Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Ke-chuyen-danh-nhan-viet-nam-tap 8-danh-nhan-cach-mang-viet-nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 10h:22' 19-11-2024
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 10h:22' 19-11-2024
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Lê Minh Quốc
Các vị nữ danh nhân Việt Nam / Lê Minh Quốc. - Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009
270tr. ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam ; T.8)
1. Danh nhân -- Việt Nam. 2. Nữ anh hùng -- Việt Nam. I. Ts.
959.7092 -- dc 22
L433-Q16
nhà xuất bản trẻ
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
Fax: 84.8.8437450
E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
Website: http://www. nxbtre.com.vn
4
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử bốn ngàn năm giữ nước và dựng nước, đất nước ta đã
xuất hiện nhiều phụ nữ anh hùng và tài hoa. Họ có những đóng góp
quan trọng, có thể sánh với nam giới, thậm chí còn hơn cả nam giới ở
một vài lĩnh vực nào đó. Đây là điều rất đáng tự hào. Lâu nay, chúng
ta vẫn ý thức rằng, không có mặt trời thì hoa không nở, không có phụ
nữ không có thế giới. Do đó, tìm hiểu vai trò và sự đóng góp của phụ
nữ ở bất cứ thời điểm nào cũng là điều cần thiết và qua đó, chúng ta có
thể học tập ở họ những đức tính cao quý khác mà nam giới khó có thể
sánh được. Khi biên soạn tập sách Các vị nữ danh nhân Việt Nam,
nhà thơ Lê Minh Quốc cố gắng đóng góp phần nhỏ vào mục đích trên.
Tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn, trước mắt tập sách đề cập đến
những vị nữ danh nhân như chị em Hai Bà Trưng đã khởi binh đánh
đuổi giặc phương Bắc, nói như sử gia Lê Văn Hưu thì Hai Bà đã
“xưng vương dễ như trở bàn tay” và “trong khoảng hơn nghìn năm,
bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há
chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao?”. Nữ tướng
Lê Chân, chiến đấu dưới ngọn cờ chính nghĩa của Hai Bà Trưng, lập
nên những chiến công hiển hách và được tấn phong là Thánh Chân
công chúa. Nhưng đến nay ít người biết rằng, chính bà là người phụ
nữ đầu tiên mở đất Hải Phòng và dựng lên trang sử oanh liệt. Những
phụ nữ bước ra chiến trường như thế không hiếm trong lịch sử nước
ta, ta còn có thể kể đến Bà Triệu - người đã thể hiện khí phách của
mình: “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở
biển Đông” mà không phải đấng nam nhi nào cũng có được.
Nhìn suốt chiều dài của lịch sử, ta nhận thấy hình ảnh người phụ
nữ trong thế kỷ XX đã có nhiều bước tiến bộ khác trước rất nhiều, họ
5
không còn phải ru rú trong xó bếp với quan niệm cổ hủ “Nhất nam viết
hữu, thập nữ viết vô” mà đã ý thức bước ra ngoài xã hội, cùng nam
giới đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Nhà văn hóa Nguyễn
Đổng Chi cho rằng: “Lịch sử văn hóa, tư tưởng Việt Nam trước, nay
và sau có thể tóm tắt bằng một chữ đánh”. Sau truyền thống đánh giặc
của Bà Trưng, Bà Triệu… Sau này chúng ta lại có hàng loạt những
phụ nữ nối tiếp truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó
là vợ ba Cai Vàng, nữ tướng Bùi Thị Xuân, liệt nữ Cô Giang, liệt nữ
Trần Thị Trâm, Lê Thị Đàn, Võ Thị Sáu, nữ tướng Nguyễn Thị Định.
Những tấm gương hy sinh oanh liệt hoặc mưu trí trong lúc cầm quân
của họ muôn đời sau vẫn còn khiến mọi người khâm phục.
Tùy theo điều kiện, mỗi phụ nữ có cách chọn lựa khác nhau đặng
cống hiến nhiều nhất tài năng của mình cho đất nước, cho cộng đồng.
Nếu bà Nguyễn Thị Minh Khai trực tiếp tham gia Nam kỳ khởi nghĩa
thì bà Cao Thị Khanh, bà Đạm Phương nữ sử... chiến đấu trên diễn đàn
văn chương, báo chí; bà Năm Phỉ hoạt động lãnh vực sân khấu... Cho
đến nay cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn là điểm son chói lọi trong lịch
sử nước nhà, nó đã chứng minh tấm lòng yêu nước của con dân dưới
ách nô lệ quyết đòi quyền sống, dù phải hy sinh tính mạng... Trong
tập sách này chúng tôi cũng đề cập đến những phụ nữ tiêu biểu khác
như mẹ Suốt, tên gọi thân thương dành cho bà mẹ có cái tên bình dị
là Nguyễn Thị Suốt, quê ở Quảng Bình, đã chèo đò đưa bộ đội qua
sông dưới bom đạn Mỹ mà không run sợ. Sự đóng góp của mẹ đã được
Quốc hội nước ta tuyên dương Anh hùng. Có thể khẳng định, trong
cuộc kháng chiến thần kỳ vừa qua, mỗi người Việt Nam yêu nước, từ
nhiều góc độ khác nhau đã có những cách đóng góp riêng. Với suy
nghĩ đó, chúng tôi còn đề cập đến Ni trưởng Huỳnh Liên; hoặc một
nữ sinh Sài Gòn chọn cái chết là tự thiêu để phản đối chiến tranh phi
nghĩa, đánh thức lương tri yêu chuộng hòa bình của loài người. Đó là
chị Phan Thị Mai mà hiện nay bút hiệu của chị được đặt tên đường:
Nhất Chi Mai.
Chúng tôi cũng không quên những bậc nữ lưu nổi tiếng trong các
lĩnh vực khác. Đó là thiền sư Diệu Nhân ở thế kỷ XI, với bài kệ nổi
6
tiếng để lại cho đời sau, được giới nghiên cứu văn học nước nhà xếp
vào các nữ tác gia tiêu biểu của đời Lý. Hoàng thái hậu Ỷ Lan, người
được nhân dân đồng hóa với nhân vật cô Tấm trong cổ tích và cũng
là người giúp vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông trong việc trị nước.
Bà Nguyễn Thị Duệ uyên bác đời nhà Mạc - một người phụ nữ đầu
tiên thi đậu Tiến sĩ trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Cho dù trong
xã hội thời trước người phụ nữ không có cơ hội lều chõng để đem tài
năng ra giúp nước, nhưng bà đã giả trai để ra thi thố với các đấng
mày râu đương thời!
Ta còn có thể kể đến nữ sĩ Đoàn Thị Điểm - một trong những người
đã có công dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm từ chữ Hán ra chữ Nôm.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với những bài thơ sử dụng ngôn ngữ dân tộc
đạt đến đỉnh cao, nhà thơ Xuân Diệu và người đời sau ca ngợi là “Bà
chúa thơ Nôm”. Bà Huyện Thanh Quan - nữ sĩ tài hoa với những áng
thơ trang nhã, điêu luyện mà nhiều thế hệ sau vẫn còn thuộc nằm lòng.
Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh - con gái của cụ Đồ Chiểu, người phụ nữ
tiết hạnh đã đứng ra làm tờ báo Nữ giới chung đầu tiên dành cho nữ
giới. Cũng trong giai đoạn này, ta còn có thể kể đến bà Bang Nhãn
một nữ sĩ tiêu biểu của đất Quảng Nam ở giữa thế kỷ XIX mà lâu
nay do thiếu tài liệu nên chưa nhiều người biết đến. Tất nhiên chúng
tôi không thể không đề cập đến vai trò của bà Từ Dũ - người mẹ đã
nghiêm khắc lấy lòng nhân dạy con nên người - dù người con ấy là vua
Tự Đức mà lịch sử còn phán xét, nhưng đức độ của bà rất tiêu biểu
cho hình ảnh các bà mẹ Việt Nam trong phép dạy con. Do đó, không
phải ngẫu nhiên mà bệnh viện sản phụ lớn nhất tại TP. Hồ Chí Minh
đã đặt tên của bà như một sự nhắc nhở cho các bà mẹ tương lai trong
ý thức giáo dục con sau này.
Thật đáng kính phục cho tấm lòng nhân hậu của người phụ nữ
Việt Nam, có người dù không phải là bậc nữ sĩ có nhiều áng văn bất
hủ trong văn học sử, hoặc là người cầm quân thao lược đánh đông dẹp
bắc, nhưng đời sau vẫn nhớ mãi vì đã để lại cho hậu thế tấm gương
sáng về việc làm từ thiện. Người đó là bà Cả Mọc và bà cũng là người
đầu tiên thành lập Hội Tế Sinh nuôi dưỡng trẻ em ở Hà Nội mà trong
7
tác phẩm của mình nhà văn Vũ Trọng Phụng đã ca ngợi bà với tất cả
sự ngưỡng mộ v.v...
Xin được nhắc lại, Các vị nữ danh nhân Việt Nam là tập sách sách
thuộc bộ KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê
Minh Quốc biên soạn. Đến nay, theo yêu cầu của độc giả, Nhà Xuất
Bản Trẻ đã xuất bản các tập Danh nhân khoa học, Danh nhân quân
sự, Các vị tổ ngành nghề, Danh nhân sư phạm, Các vị nữ danh nhân,
Những nhà cải cách, Danh nhân cách mạng, Những người Việt Nam
đi tiên phong, Danh nhân văn hóa. Điều này cho thấy bạn đọc trẻ
ngày nay vẫn quan tâm đến nhân vật và sự kiện của lịch sử nước nhà.
Để bộ sách thật sự hữu ích cho bạn đọc - nhất là các bạn thanh thiếu
niên - chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các
học giả uyên bác, của các nhà sử học và của các bạn đọc xa gần để bộ
sách này ngày một hoàn hảo hơn. Trước hết xin quý độc giả ghi nhận
nơi đây sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
8
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
HAI BÀ TRƯNG
Bậc liệt nữ đầu tiên
trong lịch sử nước nhàø
Bà Trưng quê ở Phong Châu
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Những câu thơ trong Đại Nam quốc sử diễn ca tưởng chừng còn âm
vang mãi, đọc hoài vẫn không chán, nghe mãi vẫn thấy hay. Chiến
công của bậc nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước ta vẫn còn chói lọi đến
thiên thu. Sử gia Lê Văn Hưu đã bình luận những câu sắc bén: “Trưng
Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật
Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng
nước, xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thể nước Việt
ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến
trước nhà Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi
đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai
chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình
9
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
vậy”. Thật vậy, ngay từ năm 221 trước công nguyên, nhà Tần sau khi
thống nhất toàn Trung Quốc đã đem 50 vạn quân xâm lược phương
Nam. Chẳng bao lâu, nhà Tần suy yếu, nhà Hán lên chiếm ngôi báu.
Lợi dụng thời thế loạn lạc, viên quan nhà Tần là Triệu Đà chiếm giữ cả
ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng, lập nước Nam Việt. Sau đó Triệu
Đà cầm quân đi đánh nước Âu Lạc ta, nhưng đánh mãi không xong
vì ngoài tinh thần quật khởi dân tộc ta còn có thành Cổ Loa kiên cố,
có nỏ thần Kim Quy. Vì vậy, Triệu Đà xảo quyệt dùng kế hoãn binh
với An Dương Vương, rồi lập mưu đánh cắp nỏ thần. Nhờ vậy, Triệu
Đà mới chiếm được nước Âu Lạc rồi sát nhập vào Nam Việt - chia làm
hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Từ năm 111 trước công nguyên vua
Vũ Đế nhà Hán sai hai chục vạn quân sang đánh nhà Triệu và sau
khi chiếm được nước Nam Việt, chúng đổi thành Giao Chỉ bộ rồi chia
làm 9 quận. Từ đó cho đến năm 39 sau công nguyên, là thời kỳ mà
sử nước ta gọi là thời kỳ “Bắc thuộc lần thứ nhất”. Dưới ách thống
trị tàn khốc của nhà Hán,
dân tộc ta không ngừng
đứng lên đấu tranh giành
độc lập dân tộc. Ròng rã
suốt 150 năm đó, tinh hoa
và khí phách của dân tộc
đã hun đúc nên tinh thần
quyết chiến quyết thắng
mà đỉnh cao chính là cuộc
khởi nghĩa của chị em Hai
Bà Trưng ở Mê Linh (tức
vùng Hạ Lôi, huyện Yên
Lãng - Vĩnh Phú ngày
nay).
Theo thần tích và
truyền thuyết thì mẹ Hai
Bà Trưng là bà Man Thiện cháu chắt bên ngoại Hùng
Vương. Dù góa chồng
Tượng thờ Bà Trưng Trắc
10
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
sớm, nhưng bà vẫn đảm
đang việc nuôi dạy hai
con theo tinh thần yêu
nước và thượng võ. Gia
đình bà sống bằng nghề
nuôi tằm, kéo tơ, do
đó, khi sinh con, bà đã
đặt tên con đầu là Trắc
(trứng chắc) và con thứ
là Nhị (trứng nhì). Nhờ
sự chăm sóc chu đáo
của mẹ, hai chị em lớn
lên đều khỏe mạnh, giỏi
võ nghệ, tính khí hùng
dũng. Bấy giờ, nước
Nam Việt ta đã bị nhà
Hán xâm lược, chúng
đổi tên là Giao Chỉ và
chia làm chín quận.
Tượng thờ Bà Trưng Nhị
Đứng đầu mỗi quận có
một viên Thái thú trông
coi về chính trị và một viên Đô úy chỉ huy lực lượng quân sự. Năm
34, vua Hán Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ.
Hắn vốn là kẻ tham lam, độc ác nên ai ai cũng oán giận. Trong khi
đó, đến tuổi thanh xuân, bà Trưng Trắc đã kết hôn với Thi Sách (1) con
trai lạc tướng ở Chu Diên (tức vùng nằm dọc sông Đáy, sông Hồng
ngày nay). Cuộc hôn nhân này khiến Tô Định giật mình vì biết rằng
đằng sau đó là sự liên kết giữa hai thế lực của hai vùng đất rộng lớn
nhằm lật đổ ách thống trị của nhà Hán. Do đó, Tô Định đột ngột đem
quân về Chu Diên bắt giết Thi Sách. Vốn là con nhà tướng, từ lâu căm
1 Về tên chồng bà Trưng, gần đây có nhà nghiên cứu căn cứ vào sách Thủy kinh chú, Hậu Hán
thư cho rằng tên là Thi, chứ không phải là Thi Sách. (Phương pháp sử học, NXB Sao Mai 1974, của
Nguyễn Phương và tạp chí Kiến thức ngày nay số ra ngày 10-3-1998). Vấn đề này giới sử học chưa
có ý kiến chính thức. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nêu ra để bạn đọc tham khảo, khi tiếp cận thông tin
mới trong vấn đề sử học.
11
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
thù nhà Hán nên hai chị em bà Trưng nhân cơ hội này dấy binh khởi
nghĩa. Như vậy, hành động chính nghĩa của Hai Bà vừa vì tình riêng
mà cũng vừa vì nghĩa lớn. Trưng Nhị được cử đi liên hệ với hào kiệt
bốn phương, còn Trưng Trắc chiêu mộ binh sĩ luyện tập cung kiếm, võ
nghệ ngày đêm. Thiên hạ khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Điều lạ lùng
đáng khâm phục là dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng đã tập hợp được
nhiều nữ tướng như: Lê Chân, Bát Nạn, Nàng Nội, Lê Ngọc Trinh,
Thiền Hoa, Lê Thị Liễu, Ả Là, v.v… Đây không phải là những tên
tuổi được kể lại theo truyền thuyết mà những nữ tướng này hiện nay
còn được nhân dân ở các xã tại Vĩnh Phú lập miếu đền tưởng niệm.
Theo truyền thuyết dân gian thì nơi Hai Bà Trưng tập luyện binh
sĩ chính là tại xã Lâu Thượng gần Ngã Ba Hạc (Vĩnh Phú). Tại đây,
người dân kiêng “húy ngài”, nên từ “nhị” được nói lại thành “nhợi”
hay “nhội”. Còn làng Giỏ (xã Kinh Kệ, huyện Phong Châu) là nơi Hai
Bà Trưng đóng quân. Mùa xuân năm 40, Hai Bà ra quân để quét sạch
quân giặc Hán tham tàn. Trước hết, nghĩa quân đã vào viếng đền thờ
Xuân Dung, công chúa con vua Hùng, khấn các vua Hùng và công
chúa âm phù cho thắng trận. Sau đó, Hai Bà tiến quân về núi Hùng
làm lễ tổ tiên, Trưng Trắc đã đọc bốn lời thề mà dân gian còn ghi lại
trong Thiên Nam ngữ lục:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này
Sau lời phát nguyện này, tiếng chiêng, cồng, trống ầm ầm nổi lên(1).
Trên bành voi oai phong lẫm liệt, Hai Bà đã thúc quân ra trận. Theo
1 Theo Tạp chí Xưa & Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (số 65 phát hành 7-1999) thì trong
quyển Hoàng bà Phả lục do tiến sĩ Phạm Quý Truật soạn đời Lê Cảnh Trị (1663-1671) có viết rằng
trước lúc xuất quân, Hai Bà Trưng đã đọc bài Hịch: “Nay Tô Định làm Thái thú Giao Châu, tham tài hiếu
sắc, hiếp vợ giết chồng, thần dân đều cùng oán giận, trời đất không thể dung tha.
Ta nay vâng mệnh trời, thuận lòng người, dấy nghĩa diệt loài vô đạo họ Tô, hào khí ngất trời, đuổi
giặc ngoại xâm giặc Hán, dựng cờ tự chủ ở nước Nam. Trống khuya quật cường vang bốn cõi.
Hịch văn đến đâu không kể thổ hào trai gái, đều nên tự khởi nghĩa binh, hãy chiếm lấy châu quận
phủ huyện hạt mình, cắt đứt viện trợ quân lương của giặc, sau sẽ chọn quân binh nhuệ đến Hát Môn
tiêu diệt giặc Hán.
Hịch này truyền ra toàn quốc đều rõ”.
12
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
kế hoạch, nữ tướng
Thánh Thiên và Lê
Chân đi tiền đạo
vây phủ Thái thú,
quyết bắt cho bằng
được tên Tô Định.
Hai Bà Trưng cùng
nữ tướng Bát Nạn
đi trung quân. Còn
phía sau là dân quân
vận tải lương thực đi
theo. Quân đi đến
Hai Bà Trưng qua tranh dân gian
đâu người theo đến
đấy như đi trẩy hội.
Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, Tô Định kinh hoàng
phải trốn chạy về Nam Hải để chịu tội với vua Hán:
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên
Hồng quân nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đọc lại vần thơ mà chúng ta tưởng như còn nghe tiếng ngựa hí,
quân reo của ngàn xưa vọng lại. Nghĩa quân đi đến đâu, giặc khiếp
sợ bỏ chạy đến đó. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố… cũng
đều nhất tề nổi dậy theo lời kêu gọi của Hai Bà. Chỉ trong một thời
gian ngắn, nghĩa quân đã lấy lại được 65 huyện thành! Chính quyền
đô hộ ngót 150 năm của nhà Hán sụp đổ trong chớp mắt! Tài cầm
quân của chị em Bà Trưng thật đáng khâm phục.
Sau chiến thắng oanh liệt này, Hai Bà được nhân dân suy tôn làm
vua, xưng là Trưng Vương. Để phòng ngự, Hai Bà đã phong nữ tướng
Thánh Thiên làm Thái bảo chư hầu - đóng quân trấn giữ Hợp Phố - đề
phòng ở phía bắc; phong cho Đô Lương làm trấn thủ Cửu Chân, Nhật
Nam - đề phòng giặc đi đường biển từ phía nam đánh lên; phong nữ
13
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
tướng Lê Chân làm thống xuất quân đội ở Giao Chỉ. Còn Hai Bà đóng
đô ở Mê Linh và 2 năm liền xá thuế cho dân. Với chiến thắng này,
Lịch sử Việt Nam (NXB KHXH - 1971) có lời bình luận xác đáng: “Cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nổ ra làm chấn động cả trời Nam. Từ trong
ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy, tỏa ra chân lý lịch sử này: Một dân
tộc dù nhỏ nhưng tự mình đã dựng nên và làm chủ đất nước với số phận
mình, là bất khuất. Không một sức mạnh nào tiêu diệt được nó. Cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm,
lúc công khai của nhân dân Việt Nam. Đấy là một phong trào nổi dậy của
toàn dân, vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề
xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ”.
Nhận được tin thắng trận của Hai Bà Trưng, vua nhà Hán vô cùng
tức giận liền sai Phục Ba tướng quân là Mã Viện đem hơn một vạn
quân tinh nhuệ sang cướp lại nước ta. Mã Viện vốn là danh tướng của
nhà Đông Hán. Thời trai trẻ, y thường nói: “Làm trai ở đời phải nên
lập công nơi biên ải, nên để cho da ngựa bọc thây mang về. Chứ chết
trong tay đàn bà con trẻ ở chốn cố hương thì nào có ích gì!”. Tháng 4
năm 42, Mã Viện hùng hổ kéo quân vượt biên giới. Khi vừa tới Hợp
Phố, nữ tướng Thánh Thiên đã nhanh chóng bất ngờ đánh tập kích,
Mã Viện phải cho lui quân rồi ngầm qua Quỷ Môn Quan (ải Chi Lăng)
lên xuống vùng Lục Đầu rồi tiến ngược lên Lăng Bạc (Tiên Sơn - Hà
Bắc). Như vậy, ngay từ lúc mới chân ướt chân ráo ló mặt sang biên
giới, quân tinh nhuệ Mã Viện đã bị đánh một trận đích đáng.
Nghe tin Mã Viện đang ở Lãng Bạc, Hai Bà Trưng cùng nữ tướng
Lê Chân liền đem quân nghênh chiến - nhằm chủ động đánh giặc từ
xa để bảo vệ quốc đô Mê Linh. Quân giặc do hành quân đường xa,
chưa kịp nắm được địa hình, địa vật nên đã nao núng trước sức tấn
công của khởi nghĩa. Bấy giờ, thời tiết đang chuyển dần sang mùa hè
nóng bức, giặc không chịu được phong thổ càng đâm ra chán ngán.
Chính Mã Viện sau này có tâm sự với bọn tướng sĩ dưới quyền rằng:
- Ngày trước khi ta còn hàn vi, muốn lập nghiệp lớn, em họ ta là
Thiếu Du thương ta vất vả có bảo rằng: “Người ta ở đời miễn là được
cơm no áo ấm. Ham giàu sang, thích sự nghiệp chỉ khổ mình thôi!”.
14
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
Ta không cho thế là phải. Nhưng lúc sang Giao Chỉ ở miền Lãng Bạc,
đóng quân nơi đất lạ, giặc chưa diệt được mà trời thì dưới nước lụt,
nên mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, ngẩng trông lên thấy chim
diều hâu đang bay sà xuống nước chết, ngẫm lại lời của Thiếu Du
mới thấy là đúng.
Những lời của chính Mã Viện thốt ra, chứng tỏ danh tướng của nhà
Đông Hán khi giao chiến với Hai Bà Trưng cũng phải hoang mang,
khiếp sợ. Dù vậy, lực lượng của giặc còn đông, thạo nghề cung kiếm
nên cuối cùng chúng cũng giành được thế áp đảo. Hai Bà Trưng cho
lui quân về Cấm Khê (nay thuộc huyện Yên Lạch - Vĩnh Phúc). Mã
Viện đem quân đuổi theo. Những trận đánh long trời lở đất lại nổ ra.
Ở nhiều chiến tuyến khác, các nữ tướng của Hai Bà Trưng cũng anh
dũng chống cự. Để tiếp ứng cho Hai Bà Trưng, nữ tướng Thánh Thiên
và bảo tướng Đô Lương kéo quân chi viện, nhưng chưa đến nơi thì bị
giặc đánh tan tác. Còn nữ tướng Lê Chân cho quân lấp suối ngăn sông
để chặn đường tiến của giặc. Nhưng rồi, vì sức yếu, quân ta trên các
chiến tuyến khác đều tan vỡ. Để giữ toàn vẹn khí tiết của bậc nữ lưu
anh hùng, khi chạy về đến xã Hát Môn (nay thuộc huyện Phú Thọ,
Hà Tây), Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống sông Hát Giang (nơi sông
Đáy tiếp giáp với sông Hồng Hà) để tự vận. Về sau các nữ tướng của
Hai Bà Trưng cũng chọn cái chết oanh liệt như thế.
Về thời gian Hai Bà Trưng hy sinh thì theo truyền thuyết dân gian
là ngày mồng 8-3, nên ở đền Hát Môn diễn ra lễ hội vào ngày này.
Nhưng một số đền lại thờ vào ngày khác. Chẳng hạn đền Đông Nhân
(Hà Nội) lại mở hội vào ngày mồng 6-2 vì ngày này theo truyền thuyết
của làng, Hai Bà Trưng đã hóa ra tượng gỗ nổi trên mặt nước trôi qua
làng và được dân làng vớt về thờ. Còn theo thần tích của đền Gia Phúc
(huyện Vĩnh Lạc - Vĩnh Phúc) thì khi gieo mình xuống dòng Hát Giang,
hai giải yếm của Hai Bà trôi trên sông Nguyệt Đức, được nhân dân nơi
đây vớt lên để thờ. Hoặc truyền thuyết dân gian vùng Vĩnh Phú lại
cho rằng, khi thua trận, Hai Bà đã ngự giá lên núi Hy Sơn rồi biến mất.
Những truyền thuyết này cho thấy nhân dân ta rất ngưỡng mộ và tôn
kính Hai Bà Trưng. Hiện nay, tại đền Gia Phúc còn có bức hoành phi
15
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
ghi câu: “Lạc Hồng chính
thống”, đền Xuân Đài lại
ghi “Nữ Trưng anh kiệt”.
Nhiều người vẫn còn nhớ
câu đối rất hay ở đền Gia
phúc:
- Đại tướng quân quyền,
lục thập dư thành quy
thống nhất;
Vi anh hùng chúa, tứ
thiên niên quốc chính
khai tiền.
(Cầm quyền đại tướng,
hơn sáu mươi thành thu
về một mối;
Làm chúa anh hùng,
bốn ngàn năm độc lập
mở màn đầu).
Lễ hội Hai Bà Trưng trước năm 1945
- Trâm hoa tự tướng tôi
Tô Mã;
Cổn miện xưng vương kế Lạc Hồng.
(Bậc nữ nhi làm tướng đánh đuổi Tô Định và Mã Viện
Áo mão lên ngôi vua, nối tiếp dòng dõi Lạc Hùng).
Các câu đối, hoành phi này đã nêu lên chiến công hiển hách của
Hai Bà Trưng - những người phụ nữ anh hùng đã kế tiếp được truyền
thống dựng nước và giữ nước của các vua Hùng. Hiện nay, trên toàn
khu vực sông Hồng chỉ mới tìm thấy hai tấm bia ca ngợi công đức
của Hai Bà Trưng. Cả hai tấm bia này đều có tên là “Trưng Vương sự
tích bi ký” và đặt tại đền Đồng Nhân (Hà Nội). Bia thứ nhất do tiến
sĩ Vũ Hoán Phủ (tức Vũ Tông Phan), hiệu Đường Xuyên soạn năm
1840, trong đó có câu như:
“Trí tuệ như thế ai mà sánh kịp, tài lược như thế ai mà sánh kịp,
nghĩa khí như thế ai mà sánh kịp. Chị em một nhà, anh hùng muôn
16
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
thuở, Hai Bà quả là bậc người hiếm có trong nữ giới và việc làm của
Hai Bà cũng khó mà có được trong nữ lưu.
Các đấng trượng phu làm việc vốn không cần bàn luận thành bại,
mà việc làm của Hai Bà lại không nên lấy thành bại để luận bàn.
Nghìn đời sau, đọc trong sử cũ, khiến mọi người đều tăng thêm chính
khí. Đến bản triều, Hai Bà vẫn được thờ cúng ở các đền miếu của các
triều vua. Ngoài ra, miếu thờ Hai Bà đâu cũng có, ấy là do uy thiêng
của Hai Bà lưu truyền lại”. (Bản dịch của Lê Thước và Trần Huy Bá).
Còn tấm bia thứ hai do Đốc học Hà Nội là cử nhân Dương Duy
Thanh soạn năm 1848, trong đó có câu:
“Trong khoảng vũ trụ, sự nghiệp kỳ lạ phần nhiều sinh ra từ những
khách trượng phu. Phận gái mà làm nên sự nghiệp lạ, chẳng cũng là
bậc nữ trượng phu đó sao? Như thế lại càng đáng ghi lắm.
Nhớ Hai Bà Trưng, người Châu Phong, cha là Lạc tướng, tổ là Hùng
Vương. Kể về dòng dõi kẻ thường không sánh kịp. Huống nữa Hai
Bà đem tấm thân ngọc trắng giá trong, ôm cái chí tang bồng, hoài bão
không phải vừa. Hành động lớn lao chẳng ở đấy thì ở đâu?” (Bản dịch
của Hoa Bằng).
Tương truyền, đền thờ Hai Bà ở đâu cũng đều linh ứng. Đời vua
Lý Anh Tông (1138-1175) gặp năm trời đại hạn, ruộng đất không cày
cấy được, nhà vua sai Uy Tĩnh thiền sư đến đền Hai Bà để cầu mưa.
Quả nhiên hôm ấy trời mưa tầm tã, vua thấy linh ứng bèn ra lệnh xây
lại đền nguy nga hơn và phong tặng là Trinh linh nhị phu nhân. Đến
đời Trần lại gia phong là Uy liệt chế thắng Thuần Trinh, Bảo Thượng
lưỡng phu nhân. Với truyền thống cao đẹp “uống nước nhớ nguồn” ở
nước ta suốt bao thế kỷ nay, trong các lễ hội truyền thống tưởng nhớ
công lao các vị anh hùng dân tộc, có lễ hội Hai Bà Trưng diễn ra ở
ba nơi: Hội đền Hát Môn ngày 8-3, giỗ Vua Bà; ngày 4-9 hội quân, lập
đàn thề; ngày 24 tháng chạp hội mừng thắng trận. Còn Hội đền Hạ Lôi
(xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) tổ chức ngày 6 tháng giêng
có lễ khao quân, rước kiệu… và Hội đền Đồng Nhân (phường Đồng
Nhân, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội) diễn ra từ ngày 3 đến 6-2 hằng
17
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
năm. Đặc biệt ở hội đền Hát Môn, trong lễ vật cúng Hai Bà có bánh
trôi -tục gọi là bánh tù tì - xuất phát từ truyền thuyết khi quân của
Hai Bà Trưng chuẩn bị khởi nghĩa, có một bà lão nghèo đã dâng cả
hàng bánh trôi để ủng hộ. Hai Bà đã vui vẻ nhận và chia cho quân sĩ
cùng ăn trước lúc ra trận.
Còn tướng giặc Mã Viện, sau khi cướp được nước ta, y cho dựng
cây cột đồng có khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cây trụ
đồng đổ thì người Giao Chỉ tuyệt diệt). Hiện nay, không rõ cây trụ
đồng ấy chỗ nào, vì mỗi người đi qua đều ném vào một hòn đá, lâu
ngày, biến thành gò đá, xóa mất dấu tích! Cho dù cây trụ đồng mất
đi, nhưng tội ác của Mã Viện khi chỉ huy cuộc viễn chinh xâm lược
vẫn còn đó. Và ngàn năm sau vẫn còn đó chiến công hiển hách của
người phụ nữ Việt Nam dám đứng lên phất cờ lật đổ ách thống trị của
kẻ thù phương Bắc! Chiến công này có tầm vóc rất quan trọng trong
lịch sử nước nhà. Nhà sử học Nguyễn Văn Tố đã từng nói: “Bổn phận
chúng ta là phải tôn Hai Bà Trưng lên bậc liệt nữ thứ nhất của nước
nhà và ghi năm 40-43 vào Niên biểu chính. Mỗi khi chép sử hay dạy
Đền thờ Hai Bà Trưng (Ảnh: Võ An Ninh)
18
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
sử, nghĩa vụ của ta là phải nhớ lấy rằng trừ thời lập quốc ra không
kể, nước Nam ta đã có tinh thần tự chủ ngay từ hồi Hai Bà Trưng,
tức là từ đầu thế kỷ thứ nhất, chứ không phải từ thời Tiền Lý về thế
kỷ thứ VI”. Và trong tập thơ Vịnh sử thi tập của tiến sĩ Đặng Minh
Khiêm - người mở đầu cho loại thơ vịnh sử Nam bằng chữ Hán - viết
từ thế kỷ XV có bài tứ tuyệt vịnh Hai Bà Trưng rất hay:
Sinh tiền dũng mãnh nêu Mai Lĩnh
Hiển thánh làm mưa lại có công
Dòng dõi Mê Linh dòng võ tướng
Nữ nhi liệu được mấy anh hùng?
(Bản dịch của Tổng tập văn học
Việt Nam, tập 6)
19
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
LÊ CHÂN
Vâng mệnh vương, dẹp xâm lăng,
lừng danh nữ tướng
Hải Phòng là thành phố cảng
nằm bên bờ vịnh Bắc bộ. Hải cảng
của thành phố này được xây dựng
từ năm 1876 và cũng là một trong
những thương cảng lớn của đất
nước ta. Nhớ đến Hải Phòng, lập
tức trong trí nhớ của ta vang lên
giai điệu “Thành phố hoa phượng
đỏ” của nhạc sĩ Lương Vĩnh (phổ
thơ Hải Như) da diết và nồng ấm
tình cảm: “Tháng năm, rợp trời hoa
phượng đỏ. Ôi! Hải Phòng thành phố
quê hương. Ta yêu thành phố quê ta
như yêu chính người thương yêu nhất.
Những hẹn hò bên bờ sông Lấp, những
con đường tấp nập áo thợ ngày đêm,
Tượng thờ bà Lê Chân
tại đền Nghè (Hải Phòng)
những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào,
Cầu Đất, Lạc Viên... Những cái tên
nghe chẳng thơ đâu, nhưng với ta vô cùng oanh liệt. Ôi! Thân thiết tự hào
quê hương...”. Niềm tự hào ấy sáng mãi theo năm tháng. Và càng tự
hào hơn khi ta biết người đầu tiên mở đất và dựng lên trang sử oanh
20
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
liệt trên đất Hải Phòng chính là một nữ tướng. Bà tên là Lê Chân - một
tướng tài của Hai Bà Trưng, được tấn phong là Thánh Chân công chúa.
Theo bản thần tích hiện còn lưu giữ ở Đền Nghè (thuộc quận Lê
Chân), Lê Chân là con ông Lê Đạo (có tài liệu ghi Lê Thái Bảo) và
bà Trần Thị Châu (có tài liệu ghi Hoàng Thị Châu), quê ở An Biên,
huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương (nay thuộc xã An
Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Sống trong làng, ông bà
Lê Đạo luôn được láng giềng quý mến, kính trọng, bởi họ lấy nghề
làm thuốc làm mục đích cứu nhân độ thế và thường đóng góp tiền
của để làm cầu đường, tô tượng đúc chuông... Thế nhưng ngoài bốn
mươi xuân họ vẫn chưa có con nối dõi.
Theo thần tích “Một hôm ông bà tới chùa Yên Tử cầu Phật, rồi mơ
thấy một thiên sứ nói rằng, Ngọc Hoàng sẽ cho một vị tiên nữ giáng
trần, làm con trong bốn mươi năm, gia đình sẽ được vinh hiển. Rồi một
hôm bà dậy sớm ra đồng, thấy một dấu chân to, bèn ướm chân mình
vào, trở về cảm động mà có thai, mãn kỳ kinh sinh ra một gái (ngày
8 tháng 2) cực kỳ sinh đẹp, bà nhớ tới dấu chân, bèn đặt tên Chân”.
Thương con, ông bà Lê Đạo đã mời thầy về dạy dỗ cho con thành tài.
Không chỉ xinh đẹp, Lê Chân còn sáng trí, thông minh, học một biết
mười, học đến đâu nhớ đến đó và nổi tiếng nhất trong vùng về “đàn,
thơ, cung, kiếm”. Quả là một trang nữ nhi tài sắc vẹn toàn. Lớn lên, Lê
Chân càng xinh đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”, đến nỗi “chim sa,
cá lặn, nguyệt thẹn, hoa nhường”.
Lúc Lê Chân lớn lên trong sự đùm bọc, yêu thương của cha mẹ
nước nhà đã mất vào tay giặc phương Bắc.
Trong lịch sử nước ta, thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất bắt đầu từ năm
111 trước Tây lịch. Đó là năm vua Vũ đế nhà Hán sai quân sang đánh
nhà Triệu, lấy nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ bộ và chia làm 9
quận. Mỗi quận có một quan thái thú cai trị và lại có quan thứ sử giám
sát các quận. Năm 34, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm thái thú
quận Giao Chỉ. Tô Định là kẻ tàn bạo, tham lam, ngay cả sử nhà Hán
cũng đánh giá y là kẻ “thấy tiền là giương mắt lên”. Không chỉ thế, y
21
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
còn hoang dâm, háo sắc. Tiếng đồn về tài sắc cô con gái của ông bà họ
Lê đã đến tai Tô Định, lập tức, y muốn cưỡng làm tì thiếp. Trước thái
độ nghênh ngang, hống hách của y, Lê Chân đã bỏ trốn. Điên cuồng
như chó dại, không cướp được nhan sắc của của giai nhân, y hèn hạ tìm
cách ám hại ông bà Lê Đạo. Hành động tàn ác của y đã khiến Lê Chân,
dù “yểu điệu thục nữ” nhưng cũng quyết nuôi chí phục thù.
Biết không thể đối đầu cùng lực lượng hùng mạnh, Lê Chân tìm
cách trốn thoát đến nơi khác lập nghiệp. Với những người cùng chí
hướng, cùng mang nặng tâm tư thù nhà, nợ nước, không thể đội trời
chung với tên thái thú lòng lang dạ sói Tô Định, Lê Chân đã giong
thuyền đến vùng đất An Dương - cạnh sông Cửa Cấm (Hải Phòng
ngày nay). Thấy nơi này đất đai màu mỡ, sông ngòi chằng chịt, lau
sậy um tùm, địa thế hiểm trở, thuận tiện cho việc lập căn cứ chống
giặc bà đã quyết định ở lại. Bà là người trước nhất nhìn thấy nơi này
có vị trí quan trọng trong việc xây dựng căn cứ quân sự cũng như
tăng gia sản xuất, có thể đảm bảo được công tác hậu cần nếu tiến
hành cuộc kháng chiến lâu dài. Vì thế, bà cho người tìm về quê cũ
đón gia quyến và người thân tới để xây dựng trang ấp mới. Nhớ quê
cũ bà đặt tên cho quê mới là An Biên. Nghe tin, nhiều nam thanh nữ
tú vùng Đông Triều, Kinh Môn, Thủy Nguyên... đã tìm đến hội tụ
dưới cờ nghĩa của bà.
“Với sức người sỏi đá cũng thành cơm”, dăm năm sau, vùng đất
hoang vu này đã trở thành nơi sầm uất, khách thập phương nườm
nượp tìm đến giao thương, buôn bán. Không những thế, bà còn ngầm
liên kết với các hào kiệt xa gần để tạo nên một thế lực vững mạnh.
Những dân quân dưới quyền của bà, thời bình là những người “tay
cày tay cuốc” làm ra lúa gạo, nhưng trong thời chiến lại là những
nghĩa quân dũng cảm cầm vũ khí đối đầu với “hòn tên mũi đạn”.
Họ được huấn luyện thông thạo về thủy chiến, để tùy lúc có thể phối
hợp với bộ binh đánh tan những âm mưu của giặc. Sự lớn mạnh của
vùng đất này, không thể lọt ra khỏi tầm mắt của Tô Định. Y đã sai
quân đến đến bao vây, nhưng do cảnh giác nên nghĩa quân đã phát
hiện và chủ động đánh trả oanh liệt. Quân giặc Hán khiếp sợ tài cầm
q...
Lê Minh Quốc
Các vị nữ danh nhân Việt Nam / Lê Minh Quốc. - Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009
270tr. ; 24cm. - (Kể chuyện danh nhân Việt Nam ; T.8)
1. Danh nhân -- Việt Nam. 2. Nữ anh hùng -- Việt Nam. I. Ts.
959.7092 -- dc 22
L433-Q16
nhà xuất bản trẻ
HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
161b Lý Chính Thắng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 9316211 - 8465595 - 8465596 - 9316289
Fax: 84.8.8437450
E-mail: nxbtre@hcm.vnn.vn
Website: http://www. nxbtre.com.vn
4
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử bốn ngàn năm giữ nước và dựng nước, đất nước ta đã
xuất hiện nhiều phụ nữ anh hùng và tài hoa. Họ có những đóng góp
quan trọng, có thể sánh với nam giới, thậm chí còn hơn cả nam giới ở
một vài lĩnh vực nào đó. Đây là điều rất đáng tự hào. Lâu nay, chúng
ta vẫn ý thức rằng, không có mặt trời thì hoa không nở, không có phụ
nữ không có thế giới. Do đó, tìm hiểu vai trò và sự đóng góp của phụ
nữ ở bất cứ thời điểm nào cũng là điều cần thiết và qua đó, chúng ta có
thể học tập ở họ những đức tính cao quý khác mà nam giới khó có thể
sánh được. Khi biên soạn tập sách Các vị nữ danh nhân Việt Nam,
nhà thơ Lê Minh Quốc cố gắng đóng góp phần nhỏ vào mục đích trên.
Tuy nhiên, do khuôn khổ có hạn, trước mắt tập sách đề cập đến
những vị nữ danh nhân như chị em Hai Bà Trưng đã khởi binh đánh
đuổi giặc phương Bắc, nói như sử gia Lê Văn Hưu thì Hai Bà đã
“xưng vương dễ như trở bàn tay” và “trong khoảng hơn nghìn năm,
bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há
chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao?”. Nữ tướng
Lê Chân, chiến đấu dưới ngọn cờ chính nghĩa của Hai Bà Trưng, lập
nên những chiến công hiển hách và được tấn phong là Thánh Chân
công chúa. Nhưng đến nay ít người biết rằng, chính bà là người phụ
nữ đầu tiên mở đất Hải Phòng và dựng lên trang sử oanh liệt. Những
phụ nữ bước ra chiến trường như thế không hiếm trong lịch sử nước
ta, ta còn có thể kể đến Bà Triệu - người đã thể hiện khí phách của
mình: “muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở
biển Đông” mà không phải đấng nam nhi nào cũng có được.
Nhìn suốt chiều dài của lịch sử, ta nhận thấy hình ảnh người phụ
nữ trong thế kỷ XX đã có nhiều bước tiến bộ khác trước rất nhiều, họ
5
không còn phải ru rú trong xó bếp với quan niệm cổ hủ “Nhất nam viết
hữu, thập nữ viết vô” mà đã ý thức bước ra ngoài xã hội, cùng nam
giới đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Nhà văn hóa Nguyễn
Đổng Chi cho rằng: “Lịch sử văn hóa, tư tưởng Việt Nam trước, nay
và sau có thể tóm tắt bằng một chữ đánh”. Sau truyền thống đánh giặc
của Bà Trưng, Bà Triệu… Sau này chúng ta lại có hàng loạt những
phụ nữ nối tiếp truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó
là vợ ba Cai Vàng, nữ tướng Bùi Thị Xuân, liệt nữ Cô Giang, liệt nữ
Trần Thị Trâm, Lê Thị Đàn, Võ Thị Sáu, nữ tướng Nguyễn Thị Định.
Những tấm gương hy sinh oanh liệt hoặc mưu trí trong lúc cầm quân
của họ muôn đời sau vẫn còn khiến mọi người khâm phục.
Tùy theo điều kiện, mỗi phụ nữ có cách chọn lựa khác nhau đặng
cống hiến nhiều nhất tài năng của mình cho đất nước, cho cộng đồng.
Nếu bà Nguyễn Thị Minh Khai trực tiếp tham gia Nam kỳ khởi nghĩa
thì bà Cao Thị Khanh, bà Đạm Phương nữ sử... chiến đấu trên diễn đàn
văn chương, báo chí; bà Năm Phỉ hoạt động lãnh vực sân khấu... Cho
đến nay cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn là điểm son chói lọi trong lịch
sử nước nhà, nó đã chứng minh tấm lòng yêu nước của con dân dưới
ách nô lệ quyết đòi quyền sống, dù phải hy sinh tính mạng... Trong
tập sách này chúng tôi cũng đề cập đến những phụ nữ tiêu biểu khác
như mẹ Suốt, tên gọi thân thương dành cho bà mẹ có cái tên bình dị
là Nguyễn Thị Suốt, quê ở Quảng Bình, đã chèo đò đưa bộ đội qua
sông dưới bom đạn Mỹ mà không run sợ. Sự đóng góp của mẹ đã được
Quốc hội nước ta tuyên dương Anh hùng. Có thể khẳng định, trong
cuộc kháng chiến thần kỳ vừa qua, mỗi người Việt Nam yêu nước, từ
nhiều góc độ khác nhau đã có những cách đóng góp riêng. Với suy
nghĩ đó, chúng tôi còn đề cập đến Ni trưởng Huỳnh Liên; hoặc một
nữ sinh Sài Gòn chọn cái chết là tự thiêu để phản đối chiến tranh phi
nghĩa, đánh thức lương tri yêu chuộng hòa bình của loài người. Đó là
chị Phan Thị Mai mà hiện nay bút hiệu của chị được đặt tên đường:
Nhất Chi Mai.
Chúng tôi cũng không quên những bậc nữ lưu nổi tiếng trong các
lĩnh vực khác. Đó là thiền sư Diệu Nhân ở thế kỷ XI, với bài kệ nổi
6
tiếng để lại cho đời sau, được giới nghiên cứu văn học nước nhà xếp
vào các nữ tác gia tiêu biểu của đời Lý. Hoàng thái hậu Ỷ Lan, người
được nhân dân đồng hóa với nhân vật cô Tấm trong cổ tích và cũng
là người giúp vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông trong việc trị nước.
Bà Nguyễn Thị Duệ uyên bác đời nhà Mạc - một người phụ nữ đầu
tiên thi đậu Tiến sĩ trong lịch sử khoa bảng Việt Nam. Cho dù trong
xã hội thời trước người phụ nữ không có cơ hội lều chõng để đem tài
năng ra giúp nước, nhưng bà đã giả trai để ra thi thố với các đấng
mày râu đương thời!
Ta còn có thể kể đến nữ sĩ Đoàn Thị Điểm - một trong những người
đã có công dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm từ chữ Hán ra chữ Nôm.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương với những bài thơ sử dụng ngôn ngữ dân tộc
đạt đến đỉnh cao, nhà thơ Xuân Diệu và người đời sau ca ngợi là “Bà
chúa thơ Nôm”. Bà Huyện Thanh Quan - nữ sĩ tài hoa với những áng
thơ trang nhã, điêu luyện mà nhiều thế hệ sau vẫn còn thuộc nằm lòng.
Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh - con gái của cụ Đồ Chiểu, người phụ nữ
tiết hạnh đã đứng ra làm tờ báo Nữ giới chung đầu tiên dành cho nữ
giới. Cũng trong giai đoạn này, ta còn có thể kể đến bà Bang Nhãn
một nữ sĩ tiêu biểu của đất Quảng Nam ở giữa thế kỷ XIX mà lâu
nay do thiếu tài liệu nên chưa nhiều người biết đến. Tất nhiên chúng
tôi không thể không đề cập đến vai trò của bà Từ Dũ - người mẹ đã
nghiêm khắc lấy lòng nhân dạy con nên người - dù người con ấy là vua
Tự Đức mà lịch sử còn phán xét, nhưng đức độ của bà rất tiêu biểu
cho hình ảnh các bà mẹ Việt Nam trong phép dạy con. Do đó, không
phải ngẫu nhiên mà bệnh viện sản phụ lớn nhất tại TP. Hồ Chí Minh
đã đặt tên của bà như một sự nhắc nhở cho các bà mẹ tương lai trong
ý thức giáo dục con sau này.
Thật đáng kính phục cho tấm lòng nhân hậu của người phụ nữ
Việt Nam, có người dù không phải là bậc nữ sĩ có nhiều áng văn bất
hủ trong văn học sử, hoặc là người cầm quân thao lược đánh đông dẹp
bắc, nhưng đời sau vẫn nhớ mãi vì đã để lại cho hậu thế tấm gương
sáng về việc làm từ thiện. Người đó là bà Cả Mọc và bà cũng là người
đầu tiên thành lập Hội Tế Sinh nuôi dưỡng trẻ em ở Hà Nội mà trong
7
tác phẩm của mình nhà văn Vũ Trọng Phụng đã ca ngợi bà với tất cả
sự ngưỡng mộ v.v...
Xin được nhắc lại, Các vị nữ danh nhân Việt Nam là tập sách sách
thuộc bộ KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM do nhà thơ Lê
Minh Quốc biên soạn. Đến nay, theo yêu cầu của độc giả, Nhà Xuất
Bản Trẻ đã xuất bản các tập Danh nhân khoa học, Danh nhân quân
sự, Các vị tổ ngành nghề, Danh nhân sư phạm, Các vị nữ danh nhân,
Những nhà cải cách, Danh nhân cách mạng, Những người Việt Nam
đi tiên phong, Danh nhân văn hóa. Điều này cho thấy bạn đọc trẻ
ngày nay vẫn quan tâm đến nhân vật và sự kiện của lịch sử nước nhà.
Để bộ sách thật sự hữu ích cho bạn đọc - nhất là các bạn thanh thiếu
niên - chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo, giúp đỡ chân tình của các
học giả uyên bác, của các nhà sử học và của các bạn đọc xa gần để bộ
sách này ngày một hoàn hảo hơn. Trước hết xin quý độc giả ghi nhận
nơi đây sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
8
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
HAI BÀ TRƯNG
Bậc liệt nữ đầu tiên
trong lịch sử nước nhàø
Bà Trưng quê ở Phong Châu
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Những câu thơ trong Đại Nam quốc sử diễn ca tưởng chừng còn âm
vang mãi, đọc hoài vẫn không chán, nghe mãi vẫn thấy hay. Chiến
công của bậc nữ lưu đầu tiên trong lịch sử nước ta vẫn còn chói lọi đến
thiên thu. Sử gia Lê Văn Hưu đã bình luận những câu sắc bén: “Trưng
Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật
Nam, Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng
nước, xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thể nước Việt
ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến
trước nhà Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi
đầu bó tay làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai
chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình
9
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
vậy”. Thật vậy, ngay từ năm 221 trước công nguyên, nhà Tần sau khi
thống nhất toàn Trung Quốc đã đem 50 vạn quân xâm lược phương
Nam. Chẳng bao lâu, nhà Tần suy yếu, nhà Hán lên chiếm ngôi báu.
Lợi dụng thời thế loạn lạc, viên quan nhà Tần là Triệu Đà chiếm giữ cả
ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng, lập nước Nam Việt. Sau đó Triệu
Đà cầm quân đi đánh nước Âu Lạc ta, nhưng đánh mãi không xong
vì ngoài tinh thần quật khởi dân tộc ta còn có thành Cổ Loa kiên cố,
có nỏ thần Kim Quy. Vì vậy, Triệu Đà xảo quyệt dùng kế hoãn binh
với An Dương Vương, rồi lập mưu đánh cắp nỏ thần. Nhờ vậy, Triệu
Đà mới chiếm được nước Âu Lạc rồi sát nhập vào Nam Việt - chia làm
hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Từ năm 111 trước công nguyên vua
Vũ Đế nhà Hán sai hai chục vạn quân sang đánh nhà Triệu và sau
khi chiếm được nước Nam Việt, chúng đổi thành Giao Chỉ bộ rồi chia
làm 9 quận. Từ đó cho đến năm 39 sau công nguyên, là thời kỳ mà
sử nước ta gọi là thời kỳ “Bắc thuộc lần thứ nhất”. Dưới ách thống
trị tàn khốc của nhà Hán,
dân tộc ta không ngừng
đứng lên đấu tranh giành
độc lập dân tộc. Ròng rã
suốt 150 năm đó, tinh hoa
và khí phách của dân tộc
đã hun đúc nên tinh thần
quyết chiến quyết thắng
mà đỉnh cao chính là cuộc
khởi nghĩa của chị em Hai
Bà Trưng ở Mê Linh (tức
vùng Hạ Lôi, huyện Yên
Lãng - Vĩnh Phú ngày
nay).
Theo thần tích và
truyền thuyết thì mẹ Hai
Bà Trưng là bà Man Thiện cháu chắt bên ngoại Hùng
Vương. Dù góa chồng
Tượng thờ Bà Trưng Trắc
10
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
sớm, nhưng bà vẫn đảm
đang việc nuôi dạy hai
con theo tinh thần yêu
nước và thượng võ. Gia
đình bà sống bằng nghề
nuôi tằm, kéo tơ, do
đó, khi sinh con, bà đã
đặt tên con đầu là Trắc
(trứng chắc) và con thứ
là Nhị (trứng nhì). Nhờ
sự chăm sóc chu đáo
của mẹ, hai chị em lớn
lên đều khỏe mạnh, giỏi
võ nghệ, tính khí hùng
dũng. Bấy giờ, nước
Nam Việt ta đã bị nhà
Hán xâm lược, chúng
đổi tên là Giao Chỉ và
chia làm chín quận.
Tượng thờ Bà Trưng Nhị
Đứng đầu mỗi quận có
một viên Thái thú trông
coi về chính trị và một viên Đô úy chỉ huy lực lượng quân sự. Năm
34, vua Hán Quang Vũ sai Tô Định sang làm Thái thú quận Giao Chỉ.
Hắn vốn là kẻ tham lam, độc ác nên ai ai cũng oán giận. Trong khi
đó, đến tuổi thanh xuân, bà Trưng Trắc đã kết hôn với Thi Sách (1) con
trai lạc tướng ở Chu Diên (tức vùng nằm dọc sông Đáy, sông Hồng
ngày nay). Cuộc hôn nhân này khiến Tô Định giật mình vì biết rằng
đằng sau đó là sự liên kết giữa hai thế lực của hai vùng đất rộng lớn
nhằm lật đổ ách thống trị của nhà Hán. Do đó, Tô Định đột ngột đem
quân về Chu Diên bắt giết Thi Sách. Vốn là con nhà tướng, từ lâu căm
1 Về tên chồng bà Trưng, gần đây có nhà nghiên cứu căn cứ vào sách Thủy kinh chú, Hậu Hán
thư cho rằng tên là Thi, chứ không phải là Thi Sách. (Phương pháp sử học, NXB Sao Mai 1974, của
Nguyễn Phương và tạp chí Kiến thức ngày nay số ra ngày 10-3-1998). Vấn đề này giới sử học chưa
có ý kiến chính thức. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nêu ra để bạn đọc tham khảo, khi tiếp cận thông tin
mới trong vấn đề sử học.
11
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
thù nhà Hán nên hai chị em bà Trưng nhân cơ hội này dấy binh khởi
nghĩa. Như vậy, hành động chính nghĩa của Hai Bà vừa vì tình riêng
mà cũng vừa vì nghĩa lớn. Trưng Nhị được cử đi liên hệ với hào kiệt
bốn phương, còn Trưng Trắc chiêu mộ binh sĩ luyện tập cung kiếm, võ
nghệ ngày đêm. Thiên hạ khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Điều lạ lùng
đáng khâm phục là dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng đã tập hợp được
nhiều nữ tướng như: Lê Chân, Bát Nạn, Nàng Nội, Lê Ngọc Trinh,
Thiền Hoa, Lê Thị Liễu, Ả Là, v.v… Đây không phải là những tên
tuổi được kể lại theo truyền thuyết mà những nữ tướng này hiện nay
còn được nhân dân ở các xã tại Vĩnh Phú lập miếu đền tưởng niệm.
Theo truyền thuyết dân gian thì nơi Hai Bà Trưng tập luyện binh
sĩ chính là tại xã Lâu Thượng gần Ngã Ba Hạc (Vĩnh Phú). Tại đây,
người dân kiêng “húy ngài”, nên từ “nhị” được nói lại thành “nhợi”
hay “nhội”. Còn làng Giỏ (xã Kinh Kệ, huyện Phong Châu) là nơi Hai
Bà Trưng đóng quân. Mùa xuân năm 40, Hai Bà ra quân để quét sạch
quân giặc Hán tham tàn. Trước hết, nghĩa quân đã vào viếng đền thờ
Xuân Dung, công chúa con vua Hùng, khấn các vua Hùng và công
chúa âm phù cho thắng trận. Sau đó, Hai Bà tiến quân về núi Hùng
làm lễ tổ tiên, Trưng Trắc đã đọc bốn lời thề mà dân gian còn ghi lại
trong Thiên Nam ngữ lục:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này
Sau lời phát nguyện này, tiếng chiêng, cồng, trống ầm ầm nổi lên(1).
Trên bành voi oai phong lẫm liệt, Hai Bà đã thúc quân ra trận. Theo
1 Theo Tạp chí Xưa & Nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (số 65 phát hành 7-1999) thì trong
quyển Hoàng bà Phả lục do tiến sĩ Phạm Quý Truật soạn đời Lê Cảnh Trị (1663-1671) có viết rằng
trước lúc xuất quân, Hai Bà Trưng đã đọc bài Hịch: “Nay Tô Định làm Thái thú Giao Châu, tham tài hiếu
sắc, hiếp vợ giết chồng, thần dân đều cùng oán giận, trời đất không thể dung tha.
Ta nay vâng mệnh trời, thuận lòng người, dấy nghĩa diệt loài vô đạo họ Tô, hào khí ngất trời, đuổi
giặc ngoại xâm giặc Hán, dựng cờ tự chủ ở nước Nam. Trống khuya quật cường vang bốn cõi.
Hịch văn đến đâu không kể thổ hào trai gái, đều nên tự khởi nghĩa binh, hãy chiếm lấy châu quận
phủ huyện hạt mình, cắt đứt viện trợ quân lương của giặc, sau sẽ chọn quân binh nhuệ đến Hát Môn
tiêu diệt giặc Hán.
Hịch này truyền ra toàn quốc đều rõ”.
12
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
kế hoạch, nữ tướng
Thánh Thiên và Lê
Chân đi tiền đạo
vây phủ Thái thú,
quyết bắt cho bằng
được tên Tô Định.
Hai Bà Trưng cùng
nữ tướng Bát Nạn
đi trung quân. Còn
phía sau là dân quân
vận tải lương thực đi
theo. Quân đi đến
Hai Bà Trưng qua tranh dân gian
đâu người theo đến
đấy như đi trẩy hội.
Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, Tô Định kinh hoàng
phải trốn chạy về Nam Hải để chịu tội với vua Hán:
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên
Hồng quân nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành
Đọc lại vần thơ mà chúng ta tưởng như còn nghe tiếng ngựa hí,
quân reo của ngàn xưa vọng lại. Nghĩa quân đi đến đâu, giặc khiếp
sợ bỏ chạy đến đó. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố… cũng
đều nhất tề nổi dậy theo lời kêu gọi của Hai Bà. Chỉ trong một thời
gian ngắn, nghĩa quân đã lấy lại được 65 huyện thành! Chính quyền
đô hộ ngót 150 năm của nhà Hán sụp đổ trong chớp mắt! Tài cầm
quân của chị em Bà Trưng thật đáng khâm phục.
Sau chiến thắng oanh liệt này, Hai Bà được nhân dân suy tôn làm
vua, xưng là Trưng Vương. Để phòng ngự, Hai Bà đã phong nữ tướng
Thánh Thiên làm Thái bảo chư hầu - đóng quân trấn giữ Hợp Phố - đề
phòng ở phía bắc; phong cho Đô Lương làm trấn thủ Cửu Chân, Nhật
Nam - đề phòng giặc đi đường biển từ phía nam đánh lên; phong nữ
13
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
tướng Lê Chân làm thống xuất quân đội ở Giao Chỉ. Còn Hai Bà đóng
đô ở Mê Linh và 2 năm liền xá thuế cho dân. Với chiến thắng này,
Lịch sử Việt Nam (NXB KHXH - 1971) có lời bình luận xác đáng: “Cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nổ ra làm chấn động cả trời Nam. Từ trong
ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy, tỏa ra chân lý lịch sử này: Một dân
tộc dù nhỏ nhưng tự mình đã dựng nên và làm chủ đất nước với số phận
mình, là bất khuất. Không một sức mạnh nào tiêu diệt được nó. Cuộc khởi
nghĩa của Hai Bà là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm,
lúc công khai của nhân dân Việt Nam. Đấy là một phong trào nổi dậy của
toàn dân, vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề
xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ”.
Nhận được tin thắng trận của Hai Bà Trưng, vua nhà Hán vô cùng
tức giận liền sai Phục Ba tướng quân là Mã Viện đem hơn một vạn
quân tinh nhuệ sang cướp lại nước ta. Mã Viện vốn là danh tướng của
nhà Đông Hán. Thời trai trẻ, y thường nói: “Làm trai ở đời phải nên
lập công nơi biên ải, nên để cho da ngựa bọc thây mang về. Chứ chết
trong tay đàn bà con trẻ ở chốn cố hương thì nào có ích gì!”. Tháng 4
năm 42, Mã Viện hùng hổ kéo quân vượt biên giới. Khi vừa tới Hợp
Phố, nữ tướng Thánh Thiên đã nhanh chóng bất ngờ đánh tập kích,
Mã Viện phải cho lui quân rồi ngầm qua Quỷ Môn Quan (ải Chi Lăng)
lên xuống vùng Lục Đầu rồi tiến ngược lên Lăng Bạc (Tiên Sơn - Hà
Bắc). Như vậy, ngay từ lúc mới chân ướt chân ráo ló mặt sang biên
giới, quân tinh nhuệ Mã Viện đã bị đánh một trận đích đáng.
Nghe tin Mã Viện đang ở Lãng Bạc, Hai Bà Trưng cùng nữ tướng
Lê Chân liền đem quân nghênh chiến - nhằm chủ động đánh giặc từ
xa để bảo vệ quốc đô Mê Linh. Quân giặc do hành quân đường xa,
chưa kịp nắm được địa hình, địa vật nên đã nao núng trước sức tấn
công của khởi nghĩa. Bấy giờ, thời tiết đang chuyển dần sang mùa hè
nóng bức, giặc không chịu được phong thổ càng đâm ra chán ngán.
Chính Mã Viện sau này có tâm sự với bọn tướng sĩ dưới quyền rằng:
- Ngày trước khi ta còn hàn vi, muốn lập nghiệp lớn, em họ ta là
Thiếu Du thương ta vất vả có bảo rằng: “Người ta ở đời miễn là được
cơm no áo ấm. Ham giàu sang, thích sự nghiệp chỉ khổ mình thôi!”.
14
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
Ta không cho thế là phải. Nhưng lúc sang Giao Chỉ ở miền Lãng Bạc,
đóng quân nơi đất lạ, giặc chưa diệt được mà trời thì dưới nước lụt,
nên mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, ngẩng trông lên thấy chim
diều hâu đang bay sà xuống nước chết, ngẫm lại lời của Thiếu Du
mới thấy là đúng.
Những lời của chính Mã Viện thốt ra, chứng tỏ danh tướng của nhà
Đông Hán khi giao chiến với Hai Bà Trưng cũng phải hoang mang,
khiếp sợ. Dù vậy, lực lượng của giặc còn đông, thạo nghề cung kiếm
nên cuối cùng chúng cũng giành được thế áp đảo. Hai Bà Trưng cho
lui quân về Cấm Khê (nay thuộc huyện Yên Lạch - Vĩnh Phúc). Mã
Viện đem quân đuổi theo. Những trận đánh long trời lở đất lại nổ ra.
Ở nhiều chiến tuyến khác, các nữ tướng của Hai Bà Trưng cũng anh
dũng chống cự. Để tiếp ứng cho Hai Bà Trưng, nữ tướng Thánh Thiên
và bảo tướng Đô Lương kéo quân chi viện, nhưng chưa đến nơi thì bị
giặc đánh tan tác. Còn nữ tướng Lê Chân cho quân lấp suối ngăn sông
để chặn đường tiến của giặc. Nhưng rồi, vì sức yếu, quân ta trên các
chiến tuyến khác đều tan vỡ. Để giữ toàn vẹn khí tiết của bậc nữ lưu
anh hùng, khi chạy về đến xã Hát Môn (nay thuộc huyện Phú Thọ,
Hà Tây), Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống sông Hát Giang (nơi sông
Đáy tiếp giáp với sông Hồng Hà) để tự vận. Về sau các nữ tướng của
Hai Bà Trưng cũng chọn cái chết oanh liệt như thế.
Về thời gian Hai Bà Trưng hy sinh thì theo truyền thuyết dân gian
là ngày mồng 8-3, nên ở đền Hát Môn diễn ra lễ hội vào ngày này.
Nhưng một số đền lại thờ vào ngày khác. Chẳng hạn đền Đông Nhân
(Hà Nội) lại mở hội vào ngày mồng 6-2 vì ngày này theo truyền thuyết
của làng, Hai Bà Trưng đã hóa ra tượng gỗ nổi trên mặt nước trôi qua
làng và được dân làng vớt về thờ. Còn theo thần tích của đền Gia Phúc
(huyện Vĩnh Lạc - Vĩnh Phúc) thì khi gieo mình xuống dòng Hát Giang,
hai giải yếm của Hai Bà trôi trên sông Nguyệt Đức, được nhân dân nơi
đây vớt lên để thờ. Hoặc truyền thuyết dân gian vùng Vĩnh Phú lại
cho rằng, khi thua trận, Hai Bà đã ngự giá lên núi Hy Sơn rồi biến mất.
Những truyền thuyết này cho thấy nhân dân ta rất ngưỡng mộ và tôn
kính Hai Bà Trưng. Hiện nay, tại đền Gia Phúc còn có bức hoành phi
15
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
ghi câu: “Lạc Hồng chính
thống”, đền Xuân Đài lại
ghi “Nữ Trưng anh kiệt”.
Nhiều người vẫn còn nhớ
câu đối rất hay ở đền Gia
phúc:
- Đại tướng quân quyền,
lục thập dư thành quy
thống nhất;
Vi anh hùng chúa, tứ
thiên niên quốc chính
khai tiền.
(Cầm quyền đại tướng,
hơn sáu mươi thành thu
về một mối;
Làm chúa anh hùng,
bốn ngàn năm độc lập
mở màn đầu).
Lễ hội Hai Bà Trưng trước năm 1945
- Trâm hoa tự tướng tôi
Tô Mã;
Cổn miện xưng vương kế Lạc Hồng.
(Bậc nữ nhi làm tướng đánh đuổi Tô Định và Mã Viện
Áo mão lên ngôi vua, nối tiếp dòng dõi Lạc Hùng).
Các câu đối, hoành phi này đã nêu lên chiến công hiển hách của
Hai Bà Trưng - những người phụ nữ anh hùng đã kế tiếp được truyền
thống dựng nước và giữ nước của các vua Hùng. Hiện nay, trên toàn
khu vực sông Hồng chỉ mới tìm thấy hai tấm bia ca ngợi công đức
của Hai Bà Trưng. Cả hai tấm bia này đều có tên là “Trưng Vương sự
tích bi ký” và đặt tại đền Đồng Nhân (Hà Nội). Bia thứ nhất do tiến
sĩ Vũ Hoán Phủ (tức Vũ Tông Phan), hiệu Đường Xuyên soạn năm
1840, trong đó có câu như:
“Trí tuệ như thế ai mà sánh kịp, tài lược như thế ai mà sánh kịp,
nghĩa khí như thế ai mà sánh kịp. Chị em một nhà, anh hùng muôn
16
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
thuở, Hai Bà quả là bậc người hiếm có trong nữ giới và việc làm của
Hai Bà cũng khó mà có được trong nữ lưu.
Các đấng trượng phu làm việc vốn không cần bàn luận thành bại,
mà việc làm của Hai Bà lại không nên lấy thành bại để luận bàn.
Nghìn đời sau, đọc trong sử cũ, khiến mọi người đều tăng thêm chính
khí. Đến bản triều, Hai Bà vẫn được thờ cúng ở các đền miếu của các
triều vua. Ngoài ra, miếu thờ Hai Bà đâu cũng có, ấy là do uy thiêng
của Hai Bà lưu truyền lại”. (Bản dịch của Lê Thước và Trần Huy Bá).
Còn tấm bia thứ hai do Đốc học Hà Nội là cử nhân Dương Duy
Thanh soạn năm 1848, trong đó có câu:
“Trong khoảng vũ trụ, sự nghiệp kỳ lạ phần nhiều sinh ra từ những
khách trượng phu. Phận gái mà làm nên sự nghiệp lạ, chẳng cũng là
bậc nữ trượng phu đó sao? Như thế lại càng đáng ghi lắm.
Nhớ Hai Bà Trưng, người Châu Phong, cha là Lạc tướng, tổ là Hùng
Vương. Kể về dòng dõi kẻ thường không sánh kịp. Huống nữa Hai
Bà đem tấm thân ngọc trắng giá trong, ôm cái chí tang bồng, hoài bão
không phải vừa. Hành động lớn lao chẳng ở đấy thì ở đâu?” (Bản dịch
của Hoa Bằng).
Tương truyền, đền thờ Hai Bà ở đâu cũng đều linh ứng. Đời vua
Lý Anh Tông (1138-1175) gặp năm trời đại hạn, ruộng đất không cày
cấy được, nhà vua sai Uy Tĩnh thiền sư đến đền Hai Bà để cầu mưa.
Quả nhiên hôm ấy trời mưa tầm tã, vua thấy linh ứng bèn ra lệnh xây
lại đền nguy nga hơn và phong tặng là Trinh linh nhị phu nhân. Đến
đời Trần lại gia phong là Uy liệt chế thắng Thuần Trinh, Bảo Thượng
lưỡng phu nhân. Với truyền thống cao đẹp “uống nước nhớ nguồn” ở
nước ta suốt bao thế kỷ nay, trong các lễ hội truyền thống tưởng nhớ
công lao các vị anh hùng dân tộc, có lễ hội Hai Bà Trưng diễn ra ở
ba nơi: Hội đền Hát Môn ngày 8-3, giỗ Vua Bà; ngày 4-9 hội quân, lập
đàn thề; ngày 24 tháng chạp hội mừng thắng trận. Còn Hội đền Hạ Lôi
(xã Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) tổ chức ngày 6 tháng giêng
có lễ khao quân, rước kiệu… và Hội đền Đồng Nhân (phường Đồng
Nhân, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội) diễn ra từ ngày 3 đến 6-2 hằng
17
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
năm. Đặc biệt ở hội đền Hát Môn, trong lễ vật cúng Hai Bà có bánh
trôi -tục gọi là bánh tù tì - xuất phát từ truyền thuyết khi quân của
Hai Bà Trưng chuẩn bị khởi nghĩa, có một bà lão nghèo đã dâng cả
hàng bánh trôi để ủng hộ. Hai Bà đã vui vẻ nhận và chia cho quân sĩ
cùng ăn trước lúc ra trận.
Còn tướng giặc Mã Viện, sau khi cướp được nước ta, y cho dựng
cây cột đồng có khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (cây trụ
đồng đổ thì người Giao Chỉ tuyệt diệt). Hiện nay, không rõ cây trụ
đồng ấy chỗ nào, vì mỗi người đi qua đều ném vào một hòn đá, lâu
ngày, biến thành gò đá, xóa mất dấu tích! Cho dù cây trụ đồng mất
đi, nhưng tội ác của Mã Viện khi chỉ huy cuộc viễn chinh xâm lược
vẫn còn đó. Và ngàn năm sau vẫn còn đó chiến công hiển hách của
người phụ nữ Việt Nam dám đứng lên phất cờ lật đổ ách thống trị của
kẻ thù phương Bắc! Chiến công này có tầm vóc rất quan trọng trong
lịch sử nước nhà. Nhà sử học Nguyễn Văn Tố đã từng nói: “Bổn phận
chúng ta là phải tôn Hai Bà Trưng lên bậc liệt nữ thứ nhất của nước
nhà và ghi năm 40-43 vào Niên biểu chính. Mỗi khi chép sử hay dạy
Đền thờ Hai Bà Trưng (Ảnh: Võ An Ninh)
18
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
sử, nghĩa vụ của ta là phải nhớ lấy rằng trừ thời lập quốc ra không
kể, nước Nam ta đã có tinh thần tự chủ ngay từ hồi Hai Bà Trưng,
tức là từ đầu thế kỷ thứ nhất, chứ không phải từ thời Tiền Lý về thế
kỷ thứ VI”. Và trong tập thơ Vịnh sử thi tập của tiến sĩ Đặng Minh
Khiêm - người mở đầu cho loại thơ vịnh sử Nam bằng chữ Hán - viết
từ thế kỷ XV có bài tứ tuyệt vịnh Hai Bà Trưng rất hay:
Sinh tiền dũng mãnh nêu Mai Lĩnh
Hiển thánh làm mưa lại có công
Dòng dõi Mê Linh dòng võ tướng
Nữ nhi liệu được mấy anh hùng?
(Bản dịch của Tổng tập văn học
Việt Nam, tập 6)
19
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
LÊ CHÂN
Vâng mệnh vương, dẹp xâm lăng,
lừng danh nữ tướng
Hải Phòng là thành phố cảng
nằm bên bờ vịnh Bắc bộ. Hải cảng
của thành phố này được xây dựng
từ năm 1876 và cũng là một trong
những thương cảng lớn của đất
nước ta. Nhớ đến Hải Phòng, lập
tức trong trí nhớ của ta vang lên
giai điệu “Thành phố hoa phượng
đỏ” của nhạc sĩ Lương Vĩnh (phổ
thơ Hải Như) da diết và nồng ấm
tình cảm: “Tháng năm, rợp trời hoa
phượng đỏ. Ôi! Hải Phòng thành phố
quê hương. Ta yêu thành phố quê ta
như yêu chính người thương yêu nhất.
Những hẹn hò bên bờ sông Lấp, những
con đường tấp nập áo thợ ngày đêm,
Tượng thờ bà Lê Chân
tại đền Nghè (Hải Phòng)
những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào,
Cầu Đất, Lạc Viên... Những cái tên
nghe chẳng thơ đâu, nhưng với ta vô cùng oanh liệt. Ôi! Thân thiết tự hào
quê hương...”. Niềm tự hào ấy sáng mãi theo năm tháng. Và càng tự
hào hơn khi ta biết người đầu tiên mở đất và dựng lên trang sử oanh
20
TẬP 8: CÁC VỊ NỮ DANH NHÂN VIỆT NAM
liệt trên đất Hải Phòng chính là một nữ tướng. Bà tên là Lê Chân - một
tướng tài của Hai Bà Trưng, được tấn phong là Thánh Chân công chúa.
Theo bản thần tích hiện còn lưu giữ ở Đền Nghè (thuộc quận Lê
Chân), Lê Chân là con ông Lê Đạo (có tài liệu ghi Lê Thái Bảo) và
bà Trần Thị Châu (có tài liệu ghi Hoàng Thị Châu), quê ở An Biên,
huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, xứ Hải Dương (nay thuộc xã An
Thủy, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). Sống trong làng, ông bà
Lê Đạo luôn được láng giềng quý mến, kính trọng, bởi họ lấy nghề
làm thuốc làm mục đích cứu nhân độ thế và thường đóng góp tiền
của để làm cầu đường, tô tượng đúc chuông... Thế nhưng ngoài bốn
mươi xuân họ vẫn chưa có con nối dõi.
Theo thần tích “Một hôm ông bà tới chùa Yên Tử cầu Phật, rồi mơ
thấy một thiên sứ nói rằng, Ngọc Hoàng sẽ cho một vị tiên nữ giáng
trần, làm con trong bốn mươi năm, gia đình sẽ được vinh hiển. Rồi một
hôm bà dậy sớm ra đồng, thấy một dấu chân to, bèn ướm chân mình
vào, trở về cảm động mà có thai, mãn kỳ kinh sinh ra một gái (ngày
8 tháng 2) cực kỳ sinh đẹp, bà nhớ tới dấu chân, bèn đặt tên Chân”.
Thương con, ông bà Lê Đạo đã mời thầy về dạy dỗ cho con thành tài.
Không chỉ xinh đẹp, Lê Chân còn sáng trí, thông minh, học một biết
mười, học đến đâu nhớ đến đó và nổi tiếng nhất trong vùng về “đàn,
thơ, cung, kiếm”. Quả là một trang nữ nhi tài sắc vẹn toàn. Lớn lên, Lê
Chân càng xinh đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”, đến nỗi “chim sa,
cá lặn, nguyệt thẹn, hoa nhường”.
Lúc Lê Chân lớn lên trong sự đùm bọc, yêu thương của cha mẹ
nước nhà đã mất vào tay giặc phương Bắc.
Trong lịch sử nước ta, thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất bắt đầu từ năm
111 trước Tây lịch. Đó là năm vua Vũ đế nhà Hán sai quân sang đánh
nhà Triệu, lấy nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ bộ và chia làm 9
quận. Mỗi quận có một quan thái thú cai trị và lại có quan thứ sử giám
sát các quận. Năm 34, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm thái thú
quận Giao Chỉ. Tô Định là kẻ tàn bạo, tham lam, ngay cả sử nhà Hán
cũng đánh giá y là kẻ “thấy tiền là giương mắt lên”. Không chỉ thế, y
21
BỘ SÁCH KỂ CHUYỆN DANH NHÂN VIỆT NAM
còn hoang dâm, háo sắc. Tiếng đồn về tài sắc cô con gái của ông bà họ
Lê đã đến tai Tô Định, lập tức, y muốn cưỡng làm tì thiếp. Trước thái
độ nghênh ngang, hống hách của y, Lê Chân đã bỏ trốn. Điên cuồng
như chó dại, không cướp được nhan sắc của của giai nhân, y hèn hạ tìm
cách ám hại ông bà Lê Đạo. Hành động tàn ác của y đã khiến Lê Chân,
dù “yểu điệu thục nữ” nhưng cũng quyết nuôi chí phục thù.
Biết không thể đối đầu cùng lực lượng hùng mạnh, Lê Chân tìm
cách trốn thoát đến nơi khác lập nghiệp. Với những người cùng chí
hướng, cùng mang nặng tâm tư thù nhà, nợ nước, không thể đội trời
chung với tên thái thú lòng lang dạ sói Tô Định, Lê Chân đã giong
thuyền đến vùng đất An Dương - cạnh sông Cửa Cấm (Hải Phòng
ngày nay). Thấy nơi này đất đai màu mỡ, sông ngòi chằng chịt, lau
sậy um tùm, địa thế hiểm trở, thuận tiện cho việc lập căn cứ chống
giặc bà đã quyết định ở lại. Bà là người trước nhất nhìn thấy nơi này
có vị trí quan trọng trong việc xây dựng căn cứ quân sự cũng như
tăng gia sản xuất, có thể đảm bảo được công tác hậu cần nếu tiến
hành cuộc kháng chiến lâu dài. Vì thế, bà cho người tìm về quê cũ
đón gia quyến và người thân tới để xây dựng trang ấp mới. Nhớ quê
cũ bà đặt tên cho quê mới là An Biên. Nghe tin, nhiều nam thanh nữ
tú vùng Đông Triều, Kinh Môn, Thủy Nguyên... đã tìm đến hội tụ
dưới cờ nghĩa của bà.
“Với sức người sỏi đá cũng thành cơm”, dăm năm sau, vùng đất
hoang vu này đã trở thành nơi sầm uất, khách thập phương nườm
nượp tìm đến giao thương, buôn bán. Không những thế, bà còn ngầm
liên kết với các hào kiệt xa gần để tạo nên một thế lực vững mạnh.
Những dân quân dưới quyền của bà, thời bình là những người “tay
cày tay cuốc” làm ra lúa gạo, nhưng trong thời chiến lại là những
nghĩa quân dũng cảm cầm vũ khí đối đầu với “hòn tên mũi đạn”.
Họ được huấn luyện thông thạo về thủy chiến, để tùy lúc có thể phối
hợp với bộ binh đánh tan những âm mưu của giặc. Sự lớn mạnh của
vùng đất này, không thể lọt ra khỏi tầm mắt của Tô Định. Y đã sai
quân đến đến bao vây, nhưng do cảnh giác nên nghĩa quân đã phát
hiện và chủ động đánh trả oanh liệt. Quân giặc Hán khiếp sợ tài cầm
q...
 





