo
    nhỏ và rừng cây xung quanh, chờ khi có hiệu lệnh sẽ cho quân đổ ra
    đánh vào sườn quân địch và chặn đường rút lui của chúng.

    39

    Ngô Quyền và Dương Phương Lan dẫn đầu một đạo quân lớn,
    đóng ở phía thượng nguồn để chặn giặc, không cho quân Nam Hán
    tiến sâu vào nội địa nước ta và chờ thuyền giặc vướng vào bãi cọc thì
    đánh thẳng vào đoàn binh thuyền của giặc. Đạo quân này có nhiệm
    vụ tiêu diệt toàn bộ cánh quân chủ lực của quân Nam Hán, quyết định
    kết quả thắng thua của trận đánh này.

    40

    Nghĩa sĩ Nguyễn Tất Tố vốn giỏi bơi lội lại quen với sông nước
    vùng này nên được giao dẫn đầu một đội kinh thuyền gồm vài chục
    chiến thuyền nhỏ, chờ khi nước triều lên thì kéo ra khiêu chiến, nhử
    địch vào trận địa mai phục đã dàn sẵn.
    41

    Lúc bấy giờ, Hoằng Tháo đã từ Quảng Châu vượt biển chuẩn bị
    vào đến cửa sông Bạch Đằng. Đang mùa gió heo may, tuy thuận
    buồm xuôi gió nhưng cũng mất khoảng mười ngày, quân Nam Hán
    mới đến được vùng đất cửa sông này. Quân sĩ đã mỏi mệt, lại nghe
    tin Kiều Công Tiễn đã bị giết nên hoang mang, giao động. Tuy vậy,
    cậy có quân đông, thuyền lớn, Hoằng Tháo vẫn cho tiến quân vào
    đất Giao Châu.
    42

    Vừa vào tới cửa sông Bạch Đằng, quân Nam Hán đã bị đoàn kinh
    thuyền của Nguyễn Tất Tố tiến ra đánh chặn. Thấy quân ta ít, vũ khí
    thô sơ, Hoằng Tháo xua quân đánh đuổi quyết liệt... Khi nước triều
    bắt đầu rút, quân ta giả thua rút chạy. Lưu Hoằng Tháo thấy quân ta
    rút chạy, vội vã thúc đại quân đuổi theo, vượt qua bãi cọc tiến sâu
    vào trận địa mai phục của ta.

    43

    44

    Khi trận địa cọc bắt đầu nhô lên, Ngô Quyền ra lệnh tổng phản
    công. Đích thân Ngô Quyền dẫn đạo quân chủ lực từ hai bên bờ sông
    ào ra đánh chặn đầu quân Nam Hán. Quân địch bị tấn công bất ngờ
    mà rối loạn, mất ý chí chiến đấu, trong khi quân ta càng đánh lại càng
    hăng, càng mạnh khiến giặc hoảng sợ mà bỏ chạy.

    45

    Nhưng chạy gần tới cửa sông, đạo quân của Lưu Hoằng Tháo lại
    sa vào trận địa cọc ngầm, thuyền lớp bị cọc đâm thủng, lớp bị dồn lại
    thành một khối không sao thoát ra biển được. Quân Nam Hán vô cùng
    hoảng loạn, nhiều tên nhảy xuống sông hòng bơi lên bờ chạy trốn.

    46

    Khi đạo quân chủ lực của Ngô Quyền đuổi
    đến nơi, một trận chiến kinh hồn diễn ra, quân
    giặc lớp bị giết, lớp bị thương, lớp rơi xuống
    sông vướng vào cọc nhọn, tiếng kêu la, than
    khóc đầy trời.

    47

    48
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !