LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    Ke-chuyen-danh-nhan-viet-nam-tap-9-danh-nhan-cach-mang-viet-nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hoàng Thị Phương
    Ngày gửi: 10h:23' 19-11-2024
    Dung lượng: 5.7 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    1

    nhà xuất bản trẻ

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
    161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
    Fax: 84.8.8437450
    E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
    Website: http://www. nxbtre.com.vn

    4

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    LỜI NÓI ĐẦU
    “Nước lấy người làm gốc. Trong đó nhân phẩm có cao thấp không
    giống nhau. Trên có vua sửa sang chỉnh đốn việc nước, dưới có các
    sĩ phu: kẻ xuất người xử. Người hiền hay không có khác nhau, thì
    việc nước trị hay nước loạn do đó mà có khác... Nước Việt ta phong
    khí đã mở mang, khí tinh hoa đều hợp lại. Trong khoảng đó, các bậc
    minh quân kế tiếp nổi lên, danh khanh lương tá thường xuất hiện ra.
    Các danh tài tuấn kiệt đời đời đều có, hoặc có người được ghi công
    vào đỉnh vạc, hoặc có người lập công với lưỡi búa cờ mao, có người
    nổi tiếng ở làng văn, có người tỏ khí tiết trong lúc ngặt nghèo, đều là
    những người có nhiều tài năng đáng chép, có công nghiệp danh vọng
    đáng khen mà trên dưới một nghìn năm xuất hiện đều đặn...”. Khi
    soạn Các nhà chính trị việt Nam - trong bộ KỂ CHUYỆN DANH NHÂN
    VIỆT NAM - bên tai chúng tôi vẫn còn nghe vọng lại lời dặn dò xác đáng
    của nhà bác học Phan Huy Chú.
    Trong khuôn khổ có hạn của một tập sách chúng tôi xin được bắt đầu từ
    Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi. Khi đi sứ, ông đã ứng đáp thông minh, linh
    hoạt, sắc sảo khiến cả vua quan phương Bắc phải khâm phục; khi về làm dân,
    ông đã có nhiều việc làm ích Nước lợi Dân được đời sau ngưỡng mộ. Tiến sĩ
    Nguyễn Bá Lân - người đã viết phú Nôm Ngã ba Hạc phú, góp phần thúc
    đẩy sự phát triển của thể loại này trong tiến trình văn học Việt Nam. Suốt
    đời làm quan ông đã để lại tấm gương liêm khiết, cương trực, không cúi đầu
    trước bạo lực đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, do đó, không phải ngẫu
    nhiên mà sau khi ông mất được tôn làm Thành hoàng. Ở thế kỷ XVIII, làm
    sao có thể quên được La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, người đã có quan niệm
    xuất - xử rạch ròi, có nhiều đóng góp trong nền giáo dục triều đại Tây Sơn.
    Rồi các nhân vật không chỉ lừng lẫy một thời, mà công đức của họ còn tạo
    5

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    dấu ấn ở thế hệ mai sau như nhà sử học, nhà chính trị Ngô Thì Sĩ, Trịnh
    Hoài Đức...
    Một trong những nhân vật mà ta không thể quên là Tổng đốc Hoàng
    Diệu - người đã kiên quyết giữ thành Hà Nội trong trận đánh oanh liệt
    ngày 25/4/1882. Cho dù thất bại, phải chọn lấy cái chết để tỏ lòng trung
    hiếu với Dân với Nước, nhưng nói như Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm thì:
    “Chính cái chết oanh liệt của Hoàng Diệu đã có tác dụng thúc đẩy tức thời
    phong trào kháng chiến lên một bước, dẫn tới chiến thắng Cầu Giấy lần thứ
    2 sau đó (19/5/1883), chỉ huy giặc Rivière đã phải đền tội”. Và cũng trong
    giai đoạn thăng trầm nhất của lịch sử nước nhà, chúng tôi còn đề cập đến
    Kỳ Đồng - một thần đồng nổi tiếng nhất Việt sử cận đại. Điều thú vị là
    nhân vật này đã đi vào tranh dân gian, đi vào trong tâm trí quần chúng với
    nhiều huyền thoại. Như chúng ta đã biết, dưới ngọn cờ chính nghĩa của anh
    hùng Đề Thám, nghĩa quân Yên Thế đã ròng rã đánh giặc hơn ba mươi năm
    trời. Trong lúc nguy khốn nhất, chính Kỳ Đồng là người đã lập đồn điền ở
    Chợ Kỳ với mục đích hỗ trợ vũ khí, lương thực cho Đề Thám. Lại có những
    người không trực tiếp xông pha hòn tên mũi đạn, nhưng đã thực hiện nhiều
    công trình văn hóa như nhân vật Trương Vĩnh Ký, người đã bày tỏ thái độ
    chính trị rạch ròi “Ở với họ mà không theo họ”. Đó cũng là cách lực chọn
    của nhiều sĩ phu thời ấy.
    Khi ngọn cờ Cần vương đã kết thúc vai trò trên vũ đài chính trị nước nhà,
    nhiều đảng cách mạng đã ra đời nhằm tìm một đường hướng mới trong công
    cuộc cứu nước. Chúng tôi đề cập đến danh nhân Tôn Đức Thắng, được đời
    sau tôn kính gọi “Bác Tôn” - người cộng sản Việt Nam đã dũng cảm kéo cờ
    đỏ ủng hộ cuộc cách mạng tháng Mười Nga vang dội toàn thế giới, chính Bác
    là người công nhân đã lập ra Công hội đỏ đầu tiên để rèn luyện, giáo dục
    giai cấp công nhân Việt Nam từ năm 1920. Đội ngũ của những người cộng
    sản đã góp phần tích cực trong công cuộc cứu nước, trong phạm vị tập sách
    này, chúng tôi còn đề cập đến nhà cách mạng Nguyễn Hữu Tiến - người đã
    có ý thức vẽ cờ của Tổ quốc; nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, bằng ý thức chính trị
    nhiệt thành, bằng tài năng lớn đã viết lịch sử dân tộc bằng âm nhạc, đặng
    qua đó đánh thức quần chúng ý thức và học tập tinh thần bất khuất của tiền
    6

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    nhân; nhà thơ Bút Tre người đã tạo nên “trường phái” thơ Bút Tre và có ý
    thức làm thơ là nhằm phục vụ cho công tác chính trị. Ông cũng là người đã
    ghi lại câu nói của Bác Hồ đã nói với Đại đoàn Quân Tiên phong “Các vua
    Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” để
    sau này chúng ta ghi nhớ và học tập.
    Ngoài ra, chúng tôi còn viết về những nhân vật văn võ song toàn như đại
    tướng Nguyễn Chí Thanh, trung tướng Nguyễn Bình, thiếu tướng Nguyễn
    Sơn... Không chỉ là những nhà quân sự đầy tài năng mà họ còn là những nhà
    chính trị lỗi lạc đã có nhiều cống hiến nhằm xây dựng lực lượng vũ trang
    nhân dân trong giai đoạn lịch sử khác nhau. Tất nhiên, chúng ta không thể
    không đề cập đến nhà chính trị, Tổng bí thư Lê Duẩn. Một trong những đóng
    góp quan trọng nhất của ông đối với lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam
    là đã dự thảo Đề cương cách mạng miền Nam sau khi Hiệp định Genève được
    ký kết. Có thể khẳng định, bản Đề cương này đã có những đóng góp lớn cho
    sự ra đời của Nghị quyết 15 về đường lối cách mạng miền Nam - được của
    Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) thông qua vào tháng 1/1959.
    Nhận thức này đã mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam phát triển từ
    thế giữ gìn lực lượng lên thế tiến công, đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng,
    tạo bước nhảy vọt, mà đỉnh cao là phong trào Đồng khởi năm 1960 và tiếp
    tục dẫn đến thắng lợi vĩ đại 30/4/1975 thống nhất đất nước.
    Cứu nước, canh tân đất nước không là công việc của riêng ai. Có những
    người dù không đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng
    nếu có những đóng góp to lớn vì Dân vì Nước thì người đương thời và thế
    hệ sau cũng đều ghi nhớ. Chúng tôi đề cập đến nhà hùng biện, nhà tư tưởng,
    nhà hoạt động cách mạng Nguyễn An Ninh - dám từ bỏ cuộc sống vương
    giả để dấn thân vào con đường tù đày đấu tranh cho quyền sống của người
    lao khổ. Nhà yêu nước Phan Thanh, là người chiến sĩ kiên cường chống lại
    thực dân Pháp bằng những hoạt động nghị trường có hiệu quả. Nhà cách
    mạng Phạm Tuấn Tài - một trong những người sáng lập Việt Nam Quốc
    Dân Đảng - sau này từ trong lao tù của thực dân, đế quốc đã đi đến với chủ
    nghĩa Mác - Lê Nin vì nhận ra đó là con đường tích cực nhất để giải phóng
    dân tộc. Đây là những nhân vật đã thể hiện rõ nét nhân cách mẫu mực của
    7

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    người cách mạng trong tù đày, lúc hiên ngang bước lên máy chém. Khí phách
    anh dũng này còn khiến thế hệ sau đời đời ngưỡng mộ. Tên tuổi họ sống mãi
    cùng hồn thiêng sông núi. Tuy nhiên, do khuôn khổ tập sách có hạn nên
    chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến các danh nhân khác trong những tập sau.
    Nhân đây chúng tôi xin được nhắc lại, bộ sách KỂ CHUYỆN DANH
    NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê Minh Quốc thực hiện đã phát hành các
    tập: Danh nhân quân sự Việt Nam, Danh nhân khoa học Việt Nam, Các vị
    Tổ ngành nghề Việt Nam, Danh nhân Sư phạm Việt Nam, Danh nhân văn
    hóa Việt Nam, Nam, Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Những nhà cải cách
    Việt Nam, Danh nhân cách mạng Việt Nam, Những người Việt Nam đi
    tiên phong, Những nhà chính trị Việt Nam và sẽ còn phát hành các tập tiếp
    theo, mời các bạn tìm đọc. Để bộ sách thật sự hữu ích cho bạn đọc - nhất là
    các bạn thanh thiếu niên- chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ chân
    tình của các học giả uyên bác, của các nhà sử học và của các bạn đọc xa gần
    để tập sách ngày một hoàn hảo hơn. Trước hết xin bạn đọc ghi nhận ở đây
    sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    8

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    Mạc Đĩnh Chi
    Chính là sen ở giếng vàng đầu non

    Vào thế kỷ thứ XIII tại làng Lũng Động, huyện Chí Linh (Hải
    Dương) có đôi vợ chồng ngoài bốn mươi xuân, nhưng vẫn chưa sinh
    con trai.
    Họ đi cầu tự tại đền Chử Đồng Tử ở Hưng Yên. Tối hôm đó, người
    vợ nằm ngủ mơ thấy một vật sáng quắc từ trên trời cao rơi xuống giữa
    nhà, rồi hóa thành một con hầu (khỉ) chạy vào trong lòng. Giật mình
    tỉnh dậy, người vợ đem chuyện này kể cho chồng, nghe xong, ông nói:
    - Cứ như mộng này thì tất có tin mừng, có lẽ sẽ được quý tử.
    Không rõ có phải vậy không mà năm 1272, người đàn bà đó sinh
    ra đứa con trai có tướng mạo xấu xí, lại sinh nhằm giờ, ngày, tháng
    thuộc Thân nên mọi người càng tin là hầu tinh giáng thế. Đó là những
    truyền thuyết dân gian truyền tụng về Mạc Đĩnh Chi, Trạng nguyên
    đời Trần. Nhưng có điều chắc chắn, Mạc Đĩnh Chi thuộc dòng dõi
    Mạc Hiển Tích - Trạng nguyên đời Lý. Ngay từ nhỏ, Mạc Đĩnh Chi đã
    bộc lộ tư chất thông minh hơn người. Cha ông mất khi ông mới lên 5
    tuổi. Bấy giờ, có hoàng tử nhà Trần là Chiêu Quốc Công mở trường
    dạy học, ông được mẹ dẫn đến xin nhập học. Do tướng mạo xấu xí
    nên Mạc Đĩnh Chi thường bị bạn bè chê bai, trêu chọc, chỉ riêng thầy
    mới biết ông là người phi thường hơn thiên hạ. Thật vậy, ông học một
    biết mười, học đâu nhớ đấy, nổi tiếng là thần đồng. Do đó Chiêu Quốc
    Công đem lòng yêu mến, muốn nuôi ở luôn trong nhà cho ăn học để
    9

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Đền thờ Mạc Đỉnh Chi (12721346) tại Hải Dương

    làm bạn đọc sách với các công tử. Nhưng Mạc Đĩnh Chi vốn có hiếu,
    học xong là ông xin phép thầy để về nhà giúp đỡ cho mẹ, chứ không
    chịu ở luôn tại trường.
    Nhà nghèo, mẹ thường đi hái củi bán để lấy tiền nuôi Mạc Đĩnh
    Chi ăn học. Do đó, ông không yên lòng khi mẹ phải vất vả vì mình
    và nét buồn thường hiện trên mặt. Chiêu Quốc Công lấy làm lạ một
    hôm gặng hỏi thì ông thành thật thưa hết mọi chuyện với thầy. Cảm
    động vì cậu học trò nhỏ có hiếu và học giỏi, Chiêu Quốc Công cho
    đón cả mẹ con Mạc Đĩnh Chi về nuôi. Ngược lại từ khi ở nhà thầy,
    Mạc Đĩnh Chi cũng hết lòng thờ thầy, sớm khuya hầu hạ, chẳng khác
    gì con đối với cha.
    Năm 1304, ông thi đậu Trạng nguyên, nhưng vua Trần Anh Tôn
    thấy tướng mạo xấu xí nên không hài lòng và cũng không muốn cho
    đậu! Biết ý của vua, ông bèn dâng lên bài Ngọc tỉnh liên phú để tự ví
    mình như sen trong giếng ngọc:
    Giống quý ấy ta đây có sẵn
    Tay áo này ta chứa đã lâu
    10

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    Phải đâu đào, lý thô màu
    Phải đâu mai, trúc dãi dầu tuyết sương
    Cũng không phải tăng phường câu kỷ
    Cũng không là Lạc Thủy mẫu đan
    Cũng không là cúc, là lan
    Chính là sen ở giếng vàng đầu non

    Bài phú với từng dòng như châu như ngọc, khiến vua xem xong
    phải ngợi khen không tiếc lời và cho ông đậu Trạng nguyên. Khi vua
    hỏi đến chuyện trị nước, ông đều đối đáp trôi chảy và được vua ban
    làm Hàn lâm Đại học sĩ, ít lâu sau lại thăng làm Đại liêu bang - đứng
    đầu bá quan.
    Ông làm quan dưới ba đời vua Anh Tông, Minh Tông và Hiến
    Tông được người đời khen là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Có
    lần để thử Mạc Đĩnh Chi, vua Minh Tông nửa đêm sai người bí mật
    đem đặt mười quan tiền trước cửa nhà ông. Tờ mờ sáng hôm sau, sau
    khi thức dậy ngồi uống trà và đọc sách, ông rảo bước ra sân thì thấy
    những đồng tiền đó. Ông hỏi láng giềng chung quanh có ai đánh rơi
    thì đến nhận lại. Không ai nhận cả.
    Khi vào chầu, ông đem số tiền nhặt được tâu với nhà vua và nộp
    vào công quỹ. Nhà vua lắc đầu:
    - Nếu không có ai nhận, mà tiền lại ngay trước cửa nhà khanh thì
    đó là tiền của khanh. Vậy việc gì phải nộp vào công quỹ?
    Ông khẳng khái:
    - Tâu bệ hạ, nếu thần đổ công sức thì đó mới là tiền của thần. Bỗng
    dưng có được số tiền lớn này, không phải do lao động cật lực mà có
    thì thần không dám nhận.
    Đức tính thanh liêm ấy của ông được người đời khen ngợi mãi. Dù
    làm quan cao, chức trọng nhưng ông vẫn sống bình dị. Không chỉ là
    vị quan thanh liêm, Mạc Đĩnh Chi còn nổi tiếng về đối đáp ngoại giao
    giỏi. Khoảng năm 1314, ông được cử làm Chánh sứ đi sang Trung
    Quốc. Khi khởi hành đã có công văn thông báo, hẹn ngày để quân Tàu
    11

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    mở cửa ải nghinh tiếp. Nhưng vì thời tiết xấu, phái đoàn ta không đến
    đúng hẹn, vài ngày sau mới đến nơi thì quân Tàu đóng cửa ải không
    cho vào. Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi phải khẩn cầu mãi, cuối cùng
    quan coi cửa ải ra điều kiện: nếu đối được một câu đối thì sẽ mở cửa
    cho qua, bằng không thì... quay lui! Mạc Đĩnh Chi chấp thuận. Quan
    coi cửa ải đọc:
    - Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan;
    (Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua
    cửa quan).

    Oái oăm của câu đối này là chỉ 11 chữ mà có đến 4 chữ “quan” lại
    nói đúng hoàn cảnh lúc bấy giờ. Không ngờ, khi họ vừa dứt lời thì
    Mạc Đĩnh Chi đối lại ngay:
    - Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
    (Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước).

    Câu đối lại cũng đủ 4 chữ “đối” và cũng phù hợp với hoàn cảnh
    lúc bấy giờ khiến quan Tàu phải cúi đầu khâm phục cho tài mẫn
    tiệp, đối đáp khôn khéo của quan Trạng nước ta. Cửa ải liền được mở
    rộng cho đoàn sứ bộ nước ta đi qua. Trong thời gian ở kinh đô Trung
    Quốc, có lần ông đến phủ Tể tướng nhà Nguyên, thấy trên tường có
    bức trướng thêu con chim sẻ đậu trên cành trúc, nghệ thuật thêu đạt
    đến mức hoàn hảo nhìn như thật. Mạc Đĩnh Chi cũng tưởng nhầm
    nên đưa tay lên định bắt khiến mọi người cười òa chế giễu. Không
    một chút nao núng, ông liền cầm bức trướng ấy ném xuống đất, nói:
    - Tôi nghe người ta thường vẽ chim sẻ đậu cành mai, chứ không
    thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc. Hỡi ôi! Chim sẻ là tiểu nhân, cành trúc
    là quân tử, tại sao lại cho tiểu nhân ở trên quân tử? Tôi sợ đạo tiểu
    nhân ngày một thịnh, đạo quân tử ngày một suy nên vì thánh triều
    mà trừ bỏ điều xấu ấy đi!
    Tể tướng nhà Nguyên biết ông chữa thẹn, nhưng cũng phục tài
    biện bác rất chí lý ấy nên không nỡ giận. Đến khi vào chầu Nguyên
    Thế Tổ, nhân sứ thần các nước dâng cái quạt, vua Nguyên cho các sứ
    12

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    thi tài với nhau: đề tài là “Phiến minh” để vịnh cái quạt. Một tiếng
    trống gióng giả vang lên, ông chưa kịp suy nghĩ thì đã thấy sứ thần
    Cao Ly cắm cúi viết (dịch ý):
    - Khi nóng bức thì quạt đắc dụng như Y Doãn, Chu Công,
    Khi mùa đông giá rét thì quạt xếp xó như Bá Di, Thúc Tề.

    Mạc Đĩnh Chi nhanh trí triển khai tứ thơ đó thành bài thơ tuyệt
    hay (dịch ý):
    - Lúc chảy vàng nung đá, trời đất nóng như lò lửa thì lúc ấy chiếc
    quạt như Y Chu được đắc dụng,
    Khi gió rét lạnh lẽo, mưa tuyết ngập đường thì quạt nào khác gì Bá
    Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thủ Dương mà không ai biết đến.
    Than ôi! Ai dùng thì làm, không dùng thì để đó,
    Chỉ có ta với ngươi là vậy.

    Với bài thơ này, vua Nguyên phải khâm phục mà phong cho ông
    làm “Lưỡng quốc Trạng nguyên” (Trạng nguyên của hai nước). Tiếng
    tăm của Mạc Đĩnh Chi càng lừng lẫy nhưng cũng khiến cho nhiều
    quan Tàu tỏ ý ghen ghét. Gặp lúc nàng công chúa yêu của vua qua
    đời. Vua Nguyên vời ông vào đọc văn tế. Khi các quan đưa cho ông
    tờ văn tế, điều hiểm hóc khó hiểu là trên đó chỉ có bốn chữ “nhất”.
    Biết người ta thử tài mình, ông ứng khẩu đọc ngay (dịch):
    Trời xanh một đám mây
    Lò hồng một giọt tuyết
    Vườn thượng uyển một cành hoa
    Cung quảng hàn một vầng nguyệt
    Than ôi! Mây tán! Tuyết tiêu!
    Hoa tàn! Trăng khuyết!

    Ai nghe cũng phải khen là hay. Bốn câu trên câu nào cũng có chữ
    “nhất” ví dung nhan người đã mất, hai câu sau tỏ ý khóc than thương
    tiếc!
    Tương truyền trong thời gian ở Trung Quốc, nhiều quan Tàu đã
    thử tài với ông. Có lần quan Tàu ra câu:
    13

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    -Vy, ly, võng, lượng, tứ tiểu quỷ;
    (Quỷ Vy, quỷ Ly, quỷ Võng, quỷ Lượng là bốn thằng tiểu quỷ);

    Vì bốn chữ này đều có một chữ quỷ đứng bên, ngụ ý chê ông xấu
    như quỷ. Không ngờ, Trạng đối ngay:
    - Cầm, sắt, tì, bà bát đại vương.
    (Đàn cầm, đàn sắt, đàn tì, đàn Bà là tám vị đại vương).

    Bốn chữ này mỗi chữ đều có hai chữ vương, ông ngụ ý mình chẳng
    hèn kém, cũng bậc đại vương. Nghe câu đối của ông, quan Tàu phải
    chịu là ứng đối giỏi. Để chê bai giọng nói của người nước ta, quan
    Tàu lại ra câu đối:
    - Quích tập chi đầu đàm Lỗ Luận: tri tri vi tri chi, bất tri vi bất tri,
    thị tri;
    (Chim đậu đầu cành đọc sách Lỗ Luận, biết thì bảo là biết, chẳng
    biết bảo chẳng biết, ấy là biết đó);

    Câu này chơi âm “tri tri” để chỉ tiếng nói của ta ríu rít như chim.
    Mạc Đĩnh Chi cũng không phải tay vừa, ông đối ngay:
    - Oa minh trì thượng độc Châu Thư: lạc dữ độc lạc nhạc, lạc dữ
    chúng lạc nhạc, thục lạc.
    (Chẫu chuộc trên ao đọc sách Châu Thư: cùng ít người vui nhạc,
    cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui hơn).

    Ở đây, ông Trạng của ta đã dùng âm “lạc nhạc” để nhạo lại người
    Tàu nói ồm ộp như chẫu chuộc! Tài trí của ông khiến quan Tàu nể
    phục, phải từ bỏ ý định thử tài. Có lần, ông cưỡi lừa đi ngắm cảnh
    trong kinh thành. Đang nghênh ngang đi và ngắm nhìn cảnh vật, ngờ
    đâu chạm phải quan Tàu cưỡi ngựa đi phía trước. Người này bực mình
    quay lại quát một câu láo xược:
    - Xúc ngã kî mã, Đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã?
    (Chạm ngựa ta đi là người rợ phương Đông hay là người rợ phương
    Tây?)

    Với câu hỏi xấc xược, lấy ở sách Mạnh Tử hai chữ “Đông di” để chỉ
    người mọi rợ, Mạc Đĩnh Chi bực mình, đáp lại thẳng thắn:
    14

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    - Át dư thừa lư, Nam Phương chi cường dư, Bắc phương chi cường
    dư?
    (Ngăn lừa ta cưỡi, hỏi người phương Nam mạnh hay người phương
    Bắc mạnh?)

    Quan Tàu tái mặt bởi Mạc Đĩnh Chi đã lấy hai chữ “Nam phương”
    trong sách Trung Dung - lời lẽ ngang tàng ý bảo chưa chắc người
    phương Bắc mạnh hơn phương Nam! Thái độ của ông Trạng nước ta
    thật rạch ròi và cứng cỏi. Trong đời mình, Mạc Đĩnh Chi hai lần đi sứ,
    nhưng lần nào ông cũng đối đáp thông minh, lịch thiệp khiến người
    phương Bắc phải kính nể. Có lần vua Nguyên muốn thăm dò khí tiết
    của ông bèn ra câu đối:
    - Nhật hỏa, vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ;
    (Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng).

    Vua Nguyên tự kiêu ví mình là mặt trời, coi nước ta như vầng trăng,
    ban ngày nhất định phải bị mặt trời thôn tính! Không một chút nao
    núng, ông đối lại chan chát từng câu từng chữ:
    - Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.
    (Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời).

    Vua Nguyên ra câu đối đã giỏi, nhưng người đối lại còn giỏi hơn
    bội phần. Mỗi câu đều ăn miếng trả miếng cực kỳ chính xác khiến vua
    Nguyên rất đau, nhưng không có cách gì bắt bẻ được! Sau khi đi sứ về,
    Mạc Đĩnh Chi được thăng chức Tả bộc xạ (tương đương với Thượng
    thư), thời gian này (1313) ông đã chỉ đạo việc xây dựng lại quy mô chùa
    Dâu ở Thuận Thành. Vua Trần Anh Tôn tôn trọng ông thường gọi là
    Tiết Phu, chứ không gọi tên. Dù ngất ngưởng trên danh vọng, nhưng
    ông vẫn liêm khiết, ăn mặc thường giản dị. Có lần vua ái ngại hỏi:
    - Trẫm nghe nhà Trạng túng, nếu có thiếu gì thì cứ nói, trẫm sẽ tư
    cấp thêm.
    Mạc Đĩnh Chi cúi đầu tâu:
    - Hạ thần trên nhờ ơn vua dưới nhờ lộc nước, vợ con không phải
    đói rét là may, đâu dám cầu vinh thân phì gia để thêm mang tội.
    15

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Xin bệ hạ đừng thương hạ
    thần nghèo, chỉ xin thương
    lấy muôn dân, giữ nghiệp
    tổ tông, sửa sang chính
    trị, khiến lũ hạ thần được
    làm hết chức trách bày tôi,
    đó là ước nguyện của hạ
    thần. Ước nguyện ấy thực
    hiện được thì hạ thần dẫu
    áo vải cơm rau cũng là đủ.
    Nếu ước nguyện ấy không
    được thực hiện thì hạ thần
    dẫu mỹ vị cao lương, áo
    quần gấm vóc, ngựa xe
    trăm cỗ, nô bộc ngàn người
    thì cũng là thiếu. Cúi xin
    bệ hạ xét cho!
    Trong đời thường, Mạc
    Đĩnh Chi đã sống đúng
    như thế. Tương truyền
    ông có viết Giáo tử phú
    Một trang trong tác phẩm Thuyết Mạc viết về
    (bài phú dạy con): “Miễn
    Mạc Đỉnh Chi của Đinh Gia Thuyết in năm 1925
    được an nhàn. Trọng pháp
    kính thầy. Thí bần tác phúc. Ăn cơm phải bữa. Ai đói thì cho. Bớt miệng xui
    lòng. Mỗi người một chút. Kim cương thường đọc. Bố thí làm duyên...” mà
    nay đọc lại vẫn còn thấy đúng. Năm 1339, Mạc Đĩnh Chi dâng sớ xin
    về hưu trí. Vua Trần Hiến Tôn xem ông là quốc lão nguyên huân lại
    là thầy dạy học nên năn nỉ ông ở lại, nhưng ông vẫn cố xin. Bất đắc
    dĩ, vua phải chấp thuận. Lại sai người đưa về đến tận làng và gia tặng
    Hầu tước. Về quê, Mạc Đĩnh Chi dựng am ở núi Phượng Hoàng (Chí
    Linh) ngày ngày vui thú điền viên, dạo chơi danh lam thắng cảnh,
    lấy chữ nhàn làm vui. Trong đời mình, Mạc Đĩnh Chi làm nhiều thơ
    nhưng nay hầu hết đều thất lạc. Ngoài Ngọc tỉnh liên phú, nay chỉ còn
    16

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    Bia thờ Mạc Đỉnh Chi mới phát hiện tại xã Thanh Quang, huyện Nam Sách (Hải Dương)

    lại bốn bài thơ truyền lại cho đời sau. Qua những thi phẩm này, chúng
    ta thấy được khí tiết cao đẹp của ông. Khi nói Đào Tiềm không vì “đấu
    gạo phải khom lưng” thì chính ông cũng bộc lộ tư tưởng:
    Nhàn khoáng ấy tính trời
    So đâu kẻ đua đòi
    Gẫy lưng vì đấu gạo
    Treo ấn bỏ quan thôi
    Đạm bạc, cúc một giậu
    Lưa thưa, liễu dăm chồi
    Nghìn năm sau mờ mịt
    Danh tiếng cảm đến tôi
    (Huệ Chi dịch)

    Mạc Đĩnh Chi mất năm 1346 dưới đời vua Trần Dụ Tôn. Vua thương
    tiếc sai các quan về dụ tế, lại truy tặng làm phúc thần, cấp tiền cho
    dân sở tại dựng đền thờ tại Lũng Động nay là Long Động, xã Nam
    Tân, huyện Nam Thanh, Hải Dương.
    17

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Nguyễn Bá Lân
    “Ngự sử đức tài xứng kỳ chức”

    Dòng sông Hồng cuồn cuộn sóng. Trời về chiều. Một chiếc đò chở
    hai cha con ông Nguyễn Công Hoàn đang xuôi về làng Cổ Đô - nơi
    nổi tiếng về nghề dệt lụa mà ca dao còn ghi “Chính tông lụa cống các
    cô ưa dùng”. Nhìn về bên kia sông, thấy đàn dê đang đi nhởn nhơ,
    ông Hoàn bảo với cậu con trai:
    - Này! Con có thấy gì không? Cha ra bài phú (1) với đầu đề là “Dịch
    đình dương xa phú” (Bài phú xe dê cung cấm). Nếu sang bờ bên kia,
    cha làm xong trước mà con chưa xong thì cha sẽ ném con xuống sông;
    còn nếu con làm xong trước thì con cứ việc xô cha xuống sông. Cha
    không trách con đâu!
    Nghe cha nói thế, cậu con trai ậm ừ gật đầu. Hơn ai hết cậu biết tính
    nghiêm khắc của cha. Dù vậy, cậu cũng cố nhẩm trong đầu cho xong
    bài phú. Khi chiếc đò cập bến, cậu đã làm xong bài phú, nhưng cha
    cậu chỉ mới làm một nửa. Chẳng lẽ phải xô cha xuống sông sao? Nghĩ
    vậy, cậu ngần ngừ không dám đọc. Đến khi người cha làm xong bài
    phú thấy con vẻ mặt đăm chiêu, tưởng cậu chưa làm xong liền đánh
    (1)
    Phú: Một thể văn có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi của Trung Quốc và Việt Nam để tả phong cảnh,
    kể sự việc, bàn chuyện đời… Trong ba loại “phú, tỷ, hứng” thì phú là phô diễn, là miêu tả trực tiếp chứ không
    qua so sánh, liên tưởng như tỷ, hứng. Kinh thi viết: “Phú là phô bày thẳng sự thực”. Có hai loại phú: phú cổ
    thể làm theo lối văn biền ngẫu (biền phú) hoặc như một bài văn xuôi có vần (phú lưu thủy) và phú cận thể
    hay phú Đường luật. Ở Trung Quốc, phú nẫy mầm cuối đời Chiến quốc, định hình và thịnh hành đời nhà Hán
    với các tác giả như Giả Nghị, Tư Mã Tương Như... Ở Việt Nam từ đời nhà Lý đã có phú. Nhưng chỉ còn truyền
    lại những bài phú từ các đời Trần - Hồ về sau. (Xem Từ điển văn học - NXB Khoa học Xã hội 1984, trang 227)

    18

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    cho một trận. Cậu con trai đành
    phải nói ra và đọc cho cha nghe.
    Bài phú của cậu nổi tiếng đến
    nỗi mà sau này người ta truyền
    tụng là “Bài phú hoàn thành
    trên một chuyến đò ngang”.
    Thế là người cha tự nhảy luôn
    xuống sông, tự bơi vào như đã
    giao hẹn trước với con trai. Tính
    tình của ông Hoàn là vậy. Dù
    học giỏi, văn hay chữ tốt, nhưng
    nhiều lần thi trượt nên ông dồn
    hết tâm trí để rèn cặp cho con
    với thái độ nghiêm khắc. Ngay
    cả vợ ông cũng chia xẻ với suy
    nghĩ của chồng và từng dặn dò
    cậu con trai:

    Bia tiến sĩ thượng thư Nguyễn Bá Lân (1700-1785)
    tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội)

    - Ta là đàn bà không hiểu văn
    chương nông sâu ra sao, chỉ biết ông nội dạy cha con đến thành danh.
    Những gì là sở trường trong lòng cụ truyền hết cho đấy, nhưng do học
    lực chuyên cần hay nới lỏng mà kết quả sự nghiệp cũng khác. Thế mới
    biết, trời không phụ công người chăm đọc sách. Lời ngạn ngữ từ xưa
    không phải nói ngoa, vả lại ta thấy cha con từ sau khi đỗ thi Hương
    thì ngày đêm làm bạn với đèn sách, thế mà liên tiếp đi thi còn chưa
    thể tranh được đầu bảng, không rõ các vị đỗ đầu bảng họ còn chăm
    chỉ đến thế nào? Con nên kịp thời lo việc học hành gắng sức cho công
    phu, chớ mê mải chuyện khác, đừng thấy mình còn kém mà thoái lui,
    đừng thấy đã khá mà tự cao, mục tiêu lớn hay nhỏ cũng phải gắng công
    giành lấy. Cửa trời tuy rộng mở nhưng chưa chắc ai cũng tới được. Cứ
    phải gắng lên như đào giếng sắp tới mạch, đắp núi đã gần xong, con
    người phải gắng lên cho tới đích. Nếu chẳng được làm quan trong triều
    thì cũng làm thầy dạy học, như vậy cũng trả được món nợ của người
    đi học, mà tiếng nhà không mai một, con còn trẻ hãy ghi nhớ lời ta!
    19

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    Những lời mẹ dạy đã khiến cậu ghi nhớ nằm lòng. Rồi lần nọ, hai
    cha con cùng thi nhau học kinh sử, ông Hoàn bảo vợ đặt cây roi mây
    bên cạnh bàn học và bảo với con:
    - Mày ngủ gục thì tao đánh mày, tao ngủ quên thì mày đánh tao.
    Với lời giao ước như thế nên cậu con trai chăm chú học. Đêm đã
    khuya. Ngoài vườn hoa ngọc lan dìu dịu hương thơm, tiếng dế kêu
    rả rích… Hai mắt nặng trĩu nhưng cậu vẫn không dám chợp mắt. Lát
    sau, nhìn sang, bên cạnh thì đã thấy cha úp mặt vào trang sách ngáy
    khò khò. Thấy cha mệt mà ngủ quên đi, cậu không dám cầm roi đánh
    cha mà chỉ khẽ lay cha dậy. Ông Hoàn giật mình tỉnh giấc liền quát:
    - Ô hay! Sao mày không đánh cho tao dậy ngay? Mày muốn hại
    tao à?
    Nói xong, lấy roi phết vào mông cậu mấy roi đau điếng. Thế là cậu
    cũng tỉnh ngủ hẳn và ngồi học cùng cha cho đến rạng sáng. Lại một
    lần khác, hai cha con thi tập làm văn, ông Hoàn bảo:
    - Tao làm hơn mày thì tao ăn cơm, mày nhịn; mày làm hơn tao thì
    tao nhịn, mày ăn cơm.
    Cũng như mọi lần, cậu con làm hay hơn, nhanh hơn, thế là ông
    bố cương quyết nhịn ăn để nhường suất cơm đó cho con. Chưa hết,
    biết tuổi của con còn ham chơi hơn ham học nên có lần ông Hoàn
    đưa cậu trên một cái chòi, dưới cắm chông và bỏ thang để không còn
    đường leo xuống. Bao giờ học xong thì ông mới cho xuống. Học kiểu
    này thì khổ quá, cậu con trai tinh nghịch nghĩ ra một cái mẹo khôn
    ngoan. Một tối, trước khi lên chòi ngồi học, cậu lén mang theo khúc
    cây chuối. Giữa khuya, lúc cả nhà sắp đi ngủ, bỗng nghe “rầm” ở
    ngay bãi chông. Cả nhà hoảng hốt chạy ra, người lo lắng đầu tiên là
    ông Hoàn, ông kêu lên hoảng hốt:
    - Thế là nhà ta mất một tiến sĩ rồi!
    Nhưng khi đến nơi chỉ thấy thân cây chuối, còn cậu con trai vẫn
    ung dung ngồi học bài ở phía trên, bây giờ ông mới hoàn hồn. Nhưng
    không vì thế mà ông bỏ cái lệ này. Có giai thoại kể lại rằng, cách rèn
    20

    TẬP 10: CÁC NHÀ CHÍNH TRỊ

    cặp này cũng đã khiến ông Hoàn áy náy, do đó, sáng hôm sau, ông
    sai người nhà mang gói chè lam lên chòi cho con và ngoài ghi hai chữ
    “Trà lam”- đọc lái là “làm cha”, ý nói đạo làm cha thì phải thế, con
    chớ mang lòng oán trách. Hiểu ý của cha, cậu con trai viết trả lời hai
    chữ “Còn lam” - đọc lái là “làm con”, ý nói cậu cũng hiểu đạo làm
    con phải tuân phục sự dạy dỗ của cha, chứ nào dám trái ý cha. Biết ý
    hướng của con, ông Hoàn không gửi con học trực tiếp ở trường nào,
    mà chỉ nghe ngóng nơi nào có danh sĩ tài giỏi, tiếng tăm thì tìm mọi
    cách gửi con đến để học hỏi. Nhờ học với cha và cách dạy nghiêm
    khắc của cha nên cậu con trai không một phút lơi lỏng bài vở. Cậu
    con trai ấy là Nguyễn Bá Lân- về sau đậu tiến sĩ, giữ chức thượng
    thư và làm được nhiều việc ích nước lợi dân. Sau này, Quốc sử quán
    triều Nguyễn đã nhận xét cậu có được học thức ấy có được là nhờ ở
    gia đình. Điều đó không sai chút nào cả.
    Trong Gia phả của dòng tộc mình, Nguyễn Bá Lân có cho biết: “Họ
    Nguyễn ta vốn quê ở thôn Ngoại, xã Hoài Bào, huyện Tiên Du, phủ
    Từ Sơn, xứ Kinh Bắc vốn dòng dõi là thi thư”. Nhưng tổ tiên ông gặp
    buổi binh đao phải lánh về ở làng Cổ Đô (nay xã Cổ Đô, huyện Ba Vì,
    Hà Tây) và ông sinh ra tại nơi mà ca dao xưa đã ca ngợi:
    Đồn rằng Hà Nội vui thay
    Vui thì vui vậy chưa tày Cổ Đô
    Cổ Đô trên miếu dưới chùa
    Trong làng lắm kẻ nhà Nho có tài
    Gái thì giữ việc trong nhà
    Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa
    Trai thì đọc sách ngâm thơ
    Dùi mài kinh sử để chờ khoa thi

    Nguyễn Bá Lân sinh giờ Tuất ngày 27 tháng giêng năm Canh Thìn
    (1700) là con trai đầu của ông Nguyễn Công Hoàn. Ông Hoàn mồ
    côi cha từ nhỏ nên năm lên bốn tuổi ở với chú. Dù được chú cho học
    hành, nhưng ông ham chơi bê trễ đèn sách. Ngày nọ, mẹ của ông
    sang chơi hỏi em chồng là bao giờ con trai của bà đi thi được? Ông
    chú cười mà đáp: “-Tuổi cháu đã lớn mà học vẫn không ra gì, chị nên
    21

    BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM

    kiếm giấy bút để cháu về ghi chép thuế cho xã nhà cũng được, chứ nói
    đến chuyện thi cử làm gì?”. Nghe vậy, người mẹ chỉ còn biết rưng rức
    khóc. Không ngờ, lúc đó ông Hoàn đứng dựa cột sau nhà đã lén nghe
    hết mọi chuyện. Bực mình với nhận xét của chú, ông liền bỏ nhà trốn
    đi. Không biết ông ở đâu, cả nhà hoảng hốt đi tìm. Suốt mấy tháng
    trời cũng bặt âm vô tín. Không ai ngờ lúc đó, ông tới ở nhờ những gia
    đình đã chịu ơn chú mình mượn sách để học. Học bất kể ngày đêm,
    nhờ vậy ông trở nên người hay chữ nhất thời bấy giờ, được khen ngợi
    là một trong “tứ hổ” nổi tiếng văn chương ở kinh thành Thăng Long
    “Nhất Quỳnh, nhị Nham, tam Hoàn, tứ Tuấn”. Mãi đến năm ba mươi
    tuổi, ông mới có con trai đầu là Nguyễn Bá Lân, vì thế ông dồn hết
    mọi nỗ lực để con học giỏi làm nở mày nở mặt gia đình. Ngay thuở
    nhỏ, Nguyễn Bá Lân đã tỏ ra thông minh, đỉnh ngộ hơn người. Bấy
    giờ, một trong những “tứ hổ” của đất Tràng An là tiến sĩ Lê Anh Tuấn
    vinh quy bái tổ về làng. Còn nhỏ tuổi nên Nguyễn Bá Lân vẫn nhởn
    nhơ đứng chơi bên đường, chứ không hề tỏ ý sợ hãi. Thấy vậy, tiến
    sĩ xuống lọng, biết là học trò nên ra câu đối thử tài:
    - Sỉ tính cương, thiết tính nhu, cương tính bất như nhu tính cửu;
    (Răng thì cứng, lưỡi thì mềm, răng cứng không bền như lưỡi mềm)

    Vừa dứt lời, Nguyễn Bá Lân đối lại ngay:
    - Mi sinh tiền, tu sinh hậu, tiền sinh mạc nhược hậu sinh trường.
    (Lông mày mọc trước, râu mọc sau, lông mày mọc trước không dài
    bằng râu mọc sau).

    Tiến sĩ Lê Anh Tuấn khen cho cậu học trò không những ứng đối
    lanh lẹ mà còn bộc lộ khí phách khá ngang tàng. Biết đó là con trai
    của Nguyễn Công Hoàn, bạn mình thì tiến sĩ lại thêm vui. Nguyên do
    trước đây, trong kỳ thi sát hạch học trò ở phủ Quảng Oai, quan huấn
    đạo có hỏi trong hai người thì ai giỏi hơn ai? Ông Hoàn đáp: “- Chưa
    biết mèo nào cắn mỉu nào!”. Nghe thế, quan liền ra đề tài con mèo để
    hai người cùng ứng khẩu thành bài thơ Đường luật. Trong lúc, ông
    Hoàn còn tìm giấy bút thì ông Tuấn đã đọc xong bài thơ. Buồ...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !