LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    Đề thi học kì 2

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: LÊ trung hiếu
    Ngày gửi: 18h:56' 24-02-2024
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 88
    Số lượt thích: 0 người
    TÀI LIỆU ÔN THI LÊN LỚP 10 MÔN NGỮ
    VĂN PHẦN THƠ VÀ TRUYỆN
    I. Phần thơ
    Văn bản: "Đồng chí" - Chính Hữu.

    * Giới thiệu bài học:
    Tình cảm là thứ quan trọng nhất đối với mỗi con người. Nó như dòng nước ngọt ngào chảy
    dọc trong ống nhựa tắm mát tâm hồn ta, tưới nước cho hạt giống tinh thần bên trong ta nảy
    nở. Thiếu đi cái ngọt ngào của tình cảm, ta sẽ chỉ như ống nước rỗng ruột, khô cứng, tâm
    hồn ta sẽ chẳng khác gì hoang mạc cằn khô nứt nẻ. Tình cảm trong chiến tranh, trong những
    mưa bom bão đạn, những khói lửa mịt mù lại càng đáng nhớ hơn, nó thể hiện sự gắn bó,
    yêu thương không điều kiện, đồng cam cộng khổ vượt qua những chông gai của cuộc chiến.
    Thứ tình cảm thiêng liêng ấy không gì khác chính là tình đồng chí. Nhà thơ Chính Hữu đã
    viết về tình cảm cao đẹp ấy, đồng thời tái hiện lại một cách chân thực hình ảnh người lính
    chống Pháp, qua bài thơ “Đồng chí” của ông.
    I – Tìm hiểu chung:
    1. Tác giả:
    - Chính Hữu, tên khai sinh Trần Đình Đắc (1926 - 2007), quê: Can Lộc, Hà Tĩnh.
    - 1946, ông gia nhập Trung đoàn Thủ đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng
    chiến chống Pháp và chống Mĩ.
    - 1947, ông bắt đầu sáng tác thơ và thơ ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh với
    cảm xúc dồn nén,ngôn ngữ cô đọng.
    - 2000, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học – nghệ thuật.
    - Tác phẩm chính: Đầu súng trăng treo(1966), Ngọn đèn đứng gác….
    2. Tác phẩm:
    1

    - “Đồng chí” là một trong số những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Chính Hữu và cũng
    là của nền thơ kháng chiến.
    - Bài thơ đã đi qua một hành trình hơn nửa thế kỉ làm đẹp mãi cho một hồn thơ chiến sĩ –
    hồn thơ Chính Hữu.
    a. Hoàn cảnh sáng tác:
    - Bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào đầu năm 1948 – sau chiến dịch Việt Bắc (thu đông
    1947). Trong chiến dịch này, Chính Hữu là chính trị viên đại đội, ông có nhiều nhiệm vụ
    nhất là việc chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử sĩ. Sau chiến dịch, vì là rất
    vất vả, nên ông bị ốm nặng, phải nằm lại điều trị. Đơn vị đã cử một đồng chí ở lại để chăm
    sóc cho Chính Hữu và người đồng đội ấy rất tận tâm giúp ông vượt qua những khó khăn,
    ngặt nghèo của bệnh tật. Cảm động trước tấm lòng của người bạn, ông đã viết bài thơ“Đồng
    chí” như một lời cảm ơn chân thành nhất gửi tới người đồng đội, người bạn nông dân của
    mình.
    - Bài thơ được in trong tập “Đầu súng trăng treo” (1966) – tập thơ phần lớn viết về người
    lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
    b. Bố cục: 3 phần.
    + Bảy câu thơ đầu: Cơ sở hình thành tình đồng chí.
    + Mười câu thơ tiếp: Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí.
    + Ba câu thơ cuối: Bức tranh đẹp về tình đồng chí, biểu tượng cao cả của cuộc đời người
    chiến sĩ.
    c. Chủ đề: Ngợi ca tình đồng đội, đồng chí cao cả, thiêng liêng của các anh bộ đội Cụ Hồ những người nông dân yêu nước mặc áo lính trong những năm đầu của cuộc kháng chiến
    chống thực dân Pháp.
    II – Đọc – hiểu văn bản:
    * Câu hỏi 2, sgk,trang 130:
    Sáu dòng đầu bài thơ đã nói về cơ sở hình thành tình đồng chí của những người lính cách
    mạng. Cơ sở ấy là:
    + Cùng chung cảnh ngộ.
    + Cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến đấu.
    + Cùng chia sẻ mọi gian lao, thiếu thốn.
    1. Cơ sở hình thành tình đồng chí:
    a. Hai câu đầu:
    - Hai câu thơ mở đầu bằng lối cấu trúc song hành, đối xứng như làm hiện lên hai gương mặt
    người chiến sĩ. Họ như đang tâm sự cùng nhau. Giọng điệu tự nhiên, mộc mạc, đầy thân
    tình. “Quê anh” và “làng tôi” đều là những vùng đất nghèo, cằn cỗi, xác xơ, là nơi “nước
    mặn đồng chua” – vùng đồng bằng ven biển, là xứ sở của “đất cày lên sỏi đá” – vùng đồi
    núi trung du.
    - Tác giả đã mượn thành ngữ, tục ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu
    của những người chiến sĩ. Điều ấy đã làm cho lời thơ mang đậm chất chân quê, dân dã đúng
    như con người vậy – những chàng trai dân cày chân đất, áo nâu lần đầu mặc áo lính lên
    2

    đường ra trận! Như vậy, sự đồng cảnh, cùng chung giai cấp chính là cơ sở, là cái gốc hình
    thành nên tình đồng chí.
    b. 5 câu thơ tiếp: Nói về quá trình hình thành tình đồng chí: Xa lạ -> Cùng chung mục
    đích -> Tri kỉ -> Đồng chí.
    Năm câu thơ tiếp nói lên một quá trình thương mến: từ chỗ “đôi người xa lạ” rồi
    thành “đôi tri kỉ” để kết thành “đồng chí”. Câu thơ có độ dài ngắn khác nhau, cảm xúc thơ
    như dồn tụ, nén chặt lại. Những ngày đầu, đứng dưới lá quân kì, những chàng trai ấy còn
    là “đôi người xa lạ”, mỗi người một phương trời “chẳng hẹn quen nhau”. Nhưng rồi cùng
    với thời gian kháng chiến, đôi bạn ấy gắn bó với nhau bằng biết bao kỉ niệm: “Súng bên
    súng, đầu sát bên đầu – Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. “Súng bên súng” là cách nói
    hàm súc,giàu hình tượng, đó là những con người cùng chung lí tưởng chiến đấu. Họ cùng
    nhau ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước, quê hương, giữ gìn nền độc lập, tự do, sự sống
    còn của dân tộc – “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Còn hình ảnh “đầu sát bên đầu” lại
    diễn tả sự đồng ý, đồng tâm, đồng lòng của hai con người đó. Và câu thơ “Đêm rét chung
    chăn thành đôi tri kỉ” lại là câu thơ ắp đầy kỉ niệm về một thời gian khổ, cùng nhau chia
    ngọt sẻ bùi “Bát cơm sẻ nửa – Chăn sui đắp cùng”. Và như thế mới thành “đôi tri kỉ” để
    rồi đọng kết lại là “Đồng chí!”. “Đồng chí” – hai tiếng ấy mới thiêng liêng làm sao! Nó
    diễn tả niềm tự hào, xúc động, cứ ngân vang lên mãi. Xúc động bởi đó là biểu hiện cao nhất
    của một tình bạn thắm thiết, đẹp đẽ.Còn tự hào bởi đó là tình cảm thiêng liêng, cao cả của
    những con người cùng chung chí hướng, cùng một ý nguyện, cùng một lí tưởng, ước mơ
    => Ở đây, trong những câu thơ này, tác giả đã sử dụng những từ ngữ rất giản dị, nhưng rất
    chân thực: “bên”, “sát”,”chung”,”thành” đã thể hiện được sự gắn bó tha thiết của mối tình
    tri kỉ, của tình cảm đồng chí. Cái tấm chăn mỏng, hẹp mà ấm nóng tình đồng đội ấy mãi mãi
    là kỉ niệm đẹp của người lính không bao giờ quên.
    Câu hỏi 1: Dòng thứ bảy của bài thơ có gì đặc biệt? Mạch cảm xúc và suy nghĩ trong
    bài thơ được triển khai như thế nào trước và sau dòng thơ đó?
    => Trả lời:
    - Dòng thơ thứ bảy trong bài thơ “Đồng chí” là một điểm sáng tạo,một nét độc đáo qua
    ngòi bút của Chính Hữu. Dòng thơ được tác riêng độc lập, là một câu đặc biệt gồm từ hai
    âm tiết đi cùng dấu chấm than, tạo nốt nhấn vang lên như một sự phát hiện, một lời khẳng
    định đồng thời như một bản lề gắn kết đoạn thơ đầu với đoạn thơ sau. Sáu câu thơ đầu là cội
    nguồn, là cơ sở hình thành tình đồng chí; mười câu thơ tiếp theo là biểu hiện, sức mạnh của
    tình đồng chí. “Đồng chí” - ấy là điểm hội tụ, là nơi kết tinh bao tình cảm đẹp: tình giai
    cấp, tình bạn,tình người trong chiến tranh. Hai tiếng “đồng chí” bởi vậy mà giản dị, đẹp đẽ,
    sáng ngời và thiêng liêng.
    2. Biểu hiện và sức mạnh của tình đồng chí:
    a. Trước hết, đồng chí là sự thấu hiểu, chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:
    “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
    Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
    Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”.
    Vì nghĩa lớn, các anh sẵn sàng từ giã những gì gắn bó thân thương nhất: “ruộng
    nương”,”gian nhà”,”giếng nước”,”gốc đa”… Họ ra đi để lại sau lưng những băn khoăn,
    trăn trở, những bộn bề, lo toan của cuộc sống đời thường. Hai chữ “mặc kệ” đã diễn tả sâu
    sắc vẻ đẹp và chiều sâu đời sống tâm hồn người lính. Vì nghĩa lớn, họ sẵn sàng ra đi khi lí
    3

    tưởng đã rõ ràng, mục đích đã chọn lựa. Song dù có dứt khoát thì vẫn nặng lòng với quê
    hương. Gác tình riêng ra đi vì nghĩa lớn, vẻ đẹp ấy thật đáng trân trọng và tự hào. Trong bài
    thơ “Đất nước”, ta bắt gặp điểm tương đồng trong tâm hồn những người lính:
    “Người ra đi đầu không ngoảnh lại
    Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
    Mặc dù đầu không ngoảnh lại nhưng các anh vẫn cảm nhận được “Sau lưng thềm năng lá
    rơi đầy”, cũng như người lính trong thơ của Chính Hữu, nói “mặc kệ” nhưng tấm lòng luôn
    hướng về quê hương. “Giếng nước gốc đa” là hình ảnh hoán dụ mang tính chất nhân hóa
    diễn tả một cách tinh tế tâm hồn người chiến sĩ, tô đậm sự gắn bó của người lính với quê
    nhà. “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” hay chính là tấm lòng của người ra đi không
    nguôi nhớ về quê hương. Quả thật, giữa người chiến sĩ và quê hương có mỗi giao cảm vô
    cùng sâu sắc, đậm đà. Người đọc cảm nhận từ hình ảnh thơ một tình quê ăm ắp và đây cũng
    là nguồn động viên, an ủi, là sức mạnh tinh thần giúp người chiến sĩ vượt qua mọi gian lao,
    thử thách suốt một thời máu lửa, đạn bom.
    b. Tình đồng chí còn là sự đồng cam cộng khổ, chia sẻ những khó khăn thiếu thốn của
    cuộc đời người lính:
    “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
    Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
    Áo anh rách vai
    Quần tôi có vài mảnh vá
    Miệng cười buốt giá
    Chân không giày
    Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
    Bằng những hình ảnh tả thực, hình ảnh sóng đôi, tác giả đã tái hiện chân thực những khó
    khăn thiếu thốn trong buổi đầu kháng chiến: thiếu lương thực, thiếu vũ khí, quân trang,
    thiếu thuốc men… Người lính phải chịu “từng cơn ớn lạnh”, những cơn sốt rét rừng hành
    hạ, sức khỏe giảm sút, song sức mạnh của tình đồng chí đã giúp họ vượt qua tất cả. Nếu như
    hình ảnh “Miệng cười buốt giá” làm ấm lên, sáng lên tinh thần lạc quan của người chiến sĩ
    trong gian khổ thì cái nắm tay lại thể hiện tình đồng chí, đồng đội thật sâu sắc! Cách biểu lộ
    chân thực, không ồn ào mà thấm thía. Những cái bắt tay truyền cho nhau hơi ấm, niềm tin
    và sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ. Cái nắm tay nhau ấy còn là lời hứa hẹn
    lập công.
    3. Biểu tượng đẹp của tình đồng chí:
    - Bài thơ khép lại với bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội,là biểu tượng cao đẹp về
    cuộc đời người chiến sĩ:
    “Đêm nay rừng hoang sương muối
    Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
    Đầu súng trăng treo”.
    + Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh lẽo là hình ảnh người lính “đứng cạnh bên
    nhau chờ giặc tới”. Đó là hình ảnh cụ thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến
    đấu. Họ đã đứng cạnh bên nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của
    4

    những giây phút “chờ giặc tới”. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất
    cả…
    + Câu kết là một hình ảnh thơ rất đẹp: “Đầu súng trăng treo”. Cảnh vừa thực, vừa mộng.
    Về ý nghĩa của hình ảnh này có thể hiểu: Đêm khuya, trăng tà, cả cánh rừng ngập chìm
    trong sương muối. Trăng lơ lửng trên không, chiếu ánh sáng qua lớp sương mờ trắng, đục.
    Bầu trời như thấp xuống, trăng như sà xuống theo. Trong khi đó, người chiến sĩ khoác súng
    trên vai, đầu súng hướng lên trời cao như chạm vào vầng trăng và trăng như treo trên đầu
    súng. “Trăng”là biểu tượng cho vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, là sự sống thanh
    bình. “Súng”là hiện thân cho cuộc chiến đấu gian khổ, hi sinh. Súng và trăng, cứng rắn và
    dịu hiền. Súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ. Hai hình ảnh đó trong thực tế vốn xa nhau vời vợi
    nay lại gắn kết bên nhau trong cảm nhận của người chiến sĩ: trăng treo trên đầu súng. Như
    vậy, sự kết hợp hai yếu tố, hiện thực và lãng mạn đã tạo nên cái vẻ đẹp độc đáo cho hình
    tượng thơ. Và phải chăng, cũng chính vì lẽ đó, Chính Hữu đã lấy hình ảnh làm nhan đề cho
    cả tập thơ của mình – tập “Đầu súng trăng treo” – như một bông hoa đầu mùa trong vườn
    thơ cách mạng.
    III. Tổng kết:
    - Bài thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bài thơ đã làm
    sống lại một thời khổ cực của cha anh ta, làm sống lại chiến tranh ác liệt. Bài thơ khơi gợi
    lại những kỉ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương mà chỉ có những người
    đã từng là lính mới có thể hiểu và cảm nhận hết được.
    - Với nhiều hình ảnh chọn lọc, từ ngữ gợi cảm mà lại gần gũi thân thuộc, với biện pháp
    sóng đôi, đối ngữ được sử dụng rất thành công, Chính Hữu đã viết nên một bài ca với
    những ngôn từ chọn lọc, bình dị mà có sức ngân vang. Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết
    sức thiêng liêng, như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng không bao giờ tắt, ngọn lửa
    thắp sáng đêm đen của chiến tranh.

    5

    Văn bản: "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" - Phạm Tiến Duật.

    * Giới thiệu bài học:
    Đoàn giải phóng quân một lần ra đi.
    Nào có sá chi đâu ngày trở về.
    Ra đi ra đi bảo tồn sông núi.
    Ra đi ra đi thà chết chớ lui.
    Khúc hát quen thuộc từ xa chợt vọng lại gợi trong lòng chúng ta biết bao suy tưởng. Chúng
    ta như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc theo tiếng hát sôi nổi trẻ trung và cũng
    bình dị như cuộc đời người lính. Không biết đã có bao nhiêu bài thơ nói về họ - những
    chàng Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi. Tiêu biểu cho thời kì chống Mĩ cứu nước là Bài thơ
    về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật.
    I – Tìm hiểu chung:
    1. Tác giả:
    - Phạm Tiến Duật (1941-2007), quê Thanh Ba, Phú Thọ.
    - 1964, sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông gia nhập
    binh đoàn vận tải Trường Sơn và hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm
    chống Mỹ.
    - Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ trưởng thành từ
    cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
    - Với quan niệm “chủ yếu đi tìm cái đẹp từ trong những diễn biến sôi động của cuộc sống”,
    Phạm Tiến Duật đưa tất cả những chất liệu hiện thực của cuộc sống chiến trường vào trong
    thơ. Cách tiếp cận hiện thực ấy đã đem lại cho thơ Phạm Tiến Duật một giọng điệu sôi nổi,
    trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc.
    - Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống
    Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường
    Sơn.
    - Tác phẩm chính: Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Gửi em cô thanh niên xung phong,
    Lửa đèn, Bài thơ về tiểu đội xe không kính…
    6

    - Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
    2. Tác phẩm:
    a. Hoàn cảnh sáng tác.
    - Bài thơ về tiểu đội xe không kính nằm trong chùm thơ của Phạm Tiến Duật được tặng giải
    Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969. Chùm thơ đã khẳng định giọng thơ riêng
    của của ông. Sau này bài thơ được đưa vào tập thơ “ Vầng trăng quầng lửa” (1970) của tác
    giả.
    -Bài thơ được sáng tác trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra rất gay go, ác
    liệt. Từ khắp các giảng đường đại học, hàng ngàn sinh viên đã gác bút nghiên để lên đường
    đánh giặc, và điểm nóng lúc đó là tuyến đường Trường Sơn – con đường huyết mạch nối
    liền hậu phương với tiền tuyến. Ở đó, không lực Hoa Kì ngày đêm trút bom, vãi đạn hòng
    ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.Vượt qua mưa bom bão
    đạn của kẻ thù, đoàn xe vận tải vẫn ngày đêm bất chấp gian khổ và hi sinh để ra trận. Phạm
    Tiến Duật đã ghi lại những hình ảnh tiêu biểu của nơi khói lửa Trường Sơn. Có thể nói, hiện
    thực đã đi thẳng vào trang thơ của tác giả và mang nguyên vẹn hơi thở của cuộc chiến.
    Ra đời trong hoàn cảnh ấy, bài thơ với âm điệu hào hùng, khỏe khoắn đã thực sự trở thành
    hồi kèn xung trận, trở thành tiếng hát quyết thắng của tuổi trẻ Việt Nam thời kì chống Mĩ.
    Cảm hứng từ những chiếc xe không kính đã làm nền để nhà thơ chiến sĩ khắc họa thành
    công chân dung người chiến sĩ lái xe: ung dung tự tại, lạc quan sôi nổi, bất chấp mọi khó
    khăn gian khổ , tình đồng chí đồng đội gắn bó tình yêu đất nước thiết tha…
    b. Chủ đề: Vẻ đẹp hình ảnh người lính lái xe ở Trường Sơn trong những năm chống Mĩ.
    II – Đọc – hiểu văn bản:
    1. Ý nghĩa nhan đề bài thơ:
    Câu hỏi 1, sgk, trang 133: Nhan đề bài thơ có gì khác lạ? Một hình ảnh nổi bật trong
    bài thơ là những chiếc xe không kính. Vì sao có thể nói hình ảnh ấy là độc đáo?
    - Bài thơ có cách đặt đầu đề hơi lạ. Bởi hai lẽ:
    + Rõ ràng đây là một bài thơ, vậy mà tác giả lại ghi là “Bài thơ” – cách ghi như thế có vẻ
    hơi thừa.
    + Lẽ thứ hai là hình ảnh tiểu đội xe không kính. Xe không kính tức là xe hỏng, không hoàn
    hảo, là những chiếc xe không đẹp, vậy thì có gì là thơ. Vì đã nói đến thơ, tức là nói đến một
    cái gì đó đẹp đẽ, lãng mạn, bay bổng.
    => Vậy, đây rõ ràng là một dụng ý nghệ thuật của Phạm Tiến Duật. Dường như, tác giả đã
    tìm thấy, phát hiện, khẳng định cái chất thơ, cái đẹp nằm ngay trong hiện thực đời sống bình
    thường nhất, thậm chí trần trụi, khốc liệt nhất, ngay cả trong sự tàn phá dữ dội, ác liệt của
    chiến tranh.
    * Ý nghĩa nhan đề bài thơ:
    Bài thơ có một nhan đề khá dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng chính nhan đề ấy lại thu hút
    người đọc ở cái vẻ lạ, độc đáo của nó. Nhan đề bài thơ đã làm nổi bật rõ hình ảnh của toàn
    bài: những chiếc xe không kính. Hình ảnh này là một sự phát hiện thú vị của tác giả, thể
    hiện sự gắn bó và am hiểu của nhà thơ về hiện thực đời sống chiến tranh trên tuyến đường
    Trường Sơn. Nhưng vì sao tác giả còn thêm vào nhan đề hai chữ “Bài thơ”? Hai chữ “bài
    thơ” nói lên cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những
    chiếc xe không kính hay là cái hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mà chủ yếu là Phạm Tiến
    7

    Duật muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam dũng cảm, hiên
    ngang, vượt lên những thiếu thốn, gian khổ,khắc nghiệt của chiến tranh.
    2. Hình ảnh những chiếc xe không kính:
    - Xưa nay, những hình ảnh xe cộ, tàu thuyền đưa vào thơ thì đều được “mĩ lệ hóa”, “lãng
    mạn hóa” và thường mang ý nghĩa tượng trưng hơn là tả thực. Người đọc đã bắt gặp chiếc
    xe tam mã trong thơ Pus-kin, con tàu trong “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên, đoàn
    thuyền đánh cá trong bài thơ cùng tên của Huy Cận.
    - Ở bài thơ này, hình ảnh những chiếc xe không kính được miêu tả cụ thể, chi tiết rất thực.
    Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoá nhất là trong địa
    hình hiểm trở Trường Sơn thì xe phải có kính mới đúng. Ấy thế mà chuyện “xe không kính”
    lại là môt thực tế, là hình ảnh thường gặp trên tuyến đường Trường Sơn.
    - Hai câu thơ mở đầu có thể coi là lời giải thích cho “sự cố” có phần không bình thường ấy:
    Không có kính không phải vì xe không có kính
    Bom giật, bom rung, kính vỡ đi rồi.
    + Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của các chàng trai
    lái xe dũng cảm. Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ
    của ngôn từ.
    + Bằng những câu thơ rất thực, đậm chất văn xuôi, điệp ngữ “không”, cùng với động từ
    mạnh “giật”, “rung” -> Tác giả đã lí giải nguyên nhân không có kính của những chiếc xe.
    Bom đạn chiến tranh đã làm cho những chiếc xe trở nên biến dạng “không có kính”, “không
    có đèn”,”không có mui xe”,”thùng xe có xước”. Từ đó, tác giả đã tạo ấn tượng cho người
    đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu
    gian khổ mà người lính phải trải qua.
    => Hình ảnh những chiếc xe không kính vốn chẳng hiếm trong chiến tranh, song phải có
    một hồn thơ nhạy cảm, có nét tinh nghịch, ngang tàn như Phạm Tiến Duật mới phát hiện ra
    được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ ca thời chống Mĩ.
    3. Hình ảnh người lính lái xe:
    * Hình ảnh những chiếc xe không kính đã làm nổi rõ hình ảnh những chiến sĩ lái xe ở
    Trường Sơn. Thiếu đi những điều kiện, phương tiện vật chất tối thiểu lại là một cơ hội để
    người lính lái xe bộc lộ những phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của họ, đặc
    biệt là lòng dũng cảm, tinh thần bất chấp gian khổ khó khăn.
    a. Vẻ đẹp của người lính lái xe trước hết thể hiện ở tư thế hiên ngang, ung dung,
    đường hoàng, tự tin và tâm hồn lãng mạn, lạc quan, yêu đời:
    Ung dung buồng lái ta ngồi
    Nhìn đất, nhìn trời,nhìn thẳng.
    + Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật
    điệp ngữ với từ “nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai -> nhấn mạnh tư thế ung
    dung, bình tĩnh, tự tin của người lính lái xe.
    + Cái nhìn của các anh là cái nhìn bao quát, rộng mở “nhìn đất”,”nhìn trời”, vừa trực diện,
    tập trung cao độ “nhìn thẳng”. Các anh nhìn vào khó khăn, gian khổ, hi sinh mà không hề
    run sợ, né tránh – một bản lĩnh vững vàng.
    8

    - Trong tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có những cảm nhận rất riêng khi được tiếp xúc
    trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài:
    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
    Thấy con đường chạy thẳng vào tim
    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
    Như sa, như ùa vào buồng lái.
    + Sau tay lái của chiếc xe không có kính chắn gió nên các yếu tố về thiên nhiên, chướng
    ngại vật rơi rụng, quăng ném, va đạp vào trong buồng lái. Song, quan trọng hơn là các anh
    có được cảm giác như bay lên, hòa mình với thiên nhiên rồi được tự do giao cảm, chiêm
    ngưỡng thế giới bên ngoài.Điều này được thể hiện ở nhịp thơ đều đặn, trôi chảy như xe lăn
    với việc vận dụng linh hoạt điệp ngữ “thấy” và phép liệt kê. Có rất nhiều cảm giác thú vị
    đến với người lính trên những chiếc xe không có kính.
    + Các hình ảnh “con đường”, “sao trời”, “cánh chim”… diễn tả rất cụ thể cảm giác của
    những người lính khi được lái những chiếc xe không kính. Khi xe chạy trên đường bằng, tốc
    độ xe chạy đi nhanh, giữa các anh với con đường dường như không còn khoảng cách, chính
    vì thế, các anh mới có cảm giác con đường đang chạy thẳng vào tim. Và cái cảm giác thú vị
    khi xe chạy vào ban đêm, được “thấy sao trời” và khi đi qua những đoạn đường cua dốc thì
    những cánh chim như đột ngột “ùa vào buồng lái”. Thiên nhiên, vạn vật dường như cũng
    bay theo ra chiến trường. Tất cả điều này đã giúp người đọc cảm nhận được ở các anh nét
    hào hoa, kiêu bạc, lãng mạn và yêu đời của những người trẻ tuổi. Tất cảlà hiện thực nhưng
    qua cảm nhận của nhà thơ đã trở thành những hình ảnh lãng mạn.
    b. Một vẻ đẹp nữa làm nên bức chân dung tinh thần của người lính trong bài thơ
    chính là tinh thần lạc quan, sôi nổi, bất chấp khó khăn, nguy hiểm:
    Không có kính, ừ thì có bụi,
    ………………………………
    Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
    Những câu thơ giản dị như lời nói thường, với giọng điệuthản nhiên, ngang tàn hóm hỉnh,
    cấu trúc: “không có…”; “ừ thì…”, “chưa cần” được lặp đi lặp lại, các từ ngữ “phì phèo”,
    “cười ha ha”, “mau khô thôi”… làm nổi bật niềm vui, tiếng cười của người lính cất lên một
    cách tự nhiên giữa gian khổ, hiểm nguy của cuộc chiến đấu. Cài tài của Phạm Tiến Duật
    trong đoạn thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu
    sau nói lên tinh thần vượt lên để chiến thắng hoàn cảnh của người lính lái xe trong chiến
    tranh ác liệt. Xe không kính nên “bụi phun tóc trắng như người già” là lẽ đương nhiên, xe
    không có kính nên “ướt áo”, “mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” là lẽ tất nhiên. Trước mọi
    khó khăn, nguy hiểm, các anh vẫn “cười” rồi chẳng cần bận tâm, lo lắng, các anh sẵn sàng
    chấp nhận thử thách, gian lao như thể đó là điều tất yếu. Các anh lấy cái bất biến của lòng
    dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của chiến trường sinh tử gian
    khổ, ác liệt. Đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính
    ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ. Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác
    liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, niêm vui sôi nổi, yêu đời. Thật đáng yêu và đáng tự
    hào biết bao!
    c. Sâu sắc hơn,bằng ống kính điện ảnh của người nghệ sĩ, nhà thơ đã ghi lại những
    khoảnh khắc đẹp đẽ thể hiện tình đồng chí đồng đội của những người lính lái xe không
    kính:
    9

    Những chiếc xe từ trong bom rơi
    Đã về đây họp thành tiểu đội
    Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
    Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên tiểu đội xe không kính. Những chiếc xe từ
    khắp mọi miền Tổ quốc về đây họp thành tiểu đội. Cái “bắt tay” thật đặc biệt “Bắt tay qua
    cửa kính vỡ rồi”. Xe không kính lại trở thành điều kiện thuận lợi để các anh thể hiện tình
    cảm. Cái bắt tay thể hiện niềm tin, truyền cho nhau sức mạnh, bù đắp tinh thần cho những
    thiếu thốn về vật chất mà họ phải chịu đựng. Có sự gặp gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong
    bài thơ “Đồng chí”: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung
    hơn. Đó là quá trình trưởng thành của thơ ca, của quân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng
    chiến trường kì của dân tộc. Tình đồng chí, đồng đội còn được thể hiện một cách ấm áp,
    giản dị qua những giờ phút sinh hoạt của họ:
    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
    Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
    Võng mắc chông chênh đường xe chạy
    Lại đi lại đi trời xanh thêm.
    + Gắn bó trong chiến đấu, họ càng gắn bó trong đời thường. Sau những phút nghỉ ngơi
    thoáng chốc và bữa cơm hội ngộ, những người lính lái xe đã xích lại thành gia đình: “Chung
    bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Cách định nghĩa về gia đình thật lính, thật tếu hóm mà thật
    chân tình sâu sắc. Đó là gia đình của những người lính cùng chung nhiệm vụ, lí tưởng chiến
    đấu.
    + Điệp ngữ “lại đi” và hình ảnh “trời xanh thêm” tạo âm hưởng thanh thản, nhẹ nhàng, thể
    hiện niềm lạc quan, tin tưởng của người lính về sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống
    Mỹ. Câu thơ trong vắt như tâm hồn người chiến sĩ, như khát vọng, tình yêu họ gửi lại cho
    cuộc đời.
    => Chính tình đồng chí, đồng đội đã biến thành động lực giúp các anh vượt qua khó khăn,
    nguy hiểm, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu.Sức mạnh của người lính thời đại Hồ Chí
    Minh là vẻ đẹp kết hợp truyền thống và hiện đại. Họ là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng
    cách mạng, là hình tượng đẹp nhất của thế kỷ “Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi” (Tố
    Hữu).
    d. Khổ thơ cuối đã hoàn thiện vẻ đẹp của người lính, đó là lòng yêu nước, ý chí chiến
    đấu giải phòng miền Nam:
    Không có kính rồi xe không có đèn
    Không có mui xe, thùng xe có xước
    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
    Chủ cần trong xe có một trái tim.
    - Giờ đây những chiếc xe không chỉ mất kính mà lại không đèn, không mui, thùng xe có
    xước. Chiếc xe đã biến dạng hoàn toàn. Người lính xế lại chất chồng khó khăn. Sự gian khổ
    nơi chiến trường ngày càng nâng lên gấp bội lần nhưng không thể làm chùn bước những
    đoàn xe nối đuôi nhau ngày đêm tiến về phía trước.
    10

    - Nguyên nhân nào mà những chiếc xe tàn dạng ấy vẫn băng băng chạy như vũ bào? Nhà
    thơ đã lí giải: “Chỉ cần trong xe có một trái tim”.
    + Câu thơ dồn dập cứng cáp hẳn lên như nhịp chạy của những chiếc xe không kính. Từ
    hàng loạt những cái “không có” ở trên, nhà thơ khẳng định một cái có, đó là “một trái tim”.
    + “Trái tim” là một hoán dụ nghệ thuật tu từ chỉ người chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa.
    Trái tim của họ đau xót trước cảnh nhân dân miền Nam sống trong khói bom thuốc súng,
    đất nước bị chia cắt thành hai miền.
    + Trái tim ấy dào dạt tình yêu Tổ quốc như máu thịt, như mẹcha, như vợ như chồng… Trái
    tim ấy luôn luôn sục sôi căm thù giặc Mỹ bạo tàn.
    => Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi thúc những người chiến sĩ lái xe khát khao
    giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Để ước mơ này trở thành hiện thực,chỉ có một
    cách duy nhất: vững vàng tay lái, cầm chắc vô lăng. Vì thế thử thách ngày càng tăng nhưng
    tốc độ và hướng đi không hề thay đổi.
    => Đằng sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người về chân lý thời đại của
    chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí mà là con người giàu ý chí,
    anh hùng, lạc quan, quyết thắng.
    => Có thể coi câu thơ cuối là câu thơ hay nhất của bài thơ. Nó là nhãn tự, là con mắt thơ,
    bật sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe thời chống Mỹ.
    III – Tổng kết:
    - Giọng thơ ngang tàn, có cả chất nghịch ngợm, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả
    (những chàng trai lái xe trên những chiếc xe không kính). Giọng điệu ấy làm cho lời thơ gần
    với lời văn xuôi, lời đối thoại, lời nói thường ngày nhưng vẫn thú vị và giàu chất thơ (Chất
    thơ ở đây là từ những hình ảnh độc đáo, từ cảm hứng về vẻ hiên ngang, dũng cảm, sự sôi
    nổi trẻ trung của những người lính lái xe, từ ấn tượng cảm giác được miêu tả cụ thể, sống
    động và gợi cảm
    - Thể thơ: Kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ, tạo cho bài thơ có điệu thơ gần với lời
    nói tự nhiên, sinh động. Những yếu tố về ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ đã góp phần trong
    việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn một cách chân
    thực và sinh động.
    - Cả bài thơ là lời nói, cảm xúc của người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Thử
    thách ngày càng tăng, nhưng mức độ và hướng đi không thay đổi.Vẫn là khẳng định tinh
    thần bất khuất, quyết thắng của quân đội ta, nhưng Phạm Tiến Duật đã đem lại nhiều hình
    ảnh mới và giọng điệu mới: trẻ trung, tinh nghịch, ngang tàn mà kiên định. Bài thơ đâu chỉ
    nói về tiểu đội xe không kính,nó phản ánh cả khí thế quyết tâm giải phóng miền Nam của
    toàn quân và toàn dân ta,khẳng định rằng ý chí của con người mạnh hơn cả sắt thép.

    11

    Văn bản "Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải.

    I. Tìm hiểu chung:
    1. Tác giả:
    - Thanh Hải là một nhà thơ cách mạng.
    - Trong hai cuộc kháng chiến kể cả những thời kì đen tốinhất, ông đã bám trụ ở quê hương
    (vùng Thừa Thiên – Huế), cất lên tiếng thơca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi sự
    hi sinh của nhân dân miền Nam và khẳng định niềm tin vào chiến thắng của cách mạng. Có
    thể nói cuộc đời ông đã cốnghiến trọn vẹn cho đất nước, cho quê hương.
    - “Thơ ông chân chất,bình dị, đôn hậu và chân thành…Đối với nền thơ chống Mĩ của miền
    Nam,Thanh Hải là một trong những cây bút có nhiều đóng góp”.
    (Trần Hữu Tá)
    2. Tác phẩm:
    a. Hoàn cảnh sángtác:
    - Bài thơ ra đời tháng 11/1980, lúc này, đất nước đã thốngnhất, đang xây dựng cuộc sống
    mới với muôn ngàn khó khăn thử thách.
    12

    - Và đây cũng là một hoàn cảnh rất đặc biệt đối với nhà thơThanh Hải. Ông đang bị bệnh
    nặng phải điều trị ở bệnh viện trung ương thành phốHuế, và một tháng sau ông qua đời. Có
    hiểu cho hoàn cảnh của nhà thơ trêngiường bệnh ta mới thấy hết được tấm lòng tha thiết với
    cuộc sống, với quêhương đất nước của nhà thơ.
    b. Bố cục: 4 đoạn:
    - Khổ 1: Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên, đấttrời.
    - Khổ 2, 3: Cảm xúc của nhà thơ về mùa xuân đất nước.
    - Khổ 4, 5: Lời ước nguyện chân thành, tha thiết của nhà thơ.
    - Khổ 6: Lời ngợi ca quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứHuế.
    => Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh mùa xuân: mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất
    nước và “mùaxuân nho nhỏ” của mỗi người.
    c. Mạch cảm xúc:
    Bài thơ bắt đầu từ những cảm xúc trực tiếp hồn nhiên, trong trẻo trước vẻ đẹp và sức sống
    của mùa xuân thiên nhiên, từ đó mở rộng cảm nghĩ về mùa xuân đất nước. Từ mùa xuân lớn
    của thiên nhiên đất nước mà liên tưởng tới mùa xuân của mỗi cuộc đời – một mùa xuân nho
    nhỏ góp vào mùa xuân lớn. Bài thơ kết thúc bằng sự trở về với những cảm xúc thiết tha, tự
    hào về quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế.
    => Mạch cảm xúc phát triển theo lối “tức cảnh sinh tình” đặc trưng nổi bật của thơ ca.
    II. Đọc – hiểu vănbản:
    1. Cảm xúc của nhàthơ trước mùa xuân thiên nhiên, đất trời.
    Khác với bức tranh thiên nhiên mùa xuân rực rỡ sắc màu, rạo rực tình ái trong thi phẩm
    “Vội vàng” của Xuân Diệu, với:
    Của ong bướm này đây tuần tháng mật
    Này đây hoa của đồng nội xanh rì
    Này đây lá của cành tơ phơ phất
    Của...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !