Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Hưng Đạo Vương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:18' 06-04-2024
Dung lượng: 713.5 KB
Số lượt tải: 10
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:18' 06-04-2024
Dung lượng: 713.5 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
HƯNG ĐẠO VƯƠNG
TỰA
HỒI THỨ NHẤT
HỒI THỨ HAI
HỒI THỨ BA
HỒI THỨ TƯ
HỒI THỨ NĂM
HỒI THỨ SÁU
HỒI THỨ BẢY
HỒI THỨ TÁM
HỒI THỨ CHÍN
HỒI THỨ MƯỜI
HỒI THỨ MƯỜI MỘT
HỒI THỨ MƯỜI HAI
HỒI THỨ MƯỜI BA
HỒI THỨ MƯỜI BỐN
HỒI THỨ MƯỜI LĂM
HỒI THỨ MƯỜI SÁU
HỒI THỨ MƯỜI BẢY
HỒI THỨ MƯỜI TÁM
Chú Thích:
https://thuviensach.vn
HƯNG ĐẠO VƯƠNG
Lê-Văn-Phúc Hòa-lâm viên tu soạn
Phan-Kế-Bính Cử-nhân kính soạn
Thái-Bình Tuần-phủ Phạm-Văn-Thụ,
duyệt chính, kính tự.
Đông-Kinh Ấn-Quán in lần thứ nhất
HA NOI 1914
***
Nguồn: Tve-4U, Wiki: Rito_1522
Bìa: Mr.black
Đánh máy:hhongxuan
Soát & Trình bày: Văn Cường
Tạo Ebook: tran ngoc anh
道大王聖像
鴻勲仁武興
德功盛偉烈
北大元帥隆
父上國公平
陳
朝
太
師
尙
陳 Trần
興 Hưng
道 Đạo
王 Vương
傳 Truyện
傳興道王陳
HƯNG-ĐẠO VƯƠNG
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
TỰA
Khổ tâm thay! những nhà sốt sắn về sự giáo-dục ở vào cuộc đời chọi
nhau bằng óc này, chăm chăm lấy bút thay gươm, rỏ mực ra máu, trên đối
với hơn 4000 năm tổ-quốc, dưới đối với hai mươi nhăm triệu đồng-bào, có
khi dùng cách trực-tiếp; cũng có khi dùng cách gián-tiếp.
Cách trực-tiếp nên dùng thế nào? Nên soạn pho sử-yếu, chép toàn bằng
chữ quốc-văn ; để hết thẩy mọi người nhớn, trẻ-con, ai nấy cũng dễ hiểu.
Cách gián-tiếp nên làm thế nào? Nên nhân lối tiểu-thuyết, đại thành ra
bộ quốc-chí, để hết thẩy nhà-quê, kẻ-chợ, đâu đấy cũng thích xem.
Bởi vì chữ là chữ nước mình, sử là sử nước mình, truyện là truyện nước
mình, hồn vía văn-minh phảng phất ở đó. Nếu muốn lên đàn diễn phép
chiêu lấy quốc-hồn, mở xưởng rèn nghề đúc nên dân-trí, chi bằng tập chữ
bản-quốc, học sử bản-quốc, xem truyện bản-quốc; nhưng thấy cách giántiếp có nhẽ so với cách trực-tiếp lại càng khỏe hơn, tiện hơn và mau hơn.
Nước ta lập quốc đã lâu, khai hóa cũng sớm. Nam-đế sơn-hà, thư giời
rọng về, trải bao phen lừng lẫy cõi Á-đông, nước tuy già, nhưng hồn vẫn
tỉnh táo, nhẽ đâu ngủ mê mãi, không ai khua thức dậy. Trách vì cớ giáo-dục
của dân nước ta, trước kia nhầm lẫn, chữ nước mình chả tập, sử nước mình
chả học, truyện nước mình chả xem, đâu là sử Tam-hoàng cho chí Tống,
Nguyên, Minh, Thanh, nhớ như văn-sách, đâu là truyện Tam-quốc cho chí
Thuyết-đường, Thủy-hử, diễn thành tấn tuồng, chỉ chăm những sự đâu đâu,
mà gốc tích nhà mình, loài giống mình, họ đang mình, nào ai là ông khởi-tổ
sáng lập ra nước, nào ai là bực anh-hùng cạnh tranh với Tầu, ai là kẻ có
công-đức với quốc dân, ai là người đăng kỷ-niệm trong xã-hội, hỏi đến thì
mơ hồ không biết, hoặc sao nhãng không nhớ, rõ thật là mồ cha chả khóc,
khóc đống mối, mồ mẹ chả khóc, khóc bối bòng bong.
https://thuviensach.vn
Than ôi! bố rồng, mẹ tiên, con nòi giống cũ, núi xanh nước biếc, vẫn đất
cất nhà, cùng chôn rau cắt rốn trong cõi Việt-nam, ai chẳng mong có lúc mở
mặt mở mày với trên thế giới. Nhưng trước hết phải lấy phù phép luyện
quốc-hồn, làm máy móc khai dân-trí, in hai chữ quốc-gia vào óc, sẽ có thể
gánh một quả địa-cầu lên vai.
Quốc-hồn ta ở đâu! Quốc-hồn ta ở đâu! Sau đời vua Ngô-vương Quyền,
vua Lý Nam-Đế, trước đời vua Lê Thái-Tổ, vua Nguyễn Quang-Trung, nẩy
ra một bực đại anh-hùng ấy là ai? là đức Hưng-đạo đại-vương Trần-quốcTuấn đó.
Đương lúc thế lực nhà Nguyên chấn động khắp cả châu Âu, châu Á, ai
ngờ trứng chọi với đá ; ngoài nước Nhật lại có nước Nam ta. Dẫu cho rằng
đất thiêng người giỏi, vua thánh tôi hiền phúc nước đã đành rồi, nhưng rút
ra chỉ trông cậy ở lòng người là vững.
Người ta tưởng nhà Trần có ông Hưng-Đạo, cũng như nhà Lý có ông
Thường-Kiệt, an nguy hệ ở một tay, không biết rằng cá khỏe vì nước, chim
khỏe vì..., có đạo thế rồi mới mong có quyền lực được, trong có một ông
Hưng-Đạo, mà ngoài bách quan hết thẩy như anh em ông Hưng-Đạo, trên
có một ông Hưng-Đạo, mà dưới cử quốc hết thẩy như con cháu ông HưngĐạo. Phỏng chỉ một ông Hưng-Đạo vác thanh thần-kiếm địch sức với lũ
Phạm-Nhan, chưa chắc đã thua nào, huống chi hằng-hà sa-số ông HưngĐạo đeo chữ “sát thát” thi gan với nòi Mông-cổ, một giọt thiết-huyết rơi
đến đâu lở đất long giời, một ngọn nghĩa-kỳ phất đến đâu cuốn mây quét
gió, dẫu mười cậu Thoát-Hoan thái-tử, trăm chú Mã-Nhi kiêu tướng, cũng
chả vần chi.
Lạ thay! nhà Trần vì đâu gây dựng nên cách dân-đoàn, chỉ vì theo tôngiáo Phật, biết nghĩa xả-thân cứu thế, thật bác-ái, thật mạo-hiểm, thật nhẫnnại, tu trọn ba điều công-đức, và mở ra một cách văn-minh; này như vua tôi
ăn yến, rắt tay mà hát, có ý bình đẳng ; hội-đồng kỳ-lão, bàn sự đánh
Nguyên, có ý lập hiến ; rất tốt là lý-trưởng, dùng toàn ngũ lục phẩm quan,
https://thuviensach.vn
giao quyền xử đoán, đã phân minh ra cách địa-phương tự-trị rồi. Bởi vậy
dân-quyền ngày càng trọng, dân-đức ngày càng tiến, và quốc-hồn ngày
càng khỏe mạnh. Tiếc cho trước kia quốc-sử không thể vẽ được hết cái tinhthần, mà sau này quốc-dân chỉ biết sùng kính những cái hình-thức, nào đâu
là lập tĩnh, lập điện, lên cốt, lên đồng, bắt tà, bắt ma, phát bùa, phát dấu,
thành ra một thói tin mê, so lấy nghĩa kỷ-niệm công-đức, đã là trái cách
văn-minh, luận đến điều tiết-độc thần-minh, lại đáng ghép vào tội lệ. Sao
không nghĩ vua quan nhà Trần đều học phật, mà đắc đạo đấy, đối với
chúng-sinh cầu sự xá-thí, chớ có mong gì hưởng báo đâu; nếu ta biết sùng
kính ông Hưng-Đạo về sự thánh thần, thì cái quốc-hồn ta tỉnh, nếu ta chỉ
sùng kính ông Hưng-Đạo về sự ma quỉ, thì cái quốc-hồn ta mê. Mê mê, tỉnh
tỉnh, bởi tự lòng ta, hễ có học vấn, thì sẽ có tư tưởng, có tư tưởng thì sẽ có
ngôn luận, có ngôn luận thì sẽ có sự thực.
Nay gặp hội nhà-nước, rộng lòng khai hóa, bắt đầu sự học cần bực phổthông, muốn dùng cách trực-tiếp chăng, chả gì bằng soạn sử quốc-ngữ ;
muốn dùng cách gián-tiếp chăng, chả gì bằng soạn truyện quốc-ngữ ; lột hết
cái tinh-thần quốc-sử ra chữ quốc-văn, thật ích cho đồng-bào ta lắm ; tiện
cho học-giới ta lắm. Tôi vẫn ước ao dịp này, sau cũng có nhà chước thuật,
vì nước tổ Việt ta mở rạp diễn-văn, may sao gặp sở Đông-kinh-ấn-quán đưa
bộ sách này, xét thể cách hệt như lối Tam-quốc-chí, vừa có sự thực, vừa có
nghị-luận, chắc những người có huyết-tính, xem sách này ai cũng phải kính,
cũng phải mến, cũng phải hát, cũng phải khóc, cũng phải đặt quyển mà thở
dài. Vậy đốt hương mà viết bài này, trước là ghi cái cảm tình của quốc dân,
sau nữa giải cái khổ-tâm của người tác-giả. Thử hỏi nay những nhà sốt-sắn
về sự giáo dục nghĩ làm sao đây?
Đàn-viên Phạm-Văn-Thụ kính soạn.
***
https://thuviensach.vn
HỒI THỨ NHẤT
Nhân dịp biến, anh-hùng xuất hiện,
Ỷ thế to, đạo-khấu tung hoành.
Trải xem xưa nay nước Nam anh-hùng, hào-kiệt cũng nhiều, mà anhhùng lại thường nhân lúc biến loạn mới hiển tiếng. Về thời trước như NgôQuyền, Đổng-thiên-vương, Bố-Cái-đại-vương, Đinh-tiên-hoàng, hai vị
Trưng-Trắc, Trưng-Nhị, Lý-thường-Kiệt, tuy so với thế-giới thì chưa thấm
vào đâu, nhưng trong một thời làm nên công nghiệp kinh thiên, động địa,
cho dân cho nước được nhờ, thì cũng lưu được tiếng thơm về sau, khiến cho
ai ai nghe thấy truyện, phải kinh, phải trọng, phải yêu, phải mến, mà đúc
nên được một cái hồn tỉnh táo trong cõi Nam-việt.
Từ khi những bậc anh-hùng ấy quá vãng, non nước trải bao thu, kế đến
nhà Trần, mới lại có một tay đại anh-hùng xuất thế.
Triều nhà Trần, lòng giời mở vận Đông-a, tổ tích phát tại làng Tức-mặc
(về huyện Mỹ-lộc, tỉnh Nam-định). Vua Thái-tôn thay ngôi nhà Lý, ngài là
một vị minh quân, lại nhờ có văn võ trăm quan, hết lòng phò tá. Tự khi lên
ngôi đến bây giờ, ngoại 30 năm, bốn phương yên ổn, trăm họ vui vẻ thái
bình.
Bấy giờ bên Tầu đang thời vua Lý-tôn nhà Tống. Nhà Tống lúc ấy đang
vận suy nhược, mà vận nhà Nguyên sắp lên. Nhà Nguyên thì vốn là giống
Mông-cổ. Vua Thế-tổ nhà Nguyên tên là Hốt-tất-Liệt, đang lúc cường thịnh
binh hùng tướng dũng, nay đánh Kim, mai lấn Tống, chỉ chăm một việc mở
mang bờ cõi.
Trong năm Đinh-tị, niên hiệu Nguyên-phong thứ bẩy (năm Bảo-hữu thứ
năm nhà Tống, lịch tây 1257 sau Thiên-chúa giáng sinh), tướng Mông-cổ
tên làm Ngột-lương-cáp-Thai (có bản dịch là Ô-lan-cáp-Đạt) nhân vừa bình
https://thuviensach.vn
định xong đất Đại-lý tức là đất Vân-nam) tháng tám kéo quân tràn sang
phận Hưng-hóa nước Nam.
Chúa trại Qui-hóa tên là Hà-Khuất, vội vã sai người chạy ngựa phi báo
về kinh-đô Thăng-long (tức Hà-nội).
Bữa sau vua Thái-Tôn khai chầu, trăm quan áo mũ lạy trước sân rồng,
tung hô ba tiếng, rồi có Thái-sư tướng-quốc là Trần-thủ-Độ (chú vua) ra ban
tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, nay có chúa trại Qui-hóa báo tin rằng quân Mông-cổ tràn
vào phận Hưng-hóa, xin thánh chỉ phán cho làm sao?
Mặt rồng nổi giận, phán rằng:
- Mông-cổ vô cố dám lấn vào cõi ta, chẳng hay văn võ các ngươi, có ai
ra phòng ngữ được cho trẫm không?
Có một vì vương bước ra tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, thần xin cất quân ra phòng ngữ.
Vua nhác trông ra thấy một vì mắt phượng, môi son, trán cao, hàm én,
oai phong dũng mãnh, tướng mạo khôi ngô, mới gần trạc 30 tuổi.
Vua cả mừng nói rằng:
- Nếu cháu có bụng can đảm như thế, vậy thì cho cháu cất quân đi,
nhưng ra đó mà liệu thế không chống nổi, thì lập tức phi báo về cho trẫm
biết.
Vị ấy mừng rỡ lạy tạ giở ra, các quan đều trông mặt thì là Hưng-đạo
vương, ngài họ Trần húy Quốc-Tuấn, phụ thân ngài là An-sinh vương Liễu,
tức là anh ruột vua Thái-tôn, mẫu thân là An-sinh vương phu-nhân, húy
Nguyệt.
https://thuviensach.vn
Khi trước, phu-nhân có mơ thấy một ông thần, tinh vàng, tướng ngọc, tự
xưng là Thanh-tiên-đồng-tử, phụng mệnh Ngọc-hoàng, ban cho kiếm ấn và
đủ tam tài, ngũ bảo, xuống xin đầu thai. Nhân thế có mang. Đến khi sinh ra
ngài[1] gió thơm ngào ngạt, ánh sáng rực nhà. Cách hôm sau có người đạosĩ đến nói rằng: “Đêm qua tôi coi thiên văn, thấy một vì tướng tinh sa
xuống ở đây, vậy tôi xin đến bái kiến.” An-sinh-vương đưa ngài ra cho đạosĩ xem. Người ấy xem xong, nói rằng: “Quí hóa! vương-tử mai sau tất yên
được dân, cứu được đời, làm vẻ vang cho nhà-nước.”
Ngài đầy tuổi tôi đã biết nói. Lên sáu tuổi đã biết bày bát trận, làm thơ
ngũ ngôn, thông minh khác chúng, An-sinh vương kén những người có tài
dạy ngài học ; ngài học đến đâu thông đến đấy, xem rộng các sách, mà học
thì cốt trọng trung hiếu làm đầu. Lại kiêm tập cả nghề võ; thường bàn thaolược với Chiêu-văn vương Nhật-Duật (con thứ sáu vua Thái-tôn), đêm ngày
không biết chán, hai anh em rất tương-đắc với nhau. Có khi hầu vua giảng
sách trong tòa Kinh-diên, giảng bàn nghĩa-lý, ứng đối như nước chẩy. Khi
nào nhàn thì tập bắn. Lại thường đem lục-thao, tam-lược của Thái-công,
Tử-phòng diễn làm trận đồ, để dạy các tướng. Ngài xử với người bề dưới
thì hiền-từ, tiết-kiệm, khoan-dong, đó là tam-tài ; dùng người thì kén người
trí-mưu, nhân-hậu, dũng-lược, trung-thực, tin-cẩn, đó là ngũ-bảo, cho nên
các tướng-sĩ nhiều người vui lòng theo với ngài.
Hưng-Đạo vương có bốn con, con cả là Hưng-võ vương Trần-quốcNghiễn, thứ hai là Hưng-hiếu vương Quốc-Uy, hai vị bấy giờ đã 15,16 tuổi,
giỏi nghề cung ngựa, sức lực hơn người. Con thứ ba là Hưng-nhượng
vương Quốc-Tảng, con thứ tư là Hưng-trí vương Quốc-Nghê, hai vị này thì
mới 12, 13 tuổi, còn đang học hành. Lại có một cô con gái tên là Trinh, và
một cô con nuôi tên là Nguyên. Hai người tuy còn nhỏ, nhưng nhan-sắc,
trông đã xinh-dòn, cũng đang học nghề nghiên bút.
Ngài lại có 5 tướng bộ-hạ cực giỏi: một người là Dã-Tượng, sức khỏe
như voi ; một người là Cao-Mang ; một người là Đại-Hành ; một người là
https://thuviensach.vn
Nguyễn-địa-Lô, ba người ấy cũng võ nghệ cao-cường, muôn người khôn
địch. Một người họ Yết tên Kiêu tự là Hữu-Thế, người ở làng Hạ-bì tỉnh
Hải-dương, khi trước thường vác cuốc ra bãi bể, thấy hai con trâu trắng ở
dưới bể lên chọi nhau trên bãi cát, một hôm Yết-Kiêu ngồi dình cầm cuốc
đánh vào đầu trâu, trâu chạy nhào cả xuống bể ; Yết-Kiêu giơ cuốc xem thì
có lông trâu dính đầu cuốc ; Yết-Kiêu cho là của quí, nuốt ngay vào bụng,
tự bấy giờ sức khỏe lạ thường, lội dưới nước như đi trên mặt đất.
Khi ấy Hưng-đạo vương phụng mệnh về nhà thu xếp đồ khí giới, chia
quân làm hai mặt, sai Dã-Tượng dẫn một đạo đi đường bộ, Yết-Kiêu dẫn
một đạo đi đường thủy, ngài dẫn hai con là Hưng-võ vương, Hưng-hiếu
vương và các tướng đi sau. Tháng chín năm ấy, trống vang giời, cờ dợp đất,
ba đạo quân tự thành Thăng-long kéo lên mặt Hưng-hóa.
Tướng tiên-phong là Dã-Tượng đến trước, cắm đồn lập trại, chia giữ các
nơi, cách vài ba ngày, Hưng-đạo vương dẫn đại quân cũng đến nơi.
Ngột-lương-cáp-Thai nghe tin đại quân chia làm hai ngả kéo đến, liền
sai phó tướng là Xích-tu-Tư dẫn quân đánh mặt thủy, còn mình thì dẫn quân
đánh mặt bộ.
Hưng-đạo vương dàn trận, sai Dã-Tượng ra khiêu chiến. Dã-Tượng cắp
đao phi ngựa ra trước trận, thét to lên rằng:
- Bớ quân khuyển-dương kia! sao dám vô-cố xâm phạm vào nước ta?
Ngột lương-cáp-Thai nổi giận, sai tên kiêu-tướng là Áo-lỗ-Xích múa
thương ra địch. Hai tướng đấu nhau hơn 100 hợp, chưa rõ được thua, bỗng
dưng trong trận Ngột-Lương trống nổi ầm ầm, quân Mông-cổ chia làm hai
mặt tràn đến, như nước vỡ đê. Hưng-đạo vương vội vàng chia quân ra địch ;
nhưng quân mình ít, quân Mông-cổ thì nhiều, Hưng-đạo vương liệu bề cự
không nổi rút quân chạy về Sơn-tây. Quân Mông-cổ thừa thế, đuổi tràn mãi
xuống sông Thao mới đóng quân.
https://thuviensach.vn
Yết-Kiêu nghe tin đại quân lui về Sơn-tây, cũng thu thuyền lui về. Xíchtu-Tư đuổi không kịp, liền hợp quân với Ngột-lương-cáp-Thai.
Hưng-đạo vương đóng quân ở Sơn-tây, sai người về kinh-đô cáo cấp.
Vua Thái-tôn được tin cả kinh, hội quần thần lại thương-nghị, rồi truyền
chỉ ngự-giá thân-chinh.
Sáng hôm sau sai kén 10 chiếc thuyền rồng cực to, và 300 chiến thuyền.
Vua dẫn quân Thánh-dực (tức là quân Ngự-lâm) làm trung-quân; Thái-sư là
Trần-thủ-Độ và Tướng-quân là Nguyễn-Khoái dẫn tả-quân, Thái-úy là
Trần-nhật-Hiệu và Tướng-quân là Trần-bình-Trọng dẫn hữu-quân. Mỗi
cánh dẫn 100 chiến thuyền, 3.000 quân-sĩ. Lê-phụ-Trần dẫn 20 chiến
thuyền làm tiên-phong.
Thượng tuần tháng chạp, chiến thuyền kéo tự sông Phú-lương (tức sông
Nhị-hà) lên mạn sông Thao, đem quân lên bộ dàn trận.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân ra đánh. Vua xông pha mũi tên hòn đạn,
đốc thúc các tướng vào đánh. Tướng tiên-phong là Lê-phụ-Trần, một
thương một ngựa, xông thẳng vào trận giặc đánh giết, ngựa đến đâu, quân
Mông-cổ rẽ ra đến đấy. Tuy vậy quân Mông-cổ bấy giờ đang mạnh thế quá,
các tướng đánh cũng hăng, nhưng vẫn kém thế. Một hồi lâu quan quân dần
dần núng thế phải lui. Vua dẫn quân xuống thuyền chạy về, sai Lê-phụ-Trần
đi đoạn hậu, giặc cũng kéo xuống thuyền đuổi theo, tên bắn như mưa, PhụTrần cầm một mảnh ván thuyền đỡ tên, thuyền vua chạy được thoát.
Hưng-đạo vương trông thấy thế giặc to quá, liệu bề giữ thành không nổi
cũng rút quân về.
Quan quân lui về đến đâu, thì giặc thừa thế, đuổi tràn đến đấy. Dần dần
tràn xuống đến sông Phú-lương. Ngột-lương-cáp-Thai vào phá kinh-thành,
thấy ba người sứ-giả, bị giam trong ngục, người nào cũng trói bằng chạc
tre, lẳn vào trong thịt. Nguyên là sứ của Mông-cổ, sai đến dụ hàng, mà vua
https://thuviensach.vn
không nghe, giam lại ở đấy. Quân Mông-cổ cởi trói cho ba người ấy, thì
một người bị đau mà chết.
Ngột-lương-cáp-Thai giận lắm nghiến răng mà nói rằng:
- Ái chả! ai ngờ quân Nam-việt độc dữ làm vậy, xưa nay hai nước đánh
nhau, không giết sứ-giả bao giờ, mà nỡ xử tệ ác thế?
Lập tức truyền quân-sĩ, cho làm cỏ nhân dân trong thành. Thương hại
thay! già trẻ trăm họ bấy giờ, tóc bạc, đầu xanh, làm gì nên tội, chẳng may
gặp phải quân hung-ác, giận cá chém thớt, nó biết trách người xử tệ, mà nó
xử tệ lại gấp trăm, gấp nghìn! Xưa nay an-nghiệp sung-sướng nhường nào,
mà bỗng dưng người bị đâm, kẻ bị chém, người già, con trẻ cũng mắc phải
tai nạn, cửa nhà tàn phá, vườn ruộng tan hoang, nói ra xót ruột đau lòng, ai
là không muốn sả thây moi ruột những quân tàn ác ấy.
Quân Mông-cổ làm cho phũ tay tàn ác, rồi lại tiến quân đuổi theo đến
bến Đông-bộ-đầu (thuộc huyện Thượng-phúc, Hà-nội). Vua lui quân về
sông Thiên-mạc (thuộc về phủ Lý-nhân).
Hưng-đạo vương bấy giờ tuy được dự cầm quân, nhưng quyền chính
còn do tự thái-sư Trần-thủ-Độ, và thái-úy Trần-nhật-Hiệu. Thủ-Độ cũng là
một tay tài cán giỏi, hết lòng lo việc nước. Nhật-Hiệu thì tiếng là hoàngthân, cầm quyền triều-đình, mà trí mưu thì kém, lắm lúc nguy hiểm không
có tài ứng biến.
Khi ấy vua thấy quân Mông-cổ mạnh thế, quân mình đã nguy núng đến
nơi. Ngự thuyền đến hỏi Nhật-Hiệu xem có kế gì không. Nhật-Hiệu đang
ngồi đầu thuyền, thấy vua hỏi, không biết nghĩ ra làm sao, mới cầm cái bơi
chèo viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”, là có ý khuyên vua chạy sang
Tống.
Vua lại hỏi:
https://thuviensach.vn
- Thế quân Tinh-cương [2] ở đâu?
- Tâu bệ-hạ, đòi chúng nó không đến nữa.
Vua bực mình, quay thuyền đến hỏi Trần-thủ-Độ. Thủ-Độ thì gan vẫn
vững, mà ứng biến lại nhanh, liền tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ-hạ đừng lo!
Vua thấy nói cứng cỏi, bấy giờ cũng hơi vững dạ.
Đó là:
Chỉ vị bền lòng lo việc nước,
Mới hay phá giặc lập công to.
Chưa biết sự thể về sau thế nào, sẽ xem hồi sau phân giải.
https://thuviensach.vn
HỒI THỨ HAI
Khéo dùng mưu, thế bại thành thế thắng,
Chịu thông hiếu, cuộc chiến đổi cuộc hòa.
Bấy giờ vua Thái-tôn đóng quân ở sông Thiên-mạc, cự nhau với quân
Mông-cổ non nửa tháng, sực lại có hai sứ-giả của Ngột-lương-cáp-Thai sai
đến dụ hàng. Vua giận quân Mông-cổ độc ác, sai trói sứ-giả đuổi về. Liền
hội các quan thương nghị kế phá giặc.
Trần-thủ-Độ hiến kế rằng:
- Quân Mông-cổ tự khi sang đây, đánh trận nào được trận ấy, tướng sĩ
sinh bụng kiêu căng, coi ta rẻ rúng, chắc không phòng bị, vậy đêm hôm nay
xin đến cướp trại giặc thì tất phá được.
Vua nghe nhời, sai Thủ-Độ, Nhật-Hiệu, Lê-phụ-Trần lĩnh 5.000 quân,
dẫn 50 chiến thuyền, kéo tự đấy lên bến Đông-bộ-đầu. Một mặt sai Hưngđạo vương, dẫn 30.000 quân mã men bờ sông tiến lên. Còn vua tự dẫn
30.000 quân tiếp ứng.
Chiều vàng vàng mặt giời, Thủ-Độ truyền quân ngả cờ im trống dần dần
tiến lên bến Đông-bộ-đầu. Bấy giờ vào đầu hạ tuần tháng chạp, thuyền đi
mặt nước, lấp loáng bóng giăng, mấy chòm u uất bóng cây xanh, một giải
mông mênh mầu lụa trắng, bốn bề lặng ngắt, thuyền đi vùn vụt như tên. Khi
canh hai gần đến trại giặc, cách 3 dặm mặt sông, gặp mười chiếc thuyền
tuần-tiễu của giặc mỗi thuyền ước chừng 30 người. Thủ-Độ nổi hiệu còi,
dàn thuyền vây, bắt được 8 chiếc, còn 2 chiếc chạy thoát về phi báo. ThủĐộ thúc thuyền bơi ùa vào đuổi mãi đến tận trại giặc, quả nhiên giặc không
phòng bị trước. Lê-phụ-Trần trước hết xông vào, phóng hỏa đốt thuyền
giặc, quan quân dàn thuyền ra ba mặt đánh thốc vào. Quân Mông-cổ đương
giấc ngủ mê, choàng đứng dậy, kinh hồn thất đảm, xô xát, dẫm nhau, kẻ thì
https://thuviensach.vn
chạy lên bờ, kẻ thì nhào xuống sông, chỉ tìm đường thoát thân, không ai
bụng nào kháng cự.
Đêm hôm ấy, trên mặt sông, lửa sáng rực giời, trống đánh vang sông,
Ngột-lương-cáp-Thai ở trại trên cạn, vội vàng thúc quân xuất chiến thuyền
ra đánh, lại gặp phải đại quân của vua Thái-tôn vừa đến, hợp binh đánh giết,
quân Mông-cổ chết hại rứt nhiều.
Ngột-lương-cáp-Thai thấy núng thế, lại kéo quân lên bộ tháo đường
chạy. Quan quân chia làm hai mặt, một mặt đánh dưới sông, một mặt lên bộ
đuổi theo.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn bại quân tất tả cắm đầu chạy, đến đầu canh tư
bỗng thấy một tiếng pháo nổ, lửa cháy bùng bùng, quân ở đôi bên đường
kéo ra đánh. Ngột-lương-cáp-Thai trông thấy hiệu cờ Hưng-Đạo vương cố
sức chống cự một hồi, rồi vừa đánh vừa lui, chạy thoát vào thành Thănglong.
Thuyền giặc phần bị cháy, phần bị đắm mất nhiều, chỉ chạy thoát được
một ít mà thôi, còn bao nhiêu thì bị quan quân bắt được cả.
Sáng hôm sau, vua Thái-tôn đốc quân thắng trận lên sông Phú-lương,
khôi phục kinh thành. Ngột-lương-cáp-Thai rút quân lên mặt thượng-du.
Vua Thái-tôn thu phục kinh-đô, mở tiệc khao thưởng các tướng, phủ-dụ ba
quân. Cất Lê-phủ-Trần làm Ngự-sử đại-phu, và gả Thiên-thánh công-chúa
họ Lý cho.
Vua lấy nhời an ủy rằng:
- Trẫm khen ngươi cả gan xông đột, nếu không có ngươi thì sao có lúc
bây giờ, vậy ngươi nên gắng sức thêm lên, để cùng hưởng sung sướng với
nhau mãi mãi.
Lê-phụ-Trần lạy tạ ơn vua.
https://thuviensach.vn
Vua lại xa tội cho tên tiểu-hiệu Hoàng-cự-Đà. Nguyên khi trước vua có
ban cho tả hữu, mỗi người một quả muỗm, Hoàng-cự-Đà không được,
mang lòng căm tức. Đến khi đại-quân cự nhau với quân Mông-cổ ở Đôngbộ-đầu. Cự-Đà đi một chiếc thuyền lẻn về trước. Đi đến sông Hoàng-giang
(thuộc về huyện Nam-sang) thì gặp Thái-tử đi thuyền ngược lên, Cự-Đà bơi
thuyền lánh vào ven bờ. Quan quân trông thấy gọi to lên rằng: “Quân
Mông-cổ ở đâu?” Cự-Đà vốn lòng căm tức đã lâu, nhân dịp nói cho hả, liền
đáp lại rằng: “Không biết! hỏi những thằng ăn muỗm ấy!” Thái-tử nổi giận,
muốn bắt trị tội ngay, nhưng còn mắc việc đánh giặc là quan hệ hơn, vậy
mới để tội ấy không hỏi vội. Đến khi nay bình định đâu đấy, Thái-tử xin bắt
tội Cự-Đà. Vua thương hại đứa ngu dại, vì một miếng ăn nên oán, coi quả
muỗm to hơn quả núi Tản-viên, quên bụng trung vua yêu nước, dù có giết
đi cũng chẳng làm gì, vậy vua xá tội cho thân sâu bọ ấy, để cho khi khác
biết khôn đánh giặc mà chuộc tội.
Nói về Ngột-lương-cáp-Thai kéo quân về mặt thượng-du, qua địa phận
Hưng-hóa để về Vân-nam. Khi qua một cánh rừng, bỗng thấy hai bên sườn
núi, trống đánh thùng thùng, rồi thấy một đội quân mã, ước chừng 3.000
người, đầu đội nón buồm, mình mặc áo xanh, mỗi người tay cầm một đồ
binh khí, lưng đeo một bộ cung tên, kéo tràn xuống núi, một tướng đi đầu
mắt lồi, râu rậm, mặt sàm sạm đen, tướng dữ như cọp, một tay cầm lá mộc,
một tay cầm mã-đao, quất ngựa xông vào, quát lên rằng:
- Quân kia đi đâu?
Ngột-lương-cáp-Thai sai tên tì tướng múa thương ra đánh, vừa nhẩy vào
thì đã bị tướng ấy chém quay xuống ngựa. Quân Mông-cổ kéo bừa vào
đánh, quân bên kia bắn tên ra như mưa, trên đầu tên có thuốc độc, ai hơi tin
phải thì buốt vào đến xương rồi chết. Hai bên đánh nhau lộn bậy một hồi,
Ngột-lương-cáp-Thai, tháo đường chạy được thoát. Quân Mông-cổ chết hại
rất nhiều.
https://thuviensach.vn
Tướng ấy nguyên là chúa trại Qui-hóa họ Hà tên Bổng, xưa nay vẫn là
người hùng-dũng vùng ấy. Hà-Bổng biết tin quân Mông-cổ thua trận, tất do
đường ấy về Tàu, cho nên họp tập quân mường, đón đường đánh chẹn
ngang.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân về Vân-nam. Hà-Bổng thì sai người về
kinh-đô, báo tin thắng trận, và nộp các đồ bắt được của giặc.
Vua thấy người can-đảm hùng-dũng làm vậy, cả khen và phong cho HàBổng tước hầu lại ban thưởng cho rất hậu.
Quân Mông-cổ tự khi thua trận ấy trở về, phần là thua thì sinh chán,
phần là mới lấy được Vân-nam, chỉ mong về cho chóng, không bụng nào
tranh chiếm gì nữa, cho nên đi đến đâu không nhũng nhiễu gì đến dân sự.
Dân thì còn biết bụng giặc là thế nào, thấy nó không quấy nhiễu, thì cho là
giặc hiền lành, nhân đức, gọi là
Phật-tặc, nghĩa là giặc hiền như bụt.[3]
Vua Thái-tôn bình định xong giặc Mông-cổ, sai sứ sang Tống-triều
thông hiếu, cống một đôi tượng, vì bấy giờ nước ta vẫn phải cống về Tàu.
Mông-cổ thấy vậy cũng sai sứ sang bắt ta phải cống. Vua nghĩ nước mình
hẹp nhỏ, mà Mông-cổ tuy tạm thua một lúc, nhưng vẫn có thế hùng-cường,
mà mình không có thể cưỡng mãi được. Nghĩ như thế mới sai Lê-phụ-Trần
sang sứ, định 3 năm xin nộp cống một lần.
Tháng hai năm Mậu-ngọ, vua nhường ngôi cho Thái-tử Hoảng. Thái-tử
lên ngôi, tức là vua Thánh-tôn, cải niên hiệu gọi là Thiệu-long. Tôn vua cha
lên làm Hiển-nghiên-thánh-thọ Thái-thượng hoàng-đế.
Vua Thánh-tôn lên ngôi phong em là Quang-Khải (con thứ hai vua
Thái-tôn) làm Chiêu-minh đại-vương. Cất Nguyễn-giới-Huân làm Đạihành-khiển, Lê-phụ-Trần làm Thủy-quân Đại-tướng-quân.
https://thuviensach.vn
Năm Canh-thân niên hiệu Thiệu-long thứ ba (năm Cảnh-thịnh thứ nhất
nhà Tống và năm Trung-thống thứ nhất vua Thế-tổ nhà Nguyên, lịch tây
1260) Mông-cổ sai Nạp-xích-Đinh mang chiếu-thư sang dụ rằng:
“Khi trước sai sứ sang thông-hiếu, dám giam chấp lại không cho về,
cho nên năm ngoái mới sinh việc binh nhung. Khi sau cho hai sứ sang chiêu
an, lại dám trói mà đuổi về. Nay lại cho sứ sang khai dụ lần nữa, nếu biết
đổi dại dốc lòng nội phụ, thì phải thân sang chầu”.
Vua Thánh-tôn tiếp được thư, phục thư lại rằng:
“Đợi khi nào có chiếu mạng đưa đến, sẽ xin sai tử-đệ vào làm tin”.
Nguyên Thế-tổ tiếp được thư giả nhời, bèn sai Lễ-bộ Lang-trung là
Mạnh-Giáp và Viên-ngoại-lang là Lý-văn-Tuấn lại đem thư sang dụ rằng:
“Phàm các quan liêu, sĩ, thứ bên An-nam, áo, mũ, phép, tắc, mặc y cho
tuân tục bản quốc. Trung-quốc cũng đã răn bảo các quan ngoài biên
cương, cấm không được tự tiện xâm nhiễu, vậy cứ yên trị như xưa.”
Vua nghĩ nước mình nhỏ, qui hồ giữ được trong nước yên ổn, không ai
xâm phạm đến quyền mình thì thôi. Vả lại việc thông hiếu cũng là việc
thường, mà người ta đang mạnh thế, mình cũng không thể vượt được. Ngài
mới mở tiệc yến trong cung Thánh-từ, thết đãi bọn sứ-giả, rồi lại sai Đạiphu là Trần-phụng-Công, và Viên-ngoại-lang là Nguyễn-Diễn sang sứ
Mông-cổ đáp-lễ.
Vua Mông-cổ thấy nước ta xử tử-tế chịu phục, mới sai sứ đem sắc sang
phong vương cho vua Thánh-tôn và ban thưởng 3 cuốn gấm Tây-thục, 6
cuốn gấm hoa vàng, định cho nước ta 3 năm phải một lần vào cống, mỗi lần
cống phải nộp vài người nho-sĩ, và thầy-thuốc, thầy-bói, thầy toán-số, thợ
thuyền mỗi hạng 3 người ; lại phải cống đồ sản vật, như các hạng trầmhương, sừng tê, trân-châu, đồi-mồi, vân, vân. Lại sai Nạp-xích-Đinh sang
https://thuviensach.vn
làm đạt-lộ-hoa-xích (tiếng Mông-cổ tức là quan chưởng-ấn) để giám trị các
châu quận nước Nam.
Vua sai Dương-an-Dưỡng sang Mông-cổ tạ ơn. Mông-cổ lại tặng thêm
một bộ đai ngọc, the lụa và các vị thuốc.
Vua tuy sợ thế Mông-cổ, bất đắc dĩ phải chịu nhún, nhưng vẫn có bụng
căm tức, tháng ba năm Nhâm-tuất, vua xuống chiếu hội tập các tướng và
quân-sĩ các nơi, tập chiến-trận ở bãi phù-sa sông Bạch-hạc (thuộc về tỉnh
Vĩnh-an bây giờ), sửa sang đồ khí-giới, chế tạo chiến thuyền, có ý dự phòng
việc chinh-chiến.
Bấy giờ Thái-sư Trần-thủ-Độ đã già yếu lắm. Đương mùa tháng chạp,
giời bỗng nhiên nổi bão to, cây cối đổ ngổn ngang, dân gian tàn hại, mà
Thủ-Độ phải bệnh mỗi ngày một nặng thêm, đến tháng giêng năm sau thì
mất.
Thủ-Độ tuy là người thiển học, thờ nhà Lý thì thực là một tay gian-hùng
tàn-ác, nhưng đến làm tôi nhà Trần, thì lại ra người hết lòng hết sức mấy
vua, mà cầm quyền thì rất là công bình. Vua Thái-tôn được thiên-hạ, toàn là
mưu mô tự Thủ-Độ cả ; về sau Thủ-Độ vững lòng lo việc nước, khiến cho
nhà nước nguy lại yên, kể ra thì cũng là một tay tài cán giỏi.
Có thơ khen rằng:
“Sóng gió đùng đùng vận hiểm gian,
Một tay xoay xở chống giang-sơn.
Còn đầu còn vững lòng lo nước,
Ấy mới anh-hùng ấy mới gan!"
https://thuviensach.vn
Năm Bính-dần thứ chín, (niên hiệu Hàm-thuần thứ hai nhà Tống, và
Chí-nguyên thứ ba nhà Nguyên, lịch tây 1266). Mông-cổ sai sứ đến ban
chiếu cải nguyên và ban lịch mới năm ấy.
Tháng hai vua lại sai Dương-an-Dưỡng sang xứ Mông-cổ, xin định lại
các thứ nộp cống, và xin miễn cho không phải cống các hạng nho-sĩ, bóitoán, thợ-thuyền, lại xin lưu Nạp-xích-Đinh làm đạt-lộ-hoa-xích mãi mãi.
Vua Mông-cổ tuy hứa nhời ưng cho, nhưng không bao lâu lại có chiếu
sang bắt ta phải chịu sáu khoản sau này:
1 – Phải thân vào chầu.
2 – Sai con hoặc em sang làm tin.
3 – Biên số dân nộp sang.
4 – Phải chịu việc binh-dịch.
5 – Nộp thuế má.
6 – Vẫn cứ đặt quan giám-trị.
Vua Thánh-tôn thấy Mông-cổ bắt phải chịu sáu khoản như thế, tuy
ngoài mặt vâng nhời, nhưng vẫn dùng dằng không chịu. Cách hai năm sau,
Mông-cổ lại sai Hốt-lung-hải-Nha sang thay cho Nạp-xích-Đinh làm đạt-lộhoa-xích, mà Trương-đình-Trân thì làm phó đạt-lộ-hoa-xích. Hai người
mang chiếu thư của vua Mông-cổ đến, vua nhận chiếu không bái mạng, mà
cũng không xuống chào mời bọn sứ-thần. Vua bảo với bọn ấy rằng:
- Các ngươi là một chức quan ngang hàng thế nào được với ta?
Trương-đình-Trân nói rằng:
https://thuviensach.vn
- Chúng tôi tuy làm quan, nhưng là người của thiên-tử ; người của thiêntử tuy rằng nhỏ, cũng còn ở trên hàng vua chư-hầu.
Vua nghiễm nhiên không đáp lại. Bọn ấy biết ý vua không nghe, từ giở
ra về.
Không bao lâu tòa Trung-thư bên Mông-cổ lại viết thư sang dẫn nghĩa
xuân-thu nói: “Nguyên, là trung-quốc, mà Nam-việt là chư-hầu nghĩa tất
phải kính trọng thiên-sứ."
Vua cũng nhất định không chịu, sai Lê-Đà và Đinh-củng-Viên sang sứ
Mông-cổ biện bác nghĩa ấy.
Lê-Đà, Đinh-củng-Viên, hai người đều có tài ứng đối, khi ấy phụng
mệnh đi sứ, sang đến triều-đình Mông-cổ, vua Mông-cổ mắng rằng:
- Các ngươi là sứ-thần Nam-man có phải không?
Lê-Đà tâu rằng:
- Tâu thiên-triều hoàng-đế, mọi-rợ mới gọi là man, nước chúng tôi là
nước văn-hiến, không tranh bờ lấn cõi nước nào, mà cũng không hà hiếp ai,
không gọi mà man được. Chúng tôi là sứ-thần Nam-quốc, chớ không phải
sứ-thần Nam-man.
Vua Mông-cổ thấy nói có ý sỏ xiên, tức giận, quát mắng:
- Nam chúa nhà các ngươi, không biết sức mình, làm sao dám ngạonghễ cả với thiên-triều?
- Chúa chúng tôi cũng chịu thiên-triều là to nhớn hơn, mới phải cống
hiến, sao lại gọi là ngạo-nghễ?
- Vậy chớ sao chiếu-thư đến không lạt, mà lại không kính trọng sứthần?
https://thuviensach.vn
- Lễ bái, chẳng qua là hư-văn, che mặt thế gian ở ngoài. Chúa chúng tôi
kính trọng thiên-triều là cốt tự trong lòng. Thiên-triều nếu sử nhân đức với
ngoại-quốc, thì dù chẳng lễ nhưng vẫn kính trọng muôn phần ; nếu không
có bụng kính trọng thì cho rằng bày hương-án, áo mũ lễ thì thụp, cũng
chẳng ra gì. Còn như sứ-thần chẳng qua là một người của thiên triều sai
sang, hoàng-đế là vua một nước nhớn, chúa tôi cũng là vua một nước nhỏ,
có chịu thì chỉ chịu kém hoàng-đế mà thôi, có nhẽ đâu lại phải kém cả đầytớ của thiên-triều nữa?
Vua Mông-cổ thấy hai người cãi gàn, lại càng giận lắm, hầm hầm quát
rằng:
- Quân tao đi đến đâu, tan vỡ đến đấy, chỉ sông, sông cạn, chỉ núi, núi
tan, chúng bay có biết không?
Đinh-củng-Viên tâu rằng:
- Hoàng-đế đem nhân nghĩa ra trị thiên-hạ, thì ai chẳng kính phục ; nếu
chỉ cậy binh hùng tướng dũng, thì nước nào chẳng có binh có tướng, có
sông núi hiểm trở? Nước chúng tôi tuy nhỏ mọn, cũng đủ binh tướng cho ra
tiếp ứng quân của thiên-triều.
Vua Mông-cổ thấy hai người ứng đối cứng cỏi, mà nói cũng có nhẽ dễ
nghe, biết là không ăn hiếp nổi, mới dịu sắc mặt dụ rằng:
- Các ngươi nói tuy có nhẽ, nhưng phép xưa nay có chiếu mạng thiêntriều đến thì phải lạy, mà phải trọng đãi sứ-thần. Nếu từ sau còn cưỡng nữa,
thì trẫm sẽ cất quân đến hỏi tội đó.
Hai người lạy từ giở ra.
Sáng hôm sau, Mông-cổ mở một tiệc yến trên tròi cao. Tròi có một cột
cao 10 trượng, ở trên cắm một đôi tàn, mời hai sứ lên ăn yến. Hai người biết
Mông-cổ muốn thử tài, k...
Table of Contents
HƯNG ĐẠO VƯƠNG
TỰA
HỒI THỨ NHẤT
HỒI THỨ HAI
HỒI THỨ BA
HỒI THỨ TƯ
HỒI THỨ NĂM
HỒI THỨ SÁU
HỒI THỨ BẢY
HỒI THỨ TÁM
HỒI THỨ CHÍN
HỒI THỨ MƯỜI
HỒI THỨ MƯỜI MỘT
HỒI THỨ MƯỜI HAI
HỒI THỨ MƯỜI BA
HỒI THỨ MƯỜI BỐN
HỒI THỨ MƯỜI LĂM
HỒI THỨ MƯỜI SÁU
HỒI THỨ MƯỜI BẢY
HỒI THỨ MƯỜI TÁM
Chú Thích:
https://thuviensach.vn
HƯNG ĐẠO VƯƠNG
Lê-Văn-Phúc Hòa-lâm viên tu soạn
Phan-Kế-Bính Cử-nhân kính soạn
Thái-Bình Tuần-phủ Phạm-Văn-Thụ,
duyệt chính, kính tự.
Đông-Kinh Ấn-Quán in lần thứ nhất
HA NOI 1914
***
Nguồn: Tve-4U, Wiki: Rito_1522
Bìa: Mr.black
Đánh máy:hhongxuan
Soát & Trình bày: Văn Cường
Tạo Ebook: tran ngoc anh
道大王聖像
鴻勲仁武興
德功盛偉烈
北大元帥隆
父上國公平
陳
朝
太
師
尙
陳 Trần
興 Hưng
道 Đạo
王 Vương
傳 Truyện
傳興道王陳
HƯNG-ĐẠO VƯƠNG
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
TỰA
Khổ tâm thay! những nhà sốt sắn về sự giáo-dục ở vào cuộc đời chọi
nhau bằng óc này, chăm chăm lấy bút thay gươm, rỏ mực ra máu, trên đối
với hơn 4000 năm tổ-quốc, dưới đối với hai mươi nhăm triệu đồng-bào, có
khi dùng cách trực-tiếp; cũng có khi dùng cách gián-tiếp.
Cách trực-tiếp nên dùng thế nào? Nên soạn pho sử-yếu, chép toàn bằng
chữ quốc-văn ; để hết thẩy mọi người nhớn, trẻ-con, ai nấy cũng dễ hiểu.
Cách gián-tiếp nên làm thế nào? Nên nhân lối tiểu-thuyết, đại thành ra
bộ quốc-chí, để hết thẩy nhà-quê, kẻ-chợ, đâu đấy cũng thích xem.
Bởi vì chữ là chữ nước mình, sử là sử nước mình, truyện là truyện nước
mình, hồn vía văn-minh phảng phất ở đó. Nếu muốn lên đàn diễn phép
chiêu lấy quốc-hồn, mở xưởng rèn nghề đúc nên dân-trí, chi bằng tập chữ
bản-quốc, học sử bản-quốc, xem truyện bản-quốc; nhưng thấy cách giántiếp có nhẽ so với cách trực-tiếp lại càng khỏe hơn, tiện hơn và mau hơn.
Nước ta lập quốc đã lâu, khai hóa cũng sớm. Nam-đế sơn-hà, thư giời
rọng về, trải bao phen lừng lẫy cõi Á-đông, nước tuy già, nhưng hồn vẫn
tỉnh táo, nhẽ đâu ngủ mê mãi, không ai khua thức dậy. Trách vì cớ giáo-dục
của dân nước ta, trước kia nhầm lẫn, chữ nước mình chả tập, sử nước mình
chả học, truyện nước mình chả xem, đâu là sử Tam-hoàng cho chí Tống,
Nguyên, Minh, Thanh, nhớ như văn-sách, đâu là truyện Tam-quốc cho chí
Thuyết-đường, Thủy-hử, diễn thành tấn tuồng, chỉ chăm những sự đâu đâu,
mà gốc tích nhà mình, loài giống mình, họ đang mình, nào ai là ông khởi-tổ
sáng lập ra nước, nào ai là bực anh-hùng cạnh tranh với Tầu, ai là kẻ có
công-đức với quốc dân, ai là người đăng kỷ-niệm trong xã-hội, hỏi đến thì
mơ hồ không biết, hoặc sao nhãng không nhớ, rõ thật là mồ cha chả khóc,
khóc đống mối, mồ mẹ chả khóc, khóc bối bòng bong.
https://thuviensach.vn
Than ôi! bố rồng, mẹ tiên, con nòi giống cũ, núi xanh nước biếc, vẫn đất
cất nhà, cùng chôn rau cắt rốn trong cõi Việt-nam, ai chẳng mong có lúc mở
mặt mở mày với trên thế giới. Nhưng trước hết phải lấy phù phép luyện
quốc-hồn, làm máy móc khai dân-trí, in hai chữ quốc-gia vào óc, sẽ có thể
gánh một quả địa-cầu lên vai.
Quốc-hồn ta ở đâu! Quốc-hồn ta ở đâu! Sau đời vua Ngô-vương Quyền,
vua Lý Nam-Đế, trước đời vua Lê Thái-Tổ, vua Nguyễn Quang-Trung, nẩy
ra một bực đại anh-hùng ấy là ai? là đức Hưng-đạo đại-vương Trần-quốcTuấn đó.
Đương lúc thế lực nhà Nguyên chấn động khắp cả châu Âu, châu Á, ai
ngờ trứng chọi với đá ; ngoài nước Nhật lại có nước Nam ta. Dẫu cho rằng
đất thiêng người giỏi, vua thánh tôi hiền phúc nước đã đành rồi, nhưng rút
ra chỉ trông cậy ở lòng người là vững.
Người ta tưởng nhà Trần có ông Hưng-Đạo, cũng như nhà Lý có ông
Thường-Kiệt, an nguy hệ ở một tay, không biết rằng cá khỏe vì nước, chim
khỏe vì..., có đạo thế rồi mới mong có quyền lực được, trong có một ông
Hưng-Đạo, mà ngoài bách quan hết thẩy như anh em ông Hưng-Đạo, trên
có một ông Hưng-Đạo, mà dưới cử quốc hết thẩy như con cháu ông HưngĐạo. Phỏng chỉ một ông Hưng-Đạo vác thanh thần-kiếm địch sức với lũ
Phạm-Nhan, chưa chắc đã thua nào, huống chi hằng-hà sa-số ông HưngĐạo đeo chữ “sát thát” thi gan với nòi Mông-cổ, một giọt thiết-huyết rơi
đến đâu lở đất long giời, một ngọn nghĩa-kỳ phất đến đâu cuốn mây quét
gió, dẫu mười cậu Thoát-Hoan thái-tử, trăm chú Mã-Nhi kiêu tướng, cũng
chả vần chi.
Lạ thay! nhà Trần vì đâu gây dựng nên cách dân-đoàn, chỉ vì theo tôngiáo Phật, biết nghĩa xả-thân cứu thế, thật bác-ái, thật mạo-hiểm, thật nhẫnnại, tu trọn ba điều công-đức, và mở ra một cách văn-minh; này như vua tôi
ăn yến, rắt tay mà hát, có ý bình đẳng ; hội-đồng kỳ-lão, bàn sự đánh
Nguyên, có ý lập hiến ; rất tốt là lý-trưởng, dùng toàn ngũ lục phẩm quan,
https://thuviensach.vn
giao quyền xử đoán, đã phân minh ra cách địa-phương tự-trị rồi. Bởi vậy
dân-quyền ngày càng trọng, dân-đức ngày càng tiến, và quốc-hồn ngày
càng khỏe mạnh. Tiếc cho trước kia quốc-sử không thể vẽ được hết cái tinhthần, mà sau này quốc-dân chỉ biết sùng kính những cái hình-thức, nào đâu
là lập tĩnh, lập điện, lên cốt, lên đồng, bắt tà, bắt ma, phát bùa, phát dấu,
thành ra một thói tin mê, so lấy nghĩa kỷ-niệm công-đức, đã là trái cách
văn-minh, luận đến điều tiết-độc thần-minh, lại đáng ghép vào tội lệ. Sao
không nghĩ vua quan nhà Trần đều học phật, mà đắc đạo đấy, đối với
chúng-sinh cầu sự xá-thí, chớ có mong gì hưởng báo đâu; nếu ta biết sùng
kính ông Hưng-Đạo về sự thánh thần, thì cái quốc-hồn ta tỉnh, nếu ta chỉ
sùng kính ông Hưng-Đạo về sự ma quỉ, thì cái quốc-hồn ta mê. Mê mê, tỉnh
tỉnh, bởi tự lòng ta, hễ có học vấn, thì sẽ có tư tưởng, có tư tưởng thì sẽ có
ngôn luận, có ngôn luận thì sẽ có sự thực.
Nay gặp hội nhà-nước, rộng lòng khai hóa, bắt đầu sự học cần bực phổthông, muốn dùng cách trực-tiếp chăng, chả gì bằng soạn sử quốc-ngữ ;
muốn dùng cách gián-tiếp chăng, chả gì bằng soạn truyện quốc-ngữ ; lột hết
cái tinh-thần quốc-sử ra chữ quốc-văn, thật ích cho đồng-bào ta lắm ; tiện
cho học-giới ta lắm. Tôi vẫn ước ao dịp này, sau cũng có nhà chước thuật,
vì nước tổ Việt ta mở rạp diễn-văn, may sao gặp sở Đông-kinh-ấn-quán đưa
bộ sách này, xét thể cách hệt như lối Tam-quốc-chí, vừa có sự thực, vừa có
nghị-luận, chắc những người có huyết-tính, xem sách này ai cũng phải kính,
cũng phải mến, cũng phải hát, cũng phải khóc, cũng phải đặt quyển mà thở
dài. Vậy đốt hương mà viết bài này, trước là ghi cái cảm tình của quốc dân,
sau nữa giải cái khổ-tâm của người tác-giả. Thử hỏi nay những nhà sốt-sắn
về sự giáo dục nghĩ làm sao đây?
Đàn-viên Phạm-Văn-Thụ kính soạn.
***
https://thuviensach.vn
HỒI THỨ NHẤT
Nhân dịp biến, anh-hùng xuất hiện,
Ỷ thế to, đạo-khấu tung hoành.
Trải xem xưa nay nước Nam anh-hùng, hào-kiệt cũng nhiều, mà anhhùng lại thường nhân lúc biến loạn mới hiển tiếng. Về thời trước như NgôQuyền, Đổng-thiên-vương, Bố-Cái-đại-vương, Đinh-tiên-hoàng, hai vị
Trưng-Trắc, Trưng-Nhị, Lý-thường-Kiệt, tuy so với thế-giới thì chưa thấm
vào đâu, nhưng trong một thời làm nên công nghiệp kinh thiên, động địa,
cho dân cho nước được nhờ, thì cũng lưu được tiếng thơm về sau, khiến cho
ai ai nghe thấy truyện, phải kinh, phải trọng, phải yêu, phải mến, mà đúc
nên được một cái hồn tỉnh táo trong cõi Nam-việt.
Từ khi những bậc anh-hùng ấy quá vãng, non nước trải bao thu, kế đến
nhà Trần, mới lại có một tay đại anh-hùng xuất thế.
Triều nhà Trần, lòng giời mở vận Đông-a, tổ tích phát tại làng Tức-mặc
(về huyện Mỹ-lộc, tỉnh Nam-định). Vua Thái-tôn thay ngôi nhà Lý, ngài là
một vị minh quân, lại nhờ có văn võ trăm quan, hết lòng phò tá. Tự khi lên
ngôi đến bây giờ, ngoại 30 năm, bốn phương yên ổn, trăm họ vui vẻ thái
bình.
Bấy giờ bên Tầu đang thời vua Lý-tôn nhà Tống. Nhà Tống lúc ấy đang
vận suy nhược, mà vận nhà Nguyên sắp lên. Nhà Nguyên thì vốn là giống
Mông-cổ. Vua Thế-tổ nhà Nguyên tên là Hốt-tất-Liệt, đang lúc cường thịnh
binh hùng tướng dũng, nay đánh Kim, mai lấn Tống, chỉ chăm một việc mở
mang bờ cõi.
Trong năm Đinh-tị, niên hiệu Nguyên-phong thứ bẩy (năm Bảo-hữu thứ
năm nhà Tống, lịch tây 1257 sau Thiên-chúa giáng sinh), tướng Mông-cổ
tên làm Ngột-lương-cáp-Thai (có bản dịch là Ô-lan-cáp-Đạt) nhân vừa bình
https://thuviensach.vn
định xong đất Đại-lý tức là đất Vân-nam) tháng tám kéo quân tràn sang
phận Hưng-hóa nước Nam.
Chúa trại Qui-hóa tên là Hà-Khuất, vội vã sai người chạy ngựa phi báo
về kinh-đô Thăng-long (tức Hà-nội).
Bữa sau vua Thái-Tôn khai chầu, trăm quan áo mũ lạy trước sân rồng,
tung hô ba tiếng, rồi có Thái-sư tướng-quốc là Trần-thủ-Độ (chú vua) ra ban
tâu rằng:
- Tâu bệ hạ, nay có chúa trại Qui-hóa báo tin rằng quân Mông-cổ tràn
vào phận Hưng-hóa, xin thánh chỉ phán cho làm sao?
Mặt rồng nổi giận, phán rằng:
- Mông-cổ vô cố dám lấn vào cõi ta, chẳng hay văn võ các ngươi, có ai
ra phòng ngữ được cho trẫm không?
Có một vì vương bước ra tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, thần xin cất quân ra phòng ngữ.
Vua nhác trông ra thấy một vì mắt phượng, môi son, trán cao, hàm én,
oai phong dũng mãnh, tướng mạo khôi ngô, mới gần trạc 30 tuổi.
Vua cả mừng nói rằng:
- Nếu cháu có bụng can đảm như thế, vậy thì cho cháu cất quân đi,
nhưng ra đó mà liệu thế không chống nổi, thì lập tức phi báo về cho trẫm
biết.
Vị ấy mừng rỡ lạy tạ giở ra, các quan đều trông mặt thì là Hưng-đạo
vương, ngài họ Trần húy Quốc-Tuấn, phụ thân ngài là An-sinh vương Liễu,
tức là anh ruột vua Thái-tôn, mẫu thân là An-sinh vương phu-nhân, húy
Nguyệt.
https://thuviensach.vn
Khi trước, phu-nhân có mơ thấy một ông thần, tinh vàng, tướng ngọc, tự
xưng là Thanh-tiên-đồng-tử, phụng mệnh Ngọc-hoàng, ban cho kiếm ấn và
đủ tam tài, ngũ bảo, xuống xin đầu thai. Nhân thế có mang. Đến khi sinh ra
ngài[1] gió thơm ngào ngạt, ánh sáng rực nhà. Cách hôm sau có người đạosĩ đến nói rằng: “Đêm qua tôi coi thiên văn, thấy một vì tướng tinh sa
xuống ở đây, vậy tôi xin đến bái kiến.” An-sinh-vương đưa ngài ra cho đạosĩ xem. Người ấy xem xong, nói rằng: “Quí hóa! vương-tử mai sau tất yên
được dân, cứu được đời, làm vẻ vang cho nhà-nước.”
Ngài đầy tuổi tôi đã biết nói. Lên sáu tuổi đã biết bày bát trận, làm thơ
ngũ ngôn, thông minh khác chúng, An-sinh vương kén những người có tài
dạy ngài học ; ngài học đến đâu thông đến đấy, xem rộng các sách, mà học
thì cốt trọng trung hiếu làm đầu. Lại kiêm tập cả nghề võ; thường bàn thaolược với Chiêu-văn vương Nhật-Duật (con thứ sáu vua Thái-tôn), đêm ngày
không biết chán, hai anh em rất tương-đắc với nhau. Có khi hầu vua giảng
sách trong tòa Kinh-diên, giảng bàn nghĩa-lý, ứng đối như nước chẩy. Khi
nào nhàn thì tập bắn. Lại thường đem lục-thao, tam-lược của Thái-công,
Tử-phòng diễn làm trận đồ, để dạy các tướng. Ngài xử với người bề dưới
thì hiền-từ, tiết-kiệm, khoan-dong, đó là tam-tài ; dùng người thì kén người
trí-mưu, nhân-hậu, dũng-lược, trung-thực, tin-cẩn, đó là ngũ-bảo, cho nên
các tướng-sĩ nhiều người vui lòng theo với ngài.
Hưng-Đạo vương có bốn con, con cả là Hưng-võ vương Trần-quốcNghiễn, thứ hai là Hưng-hiếu vương Quốc-Uy, hai vị bấy giờ đã 15,16 tuổi,
giỏi nghề cung ngựa, sức lực hơn người. Con thứ ba là Hưng-nhượng
vương Quốc-Tảng, con thứ tư là Hưng-trí vương Quốc-Nghê, hai vị này thì
mới 12, 13 tuổi, còn đang học hành. Lại có một cô con gái tên là Trinh, và
một cô con nuôi tên là Nguyên. Hai người tuy còn nhỏ, nhưng nhan-sắc,
trông đã xinh-dòn, cũng đang học nghề nghiên bút.
Ngài lại có 5 tướng bộ-hạ cực giỏi: một người là Dã-Tượng, sức khỏe
như voi ; một người là Cao-Mang ; một người là Đại-Hành ; một người là
https://thuviensach.vn
Nguyễn-địa-Lô, ba người ấy cũng võ nghệ cao-cường, muôn người khôn
địch. Một người họ Yết tên Kiêu tự là Hữu-Thế, người ở làng Hạ-bì tỉnh
Hải-dương, khi trước thường vác cuốc ra bãi bể, thấy hai con trâu trắng ở
dưới bể lên chọi nhau trên bãi cát, một hôm Yết-Kiêu ngồi dình cầm cuốc
đánh vào đầu trâu, trâu chạy nhào cả xuống bể ; Yết-Kiêu giơ cuốc xem thì
có lông trâu dính đầu cuốc ; Yết-Kiêu cho là của quí, nuốt ngay vào bụng,
tự bấy giờ sức khỏe lạ thường, lội dưới nước như đi trên mặt đất.
Khi ấy Hưng-đạo vương phụng mệnh về nhà thu xếp đồ khí giới, chia
quân làm hai mặt, sai Dã-Tượng dẫn một đạo đi đường bộ, Yết-Kiêu dẫn
một đạo đi đường thủy, ngài dẫn hai con là Hưng-võ vương, Hưng-hiếu
vương và các tướng đi sau. Tháng chín năm ấy, trống vang giời, cờ dợp đất,
ba đạo quân tự thành Thăng-long kéo lên mặt Hưng-hóa.
Tướng tiên-phong là Dã-Tượng đến trước, cắm đồn lập trại, chia giữ các
nơi, cách vài ba ngày, Hưng-đạo vương dẫn đại quân cũng đến nơi.
Ngột-lương-cáp-Thai nghe tin đại quân chia làm hai ngả kéo đến, liền
sai phó tướng là Xích-tu-Tư dẫn quân đánh mặt thủy, còn mình thì dẫn quân
đánh mặt bộ.
Hưng-đạo vương dàn trận, sai Dã-Tượng ra khiêu chiến. Dã-Tượng cắp
đao phi ngựa ra trước trận, thét to lên rằng:
- Bớ quân khuyển-dương kia! sao dám vô-cố xâm phạm vào nước ta?
Ngột lương-cáp-Thai nổi giận, sai tên kiêu-tướng là Áo-lỗ-Xích múa
thương ra địch. Hai tướng đấu nhau hơn 100 hợp, chưa rõ được thua, bỗng
dưng trong trận Ngột-Lương trống nổi ầm ầm, quân Mông-cổ chia làm hai
mặt tràn đến, như nước vỡ đê. Hưng-đạo vương vội vàng chia quân ra địch ;
nhưng quân mình ít, quân Mông-cổ thì nhiều, Hưng-đạo vương liệu bề cự
không nổi rút quân chạy về Sơn-tây. Quân Mông-cổ thừa thế, đuổi tràn mãi
xuống sông Thao mới đóng quân.
https://thuviensach.vn
Yết-Kiêu nghe tin đại quân lui về Sơn-tây, cũng thu thuyền lui về. Xíchtu-Tư đuổi không kịp, liền hợp quân với Ngột-lương-cáp-Thai.
Hưng-đạo vương đóng quân ở Sơn-tây, sai người về kinh-đô cáo cấp.
Vua Thái-tôn được tin cả kinh, hội quần thần lại thương-nghị, rồi truyền
chỉ ngự-giá thân-chinh.
Sáng hôm sau sai kén 10 chiếc thuyền rồng cực to, và 300 chiến thuyền.
Vua dẫn quân Thánh-dực (tức là quân Ngự-lâm) làm trung-quân; Thái-sư là
Trần-thủ-Độ và Tướng-quân là Nguyễn-Khoái dẫn tả-quân, Thái-úy là
Trần-nhật-Hiệu và Tướng-quân là Trần-bình-Trọng dẫn hữu-quân. Mỗi
cánh dẫn 100 chiến thuyền, 3.000 quân-sĩ. Lê-phụ-Trần dẫn 20 chiến
thuyền làm tiên-phong.
Thượng tuần tháng chạp, chiến thuyền kéo tự sông Phú-lương (tức sông
Nhị-hà) lên mạn sông Thao, đem quân lên bộ dàn trận.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân ra đánh. Vua xông pha mũi tên hòn đạn,
đốc thúc các tướng vào đánh. Tướng tiên-phong là Lê-phụ-Trần, một
thương một ngựa, xông thẳng vào trận giặc đánh giết, ngựa đến đâu, quân
Mông-cổ rẽ ra đến đấy. Tuy vậy quân Mông-cổ bấy giờ đang mạnh thế quá,
các tướng đánh cũng hăng, nhưng vẫn kém thế. Một hồi lâu quan quân dần
dần núng thế phải lui. Vua dẫn quân xuống thuyền chạy về, sai Lê-phụ-Trần
đi đoạn hậu, giặc cũng kéo xuống thuyền đuổi theo, tên bắn như mưa, PhụTrần cầm một mảnh ván thuyền đỡ tên, thuyền vua chạy được thoát.
Hưng-đạo vương trông thấy thế giặc to quá, liệu bề giữ thành không nổi
cũng rút quân về.
Quan quân lui về đến đâu, thì giặc thừa thế, đuổi tràn đến đấy. Dần dần
tràn xuống đến sông Phú-lương. Ngột-lương-cáp-Thai vào phá kinh-thành,
thấy ba người sứ-giả, bị giam trong ngục, người nào cũng trói bằng chạc
tre, lẳn vào trong thịt. Nguyên là sứ của Mông-cổ, sai đến dụ hàng, mà vua
https://thuviensach.vn
không nghe, giam lại ở đấy. Quân Mông-cổ cởi trói cho ba người ấy, thì
một người bị đau mà chết.
Ngột-lương-cáp-Thai giận lắm nghiến răng mà nói rằng:
- Ái chả! ai ngờ quân Nam-việt độc dữ làm vậy, xưa nay hai nước đánh
nhau, không giết sứ-giả bao giờ, mà nỡ xử tệ ác thế?
Lập tức truyền quân-sĩ, cho làm cỏ nhân dân trong thành. Thương hại
thay! già trẻ trăm họ bấy giờ, tóc bạc, đầu xanh, làm gì nên tội, chẳng may
gặp phải quân hung-ác, giận cá chém thớt, nó biết trách người xử tệ, mà nó
xử tệ lại gấp trăm, gấp nghìn! Xưa nay an-nghiệp sung-sướng nhường nào,
mà bỗng dưng người bị đâm, kẻ bị chém, người già, con trẻ cũng mắc phải
tai nạn, cửa nhà tàn phá, vườn ruộng tan hoang, nói ra xót ruột đau lòng, ai
là không muốn sả thây moi ruột những quân tàn ác ấy.
Quân Mông-cổ làm cho phũ tay tàn ác, rồi lại tiến quân đuổi theo đến
bến Đông-bộ-đầu (thuộc huyện Thượng-phúc, Hà-nội). Vua lui quân về
sông Thiên-mạc (thuộc về phủ Lý-nhân).
Hưng-đạo vương bấy giờ tuy được dự cầm quân, nhưng quyền chính
còn do tự thái-sư Trần-thủ-Độ, và thái-úy Trần-nhật-Hiệu. Thủ-Độ cũng là
một tay tài cán giỏi, hết lòng lo việc nước. Nhật-Hiệu thì tiếng là hoàngthân, cầm quyền triều-đình, mà trí mưu thì kém, lắm lúc nguy hiểm không
có tài ứng biến.
Khi ấy vua thấy quân Mông-cổ mạnh thế, quân mình đã nguy núng đến
nơi. Ngự thuyền đến hỏi Nhật-Hiệu xem có kế gì không. Nhật-Hiệu đang
ngồi đầu thuyền, thấy vua hỏi, không biết nghĩ ra làm sao, mới cầm cái bơi
chèo viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”, là có ý khuyên vua chạy sang
Tống.
Vua lại hỏi:
https://thuviensach.vn
- Thế quân Tinh-cương [2] ở đâu?
- Tâu bệ-hạ, đòi chúng nó không đến nữa.
Vua bực mình, quay thuyền đến hỏi Trần-thủ-Độ. Thủ-Độ thì gan vẫn
vững, mà ứng biến lại nhanh, liền tâu rằng:
- Muôn tâu bệ-hạ, đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ-hạ đừng lo!
Vua thấy nói cứng cỏi, bấy giờ cũng hơi vững dạ.
Đó là:
Chỉ vị bền lòng lo việc nước,
Mới hay phá giặc lập công to.
Chưa biết sự thể về sau thế nào, sẽ xem hồi sau phân giải.
https://thuviensach.vn
HỒI THỨ HAI
Khéo dùng mưu, thế bại thành thế thắng,
Chịu thông hiếu, cuộc chiến đổi cuộc hòa.
Bấy giờ vua Thái-tôn đóng quân ở sông Thiên-mạc, cự nhau với quân
Mông-cổ non nửa tháng, sực lại có hai sứ-giả của Ngột-lương-cáp-Thai sai
đến dụ hàng. Vua giận quân Mông-cổ độc ác, sai trói sứ-giả đuổi về. Liền
hội các quan thương nghị kế phá giặc.
Trần-thủ-Độ hiến kế rằng:
- Quân Mông-cổ tự khi sang đây, đánh trận nào được trận ấy, tướng sĩ
sinh bụng kiêu căng, coi ta rẻ rúng, chắc không phòng bị, vậy đêm hôm nay
xin đến cướp trại giặc thì tất phá được.
Vua nghe nhời, sai Thủ-Độ, Nhật-Hiệu, Lê-phụ-Trần lĩnh 5.000 quân,
dẫn 50 chiến thuyền, kéo tự đấy lên bến Đông-bộ-đầu. Một mặt sai Hưngđạo vương, dẫn 30.000 quân mã men bờ sông tiến lên. Còn vua tự dẫn
30.000 quân tiếp ứng.
Chiều vàng vàng mặt giời, Thủ-Độ truyền quân ngả cờ im trống dần dần
tiến lên bến Đông-bộ-đầu. Bấy giờ vào đầu hạ tuần tháng chạp, thuyền đi
mặt nước, lấp loáng bóng giăng, mấy chòm u uất bóng cây xanh, một giải
mông mênh mầu lụa trắng, bốn bề lặng ngắt, thuyền đi vùn vụt như tên. Khi
canh hai gần đến trại giặc, cách 3 dặm mặt sông, gặp mười chiếc thuyền
tuần-tiễu của giặc mỗi thuyền ước chừng 30 người. Thủ-Độ nổi hiệu còi,
dàn thuyền vây, bắt được 8 chiếc, còn 2 chiếc chạy thoát về phi báo. ThủĐộ thúc thuyền bơi ùa vào đuổi mãi đến tận trại giặc, quả nhiên giặc không
phòng bị trước. Lê-phụ-Trần trước hết xông vào, phóng hỏa đốt thuyền
giặc, quan quân dàn thuyền ra ba mặt đánh thốc vào. Quân Mông-cổ đương
giấc ngủ mê, choàng đứng dậy, kinh hồn thất đảm, xô xát, dẫm nhau, kẻ thì
https://thuviensach.vn
chạy lên bờ, kẻ thì nhào xuống sông, chỉ tìm đường thoát thân, không ai
bụng nào kháng cự.
Đêm hôm ấy, trên mặt sông, lửa sáng rực giời, trống đánh vang sông,
Ngột-lương-cáp-Thai ở trại trên cạn, vội vàng thúc quân xuất chiến thuyền
ra đánh, lại gặp phải đại quân của vua Thái-tôn vừa đến, hợp binh đánh giết,
quân Mông-cổ chết hại rứt nhiều.
Ngột-lương-cáp-Thai thấy núng thế, lại kéo quân lên bộ tháo đường
chạy. Quan quân chia làm hai mặt, một mặt đánh dưới sông, một mặt lên bộ
đuổi theo.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn bại quân tất tả cắm đầu chạy, đến đầu canh tư
bỗng thấy một tiếng pháo nổ, lửa cháy bùng bùng, quân ở đôi bên đường
kéo ra đánh. Ngột-lương-cáp-Thai trông thấy hiệu cờ Hưng-Đạo vương cố
sức chống cự một hồi, rồi vừa đánh vừa lui, chạy thoát vào thành Thănglong.
Thuyền giặc phần bị cháy, phần bị đắm mất nhiều, chỉ chạy thoát được
một ít mà thôi, còn bao nhiêu thì bị quan quân bắt được cả.
Sáng hôm sau, vua Thái-tôn đốc quân thắng trận lên sông Phú-lương,
khôi phục kinh thành. Ngột-lương-cáp-Thai rút quân lên mặt thượng-du.
Vua Thái-tôn thu phục kinh-đô, mở tiệc khao thưởng các tướng, phủ-dụ ba
quân. Cất Lê-phủ-Trần làm Ngự-sử đại-phu, và gả Thiên-thánh công-chúa
họ Lý cho.
Vua lấy nhời an ủy rằng:
- Trẫm khen ngươi cả gan xông đột, nếu không có ngươi thì sao có lúc
bây giờ, vậy ngươi nên gắng sức thêm lên, để cùng hưởng sung sướng với
nhau mãi mãi.
Lê-phụ-Trần lạy tạ ơn vua.
https://thuviensach.vn
Vua lại xa tội cho tên tiểu-hiệu Hoàng-cự-Đà. Nguyên khi trước vua có
ban cho tả hữu, mỗi người một quả muỗm, Hoàng-cự-Đà không được,
mang lòng căm tức. Đến khi đại-quân cự nhau với quân Mông-cổ ở Đôngbộ-đầu. Cự-Đà đi một chiếc thuyền lẻn về trước. Đi đến sông Hoàng-giang
(thuộc về huyện Nam-sang) thì gặp Thái-tử đi thuyền ngược lên, Cự-Đà bơi
thuyền lánh vào ven bờ. Quan quân trông thấy gọi to lên rằng: “Quân
Mông-cổ ở đâu?” Cự-Đà vốn lòng căm tức đã lâu, nhân dịp nói cho hả, liền
đáp lại rằng: “Không biết! hỏi những thằng ăn muỗm ấy!” Thái-tử nổi giận,
muốn bắt trị tội ngay, nhưng còn mắc việc đánh giặc là quan hệ hơn, vậy
mới để tội ấy không hỏi vội. Đến khi nay bình định đâu đấy, Thái-tử xin bắt
tội Cự-Đà. Vua thương hại đứa ngu dại, vì một miếng ăn nên oán, coi quả
muỗm to hơn quả núi Tản-viên, quên bụng trung vua yêu nước, dù có giết
đi cũng chẳng làm gì, vậy vua xá tội cho thân sâu bọ ấy, để cho khi khác
biết khôn đánh giặc mà chuộc tội.
Nói về Ngột-lương-cáp-Thai kéo quân về mặt thượng-du, qua địa phận
Hưng-hóa để về Vân-nam. Khi qua một cánh rừng, bỗng thấy hai bên sườn
núi, trống đánh thùng thùng, rồi thấy một đội quân mã, ước chừng 3.000
người, đầu đội nón buồm, mình mặc áo xanh, mỗi người tay cầm một đồ
binh khí, lưng đeo một bộ cung tên, kéo tràn xuống núi, một tướng đi đầu
mắt lồi, râu rậm, mặt sàm sạm đen, tướng dữ như cọp, một tay cầm lá mộc,
một tay cầm mã-đao, quất ngựa xông vào, quát lên rằng:
- Quân kia đi đâu?
Ngột-lương-cáp-Thai sai tên tì tướng múa thương ra đánh, vừa nhẩy vào
thì đã bị tướng ấy chém quay xuống ngựa. Quân Mông-cổ kéo bừa vào
đánh, quân bên kia bắn tên ra như mưa, trên đầu tên có thuốc độc, ai hơi tin
phải thì buốt vào đến xương rồi chết. Hai bên đánh nhau lộn bậy một hồi,
Ngột-lương-cáp-Thai, tháo đường chạy được thoát. Quân Mông-cổ chết hại
rất nhiều.
https://thuviensach.vn
Tướng ấy nguyên là chúa trại Qui-hóa họ Hà tên Bổng, xưa nay vẫn là
người hùng-dũng vùng ấy. Hà-Bổng biết tin quân Mông-cổ thua trận, tất do
đường ấy về Tàu, cho nên họp tập quân mường, đón đường đánh chẹn
ngang.
Ngột-lương-cáp-Thai dẫn quân về Vân-nam. Hà-Bổng thì sai người về
kinh-đô, báo tin thắng trận, và nộp các đồ bắt được của giặc.
Vua thấy người can-đảm hùng-dũng làm vậy, cả khen và phong cho HàBổng tước hầu lại ban thưởng cho rất hậu.
Quân Mông-cổ tự khi thua trận ấy trở về, phần là thua thì sinh chán,
phần là mới lấy được Vân-nam, chỉ mong về cho chóng, không bụng nào
tranh chiếm gì nữa, cho nên đi đến đâu không nhũng nhiễu gì đến dân sự.
Dân thì còn biết bụng giặc là thế nào, thấy nó không quấy nhiễu, thì cho là
giặc hiền lành, nhân đức, gọi là
Phật-tặc, nghĩa là giặc hiền như bụt.[3]
Vua Thái-tôn bình định xong giặc Mông-cổ, sai sứ sang Tống-triều
thông hiếu, cống một đôi tượng, vì bấy giờ nước ta vẫn phải cống về Tàu.
Mông-cổ thấy vậy cũng sai sứ sang bắt ta phải cống. Vua nghĩ nước mình
hẹp nhỏ, mà Mông-cổ tuy tạm thua một lúc, nhưng vẫn có thế hùng-cường,
mà mình không có thể cưỡng mãi được. Nghĩ như thế mới sai Lê-phụ-Trần
sang sứ, định 3 năm xin nộp cống một lần.
Tháng hai năm Mậu-ngọ, vua nhường ngôi cho Thái-tử Hoảng. Thái-tử
lên ngôi, tức là vua Thánh-tôn, cải niên hiệu gọi là Thiệu-long. Tôn vua cha
lên làm Hiển-nghiên-thánh-thọ Thái-thượng hoàng-đế.
Vua Thánh-tôn lên ngôi phong em là Quang-Khải (con thứ hai vua
Thái-tôn) làm Chiêu-minh đại-vương. Cất Nguyễn-giới-Huân làm Đạihành-khiển, Lê-phụ-Trần làm Thủy-quân Đại-tướng-quân.
https://thuviensach.vn
Năm Canh-thân niên hiệu Thiệu-long thứ ba (năm Cảnh-thịnh thứ nhất
nhà Tống và năm Trung-thống thứ nhất vua Thế-tổ nhà Nguyên, lịch tây
1260) Mông-cổ sai Nạp-xích-Đinh mang chiếu-thư sang dụ rằng:
“Khi trước sai sứ sang thông-hiếu, dám giam chấp lại không cho về,
cho nên năm ngoái mới sinh việc binh nhung. Khi sau cho hai sứ sang chiêu
an, lại dám trói mà đuổi về. Nay lại cho sứ sang khai dụ lần nữa, nếu biết
đổi dại dốc lòng nội phụ, thì phải thân sang chầu”.
Vua Thánh-tôn tiếp được thư, phục thư lại rằng:
“Đợi khi nào có chiếu mạng đưa đến, sẽ xin sai tử-đệ vào làm tin”.
Nguyên Thế-tổ tiếp được thư giả nhời, bèn sai Lễ-bộ Lang-trung là
Mạnh-Giáp và Viên-ngoại-lang là Lý-văn-Tuấn lại đem thư sang dụ rằng:
“Phàm các quan liêu, sĩ, thứ bên An-nam, áo, mũ, phép, tắc, mặc y cho
tuân tục bản quốc. Trung-quốc cũng đã răn bảo các quan ngoài biên
cương, cấm không được tự tiện xâm nhiễu, vậy cứ yên trị như xưa.”
Vua nghĩ nước mình nhỏ, qui hồ giữ được trong nước yên ổn, không ai
xâm phạm đến quyền mình thì thôi. Vả lại việc thông hiếu cũng là việc
thường, mà người ta đang mạnh thế, mình cũng không thể vượt được. Ngài
mới mở tiệc yến trong cung Thánh-từ, thết đãi bọn sứ-giả, rồi lại sai Đạiphu là Trần-phụng-Công, và Viên-ngoại-lang là Nguyễn-Diễn sang sứ
Mông-cổ đáp-lễ.
Vua Mông-cổ thấy nước ta xử tử-tế chịu phục, mới sai sứ đem sắc sang
phong vương cho vua Thánh-tôn và ban thưởng 3 cuốn gấm Tây-thục, 6
cuốn gấm hoa vàng, định cho nước ta 3 năm phải một lần vào cống, mỗi lần
cống phải nộp vài người nho-sĩ, và thầy-thuốc, thầy-bói, thầy toán-số, thợ
thuyền mỗi hạng 3 người ; lại phải cống đồ sản vật, như các hạng trầmhương, sừng tê, trân-châu, đồi-mồi, vân, vân. Lại sai Nạp-xích-Đinh sang
https://thuviensach.vn
làm đạt-lộ-hoa-xích (tiếng Mông-cổ tức là quan chưởng-ấn) để giám trị các
châu quận nước Nam.
Vua sai Dương-an-Dưỡng sang Mông-cổ tạ ơn. Mông-cổ lại tặng thêm
một bộ đai ngọc, the lụa và các vị thuốc.
Vua tuy sợ thế Mông-cổ, bất đắc dĩ phải chịu nhún, nhưng vẫn có bụng
căm tức, tháng ba năm Nhâm-tuất, vua xuống chiếu hội tập các tướng và
quân-sĩ các nơi, tập chiến-trận ở bãi phù-sa sông Bạch-hạc (thuộc về tỉnh
Vĩnh-an bây giờ), sửa sang đồ khí-giới, chế tạo chiến thuyền, có ý dự phòng
việc chinh-chiến.
Bấy giờ Thái-sư Trần-thủ-Độ đã già yếu lắm. Đương mùa tháng chạp,
giời bỗng nhiên nổi bão to, cây cối đổ ngổn ngang, dân gian tàn hại, mà
Thủ-Độ phải bệnh mỗi ngày một nặng thêm, đến tháng giêng năm sau thì
mất.
Thủ-Độ tuy là người thiển học, thờ nhà Lý thì thực là một tay gian-hùng
tàn-ác, nhưng đến làm tôi nhà Trần, thì lại ra người hết lòng hết sức mấy
vua, mà cầm quyền thì rất là công bình. Vua Thái-tôn được thiên-hạ, toàn là
mưu mô tự Thủ-Độ cả ; về sau Thủ-Độ vững lòng lo việc nước, khiến cho
nhà nước nguy lại yên, kể ra thì cũng là một tay tài cán giỏi.
Có thơ khen rằng:
“Sóng gió đùng đùng vận hiểm gian,
Một tay xoay xở chống giang-sơn.
Còn đầu còn vững lòng lo nước,
Ấy mới anh-hùng ấy mới gan!"
https://thuviensach.vn
Năm Bính-dần thứ chín, (niên hiệu Hàm-thuần thứ hai nhà Tống, và
Chí-nguyên thứ ba nhà Nguyên, lịch tây 1266). Mông-cổ sai sứ đến ban
chiếu cải nguyên và ban lịch mới năm ấy.
Tháng hai vua lại sai Dương-an-Dưỡng sang xứ Mông-cổ, xin định lại
các thứ nộp cống, và xin miễn cho không phải cống các hạng nho-sĩ, bóitoán, thợ-thuyền, lại xin lưu Nạp-xích-Đinh làm đạt-lộ-hoa-xích mãi mãi.
Vua Mông-cổ tuy hứa nhời ưng cho, nhưng không bao lâu lại có chiếu
sang bắt ta phải chịu sáu khoản sau này:
1 – Phải thân vào chầu.
2 – Sai con hoặc em sang làm tin.
3 – Biên số dân nộp sang.
4 – Phải chịu việc binh-dịch.
5 – Nộp thuế má.
6 – Vẫn cứ đặt quan giám-trị.
Vua Thánh-tôn thấy Mông-cổ bắt phải chịu sáu khoản như thế, tuy
ngoài mặt vâng nhời, nhưng vẫn dùng dằng không chịu. Cách hai năm sau,
Mông-cổ lại sai Hốt-lung-hải-Nha sang thay cho Nạp-xích-Đinh làm đạt-lộhoa-xích, mà Trương-đình-Trân thì làm phó đạt-lộ-hoa-xích. Hai người
mang chiếu thư của vua Mông-cổ đến, vua nhận chiếu không bái mạng, mà
cũng không xuống chào mời bọn sứ-thần. Vua bảo với bọn ấy rằng:
- Các ngươi là một chức quan ngang hàng thế nào được với ta?
Trương-đình-Trân nói rằng:
https://thuviensach.vn
- Chúng tôi tuy làm quan, nhưng là người của thiên-tử ; người của thiêntử tuy rằng nhỏ, cũng còn ở trên hàng vua chư-hầu.
Vua nghiễm nhiên không đáp lại. Bọn ấy biết ý vua không nghe, từ giở
ra về.
Không bao lâu tòa Trung-thư bên Mông-cổ lại viết thư sang dẫn nghĩa
xuân-thu nói: “Nguyên, là trung-quốc, mà Nam-việt là chư-hầu nghĩa tất
phải kính trọng thiên-sứ."
Vua cũng nhất định không chịu, sai Lê-Đà và Đinh-củng-Viên sang sứ
Mông-cổ biện bác nghĩa ấy.
Lê-Đà, Đinh-củng-Viên, hai người đều có tài ứng đối, khi ấy phụng
mệnh đi sứ, sang đến triều-đình Mông-cổ, vua Mông-cổ mắng rằng:
- Các ngươi là sứ-thần Nam-man có phải không?
Lê-Đà tâu rằng:
- Tâu thiên-triều hoàng-đế, mọi-rợ mới gọi là man, nước chúng tôi là
nước văn-hiến, không tranh bờ lấn cõi nước nào, mà cũng không hà hiếp ai,
không gọi mà man được. Chúng tôi là sứ-thần Nam-quốc, chớ không phải
sứ-thần Nam-man.
Vua Mông-cổ thấy nói có ý sỏ xiên, tức giận, quát mắng:
- Nam chúa nhà các ngươi, không biết sức mình, làm sao dám ngạonghễ cả với thiên-triều?
- Chúa chúng tôi cũng chịu thiên-triều là to nhớn hơn, mới phải cống
hiến, sao lại gọi là ngạo-nghễ?
- Vậy chớ sao chiếu-thư đến không lạt, mà lại không kính trọng sứthần?
https://thuviensach.vn
- Lễ bái, chẳng qua là hư-văn, che mặt thế gian ở ngoài. Chúa chúng tôi
kính trọng thiên-triều là cốt tự trong lòng. Thiên-triều nếu sử nhân đức với
ngoại-quốc, thì dù chẳng lễ nhưng vẫn kính trọng muôn phần ; nếu không
có bụng kính trọng thì cho rằng bày hương-án, áo mũ lễ thì thụp, cũng
chẳng ra gì. Còn như sứ-thần chẳng qua là một người của thiên triều sai
sang, hoàng-đế là vua một nước nhớn, chúa tôi cũng là vua một nước nhỏ,
có chịu thì chỉ chịu kém hoàng-đế mà thôi, có nhẽ đâu lại phải kém cả đầytớ của thiên-triều nữa?
Vua Mông-cổ thấy hai người cãi gàn, lại càng giận lắm, hầm hầm quát
rằng:
- Quân tao đi đến đâu, tan vỡ đến đấy, chỉ sông, sông cạn, chỉ núi, núi
tan, chúng bay có biết không?
Đinh-củng-Viên tâu rằng:
- Hoàng-đế đem nhân nghĩa ra trị thiên-hạ, thì ai chẳng kính phục ; nếu
chỉ cậy binh hùng tướng dũng, thì nước nào chẳng có binh có tướng, có
sông núi hiểm trở? Nước chúng tôi tuy nhỏ mọn, cũng đủ binh tướng cho ra
tiếp ứng quân của thiên-triều.
Vua Mông-cổ thấy hai người ứng đối cứng cỏi, mà nói cũng có nhẽ dễ
nghe, biết là không ăn hiếp nổi, mới dịu sắc mặt dụ rằng:
- Các ngươi nói tuy có nhẽ, nhưng phép xưa nay có chiếu mạng thiêntriều đến thì phải lạy, mà phải trọng đãi sứ-thần. Nếu từ sau còn cưỡng nữa,
thì trẫm sẽ cất quân đến hỏi tội đó.
Hai người lạy từ giở ra.
Sáng hôm sau, Mông-cổ mở một tiệc yến trên tròi cao. Tròi có một cột
cao 10 trượng, ở trên cắm một đôi tàn, mời hai sứ lên ăn yến. Hai người biết
Mông-cổ muốn thử tài, k...
 





