Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Con đường Việt Nam - Nguyễn Sĩ Bính

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:27' 07-04-2024
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:27' 07-04-2024
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
0
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử, còn sáng chói bao chiến công hào hùng trên
những chặng đƣờng. Trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, cha ông đã để lại cho chúng ta một dải
non sông thống nhất từ Bắc vào Nam, giàu tài nguyên thiên nhiên, nhiều truyền thống tốt đẹp. Đất
nƣớc cũng nằm ở giao điểm các nền văn hóa văn minh lớn gặp nhau, đã tiếp biến nhiều giá trị làm đa
dạng các yếu tố dân tộc và lối sống.
Lật lại những trang sử các thời kỳ, mỗi ngƣời dân Việt, dù trong hay ngoài nƣớc, luôn đƣợc khơi
dậy tình yêu quê hƣơng, niềm tự hào tổ quốc. Đó là thời nghìn năm Bắc thuộc với tinh thần chống Hán
hóa, nhiều cuộc khởi nghĩa giành lại chủ quyền diễn ra mà trận chiến thắng Bạch Đằng là đỉnh cao. Đó
là thời kỳ độc lập tự chủ, cha ông không những bảo vệ non sông mà còn mở mang bờ cõi, không những
giữ gìn mà còn làm phong phú trƣờng tồn bản sắc văn hóa Việt Nam. Với những chiến công hiển hách
chống phƣơng Bắc xâm lƣợc, những anh hùng Thập đạo tƣớng quân Lê Hoàn, Lý Thƣờng Kiệt, Trần
Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… mãi mãi lƣu danh. Đó còn là đời sống tôn giáo, lễ hội, tâm linh, phong
tục tập quán, ngôn ngữ, các công trình mỹ thuật và kiến trúc, cùng hàng loạt hệ giá trị giàu tính cộng
đồng, nhân nghĩa, nhân văn Việt Nam.
Bƣớc vào thời kỳ cận đại, những cuộc chiến tranh khốc liệt diễn ra, cả nƣớc phải trả giá bằng
biết bao hy sinh. Nhìn lại hệ tƣ tƣởng cộng sản từ khi xuất hiện ở Việt Nam, ban đầu là gắn vào đấu
tranh giải phóng dân tộc dẫn đến chia cắt hai miền năm 1954. Tiếp theo, Việt Nam là chiến trƣờng đối
đầu giữa các hệ tƣ tƣởng. Sau thống nhất năm 1975 là cuộc chiến hai đầu biên giới… Ở giai đoạn hòa
bình, có thời kỳ động lực phát triển xã hội gần nhƣ bị triệt tiêu. Thời kỳ đổi mới không toàn diện tạo ra
nhiều nguy hiểm, tác hại trực tiếp có, hậu quả không dễ khắc phục vẫn tiềm tàng. Thời kỳ hội nhập sâu
rộng hiện nay càng thêm nhiều rối ren trong đƣờng lối nội trị lẫn ngoại giao. Câu hỏi mà nhiều ngƣời
đang quan tâm: liệu Việt Nam sẽ tiếp tục tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất công và tụt hậu đến mức
nào? Gần một thế kỷ, các văn kiện, cƣơng lĩnh, đƣờng lối, kể cả hiến pháp và pháp luật thể hiện tƣ
tƣởng và đƣờng lối cộng sản đã bất ổn, xã hội không thể tiếp tục chịu đựng và hy sinh mãi.
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi có đấu tranh vô sản, lịch sử dân tộc cũng
chính là lịch sử của đảng phái này. Cho nên, phản ánh đã trở nên thiếu tôn trọng sự thật. Nhiều lối rẽ
đau thƣơng cùng đƣờng bị che giấu. Nhiều góc khuất chƣa đƣợc sáng tỏ, còn bị phủ lên đó giải thích
chủ quan. Ở khởi điểm ban đầu, nhiều ngƣời có thể tin vào lý tƣởng tốt đẹp, nhƣng qua các giai đoạn
cách mạng, lý tƣởng ấy đã không còn. Sai lầm lớn nhất của Đảng Cộng sản là đã đặt lợi ích giai cấp lên
trên lợi ích dân tộc, thậm chí không ít thời điểm và sự kiện cho thấy dân tộc phải chịu hy sinh vì nhiệm
vụ Quốc tế cộng sản. Trong quá trình hoạt động, Đảng Cộng sản cũng tiêu diệt mọi lực lƣợng có tƣ
tƣởng và quan điểm đa dạng, tiến tới độc quyền. Ngày nay, lợi ích một nhóm nhỏ lại tiếp tục đặt trên lợi
ích dân tộc, mối quan hệ cộng sản giữa Việt Nam và Trung Quốc bất chấp quyền lợi toàn dân. Thế hệ
trẻ sẽ bƣớc tiếp nhƣ thế nào trên con đƣờng nhiều hy sinh và nguy hiểm đó?
Vấn đề trƣớc hết là phải nhìn lại lịch sử để có đánh giá xác thực, thấy sai lầm mà tránh lặp lại,
để hình thành những tƣ tƣởng và lực lƣợng tiên phong. Đây là việc làm quan trọng và cần thiết, tạo
điều kiện cho mỗi ngƣời dân nhìn thấy con đƣờng xuyên suốt của dân tộc, định hƣớng cho thế hệ trẻ
đóng góp tích cực nhằm chấn hƣng đất nƣớc. Trong thời đại hội nhập, xã hội cần phát huy dân chủ và
thƣợng tôn pháp luật, mỗi ngƣời cần đƣợc tôn trọng quyền công dân và quyền con ngƣời. Chúng ta cần
có tầm nhìn rộng để thấy xu hƣớng thời đại, xác định đất nƣớc đứng ở vị trí nào trên bản đồ thế giới.
Với tinh thần ấy, “Con đƣờng Việt Nam” sẽ cố gắng làm rõ những chặng đƣờng dân tộc đã
qua và đề nghị một triển hƣớng cho tƣơng lai. Cuốn sách là dịp gặp mặt hội thảo với nhiều quan điểm,
chính kiến về các vấn đề bị che khuất lâu nay. Cuốn sách cũng nhằm tƣởng nhớ ông Hoàng Minh Chính,
cố Tổng Thƣ ký Đảng Dân Chủ Việt Nam, nguyên Viện trƣởng Viện Triết học Mác-Lênin tại Việt Nam.
Xin kính tặng cuốn sách này cho tất cả đồng bào, anh chị em mọi tầng lớp đang mong muốn cho
Việt Nam một Nhà nƣớc pháp quyền, hội nhập và nhân bản.
Chủ biên
Nguyễn Sĩ Bình
Palo Alto, Mùa Xuân 2010
1
www.SachVui.Com
CHỦ BIÊN CUỐN SÁCH
“CON ĐƢỜNG VIỆT NAM”
Nguyễn Sĩ Bình sinh năm 1954 tại tỉnh Bình Định, là ngƣời con thứ
hai trong gia đình có sáu anh em. Tháng 4-1975, giữa lúc đang học tại Sài
Gòn, ông theo chƣơng trình di tản từ Việt Nam sang Hoa Kỳ. Sau thời gian
đi làm và tiếp tục học, ông tốt nghiệp kỹ sƣ hạt nhân (nuclear engineer)
tại Đại học Maryland, College Park, Maryland, USA. Năm 1981, ông làm
việc cho Bechtel Power Corporation. Năm 1983, ông chuyển ngành sang
Công ty phát triển địa ốc General Development Corp.
Dù xa quê nhà nhƣng ông luôn hƣớng về Việt Nam. Từ năm 1985,
ông tập trung suy nghĩ những vấn đề đất nƣớc. Sau khi Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, ông dành hầu hết thời gian cho hoạt động chính trị. Năm 1991,
ông thành lập Đảng Nhân Dân Hành Động tại Việt Nam với chủ trƣơng đấu
tranh ôn hòa cho dân chủ hóa đất nƣớc, tiến tới tổ chức bầu cử tự do.
Tháng 4-1992, công an Việt Nam đánh phá tổ chức, ông và một số chí hữu
tại Sài Gòn bị cáo buộc “lật đổ chính quyền nhân dân” và bị bắt giam.
Trƣớc áp lực từ Chính phủ Hoa Kỳ, các tổ chức quốc tế và đồng bào ở hải ngoại, Nhà nƣớc Việt
Nam phải trả tự do vô điều kiện cho ông và các chí hữu sau hơn 14 tháng giam cầm. Ông đã chính thức
đi vào con đƣờng hoạt động chính trị sau sự kiện này. Về lại Hoa Kỳ năm 1993, ông gặp gỡ cộng đồng
ngƣời Việt nhiều nơi, nhƣng sau đó quyết định đến Campuchia, nơi gần với Việt Nam và có nhiều ngƣời
Việt sinh sống. Chỉ trong thời gian ngắn, Đảng Nhân Dân Hành Động tại Campuchia đã xây dựng nhiều
cơ sở, lớn mạnh nhanh chóng và thu hút đông đảo dân chúng tham gia.
Năm 1996, Hà Nội phối hợp với Phnom Penh triệt hạ Đảng Nhân Dân Hành Động. Nhiều đảng
viên bị bắt và giải giao về Việt Nam trƣớc sự phản đối của các viên chức trong Cao ủy nhân quyền LHQ
tại Phnom Penh. Về nƣớc, tất cả đều bị buộc tội “trốn đi nƣớc ngoài nhằm chống chính quyền nhân
dân”. Ngƣời chịu án tù cao nhất 20 năm là ông Lê Văn Tính, cựu dân biểu Việt Nam Cộng hòa, thành
viên trong Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Đến nay, vẫn còn một số đảng viên trong tù. Sau biến
cố đó, Chính quyền Campuchia không cấp chiếu khán cho ông Bình đến quốc gia này nữa.
Tuy nhiên, trong thời gian dài từ năm 1997, ông vẫn đi lại khắp các nƣớc láng giềng với Việt
Nam vận động và phối hợp thành lập tổ chức chống tham nhũng trong nƣớc.
Mùa hè năm 2005, ông Hoàng Minh Chính đƣợc sang Hoa Kỳ chữa bệnh qua bảo lãnh của bác sĩ
Nguyễn Xuân Ngãi. Một giai đoạn mới trong hoạt động chính trị của ông Nguyễn Sĩ Bình bắt đầu. Trƣớc
khi sang Hoa Kỳ, vào tháng 6-2005, ông Hoàng Minh Chính đã thành lập Phong Trào Dân Chủ Việt Nam
ở trong nƣớc và sau đó phối hợp hoạt động cả trong và ngoài nƣớc với sự cộng tác đắc lực của ông
Nguyễn Sĩ Bình. Tháng 6-2006, Đảng Nhân Dân Hành Động đã giúp ông Hoàng Minh Chính tuyên bố
phục hoạt Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Trong tình thế mới, ông Nguyễn Sĩ Bình đƣợc Đảng Nhân Dân Hành Động cho phép rời khỏi
Đảng, thay thế lâm thời là cố vấn Nguyễn Tƣờng Bá, ngƣời sau đó đƣợc bầu giữ chức vụ quyền Chủ tịch
Đảng Nhân Dân Hành Động.
Tháng 9-2007, ông Nguyễn Sĩ Bình chính thức tham gia Đảng Dân Chủ Việt Nam với bí danh
Nguyễn Tâm, đƣợc Tổng Thƣ ký Hoàng Minh Chính bổ nhiệm làm phụ tá, cố vấn cấp cao và đƣợc quyền
quyết định các vấn đề thay cho Tổng Thƣ ký. Tháng 2-2008, Tổng Thƣ ký Hoàng Minh Chính qua đời.
Đầu tháng 7-2008, ông đƣợc bầu vào chức vụ Trƣởng ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng Dân Chủ Việt
Nam nhiệm kỳ 2006 - 2011, lãnh đạo Đảng tiếp tục con đƣờng của cố Tổng Thƣ ký.
2
www.SachVui.Com
Ngày 1-9-2008, ông cùng Ban Thƣờng vụ ra Tuyên bố quan điểm của Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Nội dung Tuyên bố nêu rõ tính chính danh của Đảng, vẫn đƣờng lối hoạt động ôn hòa, xem đảng cầm
quyền là đối tác chính trị, cùng các chính đảng xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Với quan điểm này, Đảng
Dân Chủ Việt Nam đã nhận đƣợc khá nhiều ủng hộ cả trong và ngoài nƣớc.
Trong hai ngày 27 và 28 tháng 3-2009, ông Nguyễn Sĩ Bình đến Thái Lan, tổ chức cuộc họp tại
Phuket với chí hữu Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức. Đây là cuộc họp bàn thảo các vấn đề và giải
pháp quan trọng cho Việt Nam, trong đó quan trọng hàng đầu là giúp đảng viên phục hoạt Đảng Lao
động và Đảng Xã hội, thanh lọc đảng viên liêm chính ra khỏi thành phần tham nhũng trong hàng ngũ
Đảng Cộng sản. Cuộc họp cũng quyết định cần phải thông báo cho toàn Đảng toàn dân biết thực chất
của tình hình đất nƣớc qua các giai đoạn lịch sử và đề ra hƣớng đi cho tƣơng lai thông qua cuốn sách
“Con đƣờng Việt Nam”. Nhƣng khi công cuộc mới bắt đầu, Nhà nƣớc Việt Nam bất chấp pháp luật và
công luận, đã bắt giam ông Thức, ông Định cùng một số chí hữu nòng cốt Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Mặc dù vậy, cuốn sách “Con đƣờng Việt Nam” nhƣ đã dự định, vẫn đƣợc ra đời.
NXB Thời Đại Mới
Ngày 26 tháng 4 năm 2010
3
www.SachVui.Com
Chƣơng I
CHA ÔNG KHAI MỞ CON ĐƢỜNG
Điều kiện tự nhiên
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, hình dáng chữ S, tiếp giáp với biển Thái Bình Dƣơng
phía Đông, với đất liền: Trung Quốc 1.150 km đƣờng biên phía Bắc, Lào 1.650 km đƣờng biên phía Tây
Bắc và Campuchia 930 km đƣờng biên phía Tây Nam. Từ điểm cực Bắc ở Đồng Văn, Hà Giang (23°24' vĩ
độ Bắc và 105°20' kinh độ Đông) đến điểm cực Nam ở Xóm Mũi, Cà Mau (8°30' vĩ độ Bắc và 104°40'
kinh độ Đông) dài 1.650 km đƣờng chim bay. Từ Tây sang Đông, phần đất liền nơi rộng nhất khoảng
500 km đƣờng chim bay, nhƣng có nơi chỉ “hẹp nhƣ thể một con đƣờng qua lại” với 50 km chiều ngang.
Điểm cực Đông ở Hòn Khói - Khánh Hòa (20°40' vĩ độ Bắc và 109°30' kinh độ Đông), điểm cực Tây ở
vùng núi Pulasan - Lai Châu (22°40' vĩ độ Bắc và 102°10' kinh độ Đông).
Địa hình Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn kiến tạo: tiền cambry kéo dài 200 trăm triệu năm,
hình thành thiên nhiên hoang sơ cùng những dãy núi vùng Tây Bắc và Trung Trung bộ; cổ kiến tạo
kéo dài trên 500 triệu năm với biến đổi tiến - thoái của nƣớc biển, trồi - sụt và bồi đắp - phún trào của
mặt đất tiến tới hoàn chỉnh địa hình, cảnh quan, hệ sinh vật; tân kiến tạo tiếp tục hoàn thiện những
bán bình nguyên, vùng núi và cao nguyên, những nếp đứt gãy hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, các vòng
cung, thung lũng, đầm lầy, châu thổ…
Đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất liền, độ cao dƣới 1.000 m so với mực nƣớc biển, hầu hết thuộc
dạng núi già trẻ hóa lại, cấu tạo bởi nhiều loại nham thạch khác nhau. Phía Bắc chủ yếu là núi đá vôi,
phía Nam là đất đỏ bazan. Trong dãy núi dài 280 km từ Phong Thổ đến Hòa Bình, Phanxipăng cao 3.143
m đƣợc mệnh danh là “nóc nhà Đông Dƣơng”. Đƣờng chinh phục đỉnh cao này trải qua năm chặng:
chân núi phong phú các loại thảo quả, các cây mít, gạo, cơi; tiếp theo là rừng nguyên sinh dây leo nhiều
tầng bậc rậm rạp với các nhóm cây lá kim nhƣ pơmu, thiết sam, lãnh sam, kim sam, thông đỏ, hoàng
đàn; từ 2.000 m trở lên mây mù bao phủ, độ ẩm rất cao; qua khỏi tầng này lại hiện ra bầu trời trong
xanh nhƣng gió lạnh và sự sống cằn cỗi, ở cao độ 2.963 m có một cột mốc do ngƣời Pháp cắm năm
1905; lên đỉnh cao 3.143 m có một khối chóp kim loại do những nhà leo núi nƣớc ngoài chinh phục đặt
lên năm 1984.
Vùng Đông Bắc là các dãy núi hình bán cung bao quanh khối núi vòm ở sông Chảy. Vùng Tây
Bắc có nhiều đỉnh núi cao nhƣ Tây Côn Lĩnh 2.431 m, Kiều Liên Ti 2.403 m, Pu Ta Ca 2.274 m. Về các
tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, núi đồi thoải dần. Ra đến bờ biển ở Quảng Ninh, Hải
Phòng, độ cao còn khoảng 1m so với mực nƣớc biển. Vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ núi non trùng điệp
và hùng vĩ, sƣờn dốc và vực sâu hiểm trở. Nhiều dãy núi xếp theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ
cùng những cao nguyên đá vôi đồ sộ. Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng rộng khoảng 200.000 ha, là một
phần của vùng núi đá vôi cổ nhất kiến tạo nên châu Á vào 400 triệu năm trƣớc. 94% diện tích nơi đây là
rừng nguyên sinh, mức độ đa dạng sinh học cao nhất Việt Nam. Động Phong Nha sâu trên 4.500 m có
hằng hà sa số các nhũ đá kỳ vĩ, sông ngầm bên dƣới dài gần 14 km. Phong Nha đạt 7 kỷ lục thế giới về
hang động: hang nƣớc dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, bãi cát và bãi đá ngầm đẹp nhất, hồ nƣớc
ngầm đẹp nhất, thạch nhũ kỳ ảo nhất, sông ngầm dài nhất, hang khô ráo và rộng nhất. Nơi đây còn có
hàng trăm hang động khác xung quanh.
Trƣờng Sơn là dãy núi lớn và dài nhất: phía Đông đối diện với biển, một số đoạn bị xâm thực
mạnh, thƣờng mƣa do cản hầu hết hơi nƣớc theo gió từ biển vào; phía Tây thoải dần về tả ngạn sông
Mê Kông và khô nóng. Có đoạn những dãy núi đá cao 2.000 m ra sát biển. Cùng với độ sâu tƣơng tự
của đáy biển, tổng cộng độ chênh lệch địa hình đáy biển - đỉnh núi lên đến khoảng 4.000 m. Vùng Nam
Trung bộ và Nam bộ tính từ núi Bạch Mã vào Nam với các tầng sơn nguyên đất đỏ bazan rộng lớn,
chênh lệch độ cao trong khoảng 500 m, có các mạch núi án ngữ phía Bắc và Nam. Qua các dãy núi cuối
cùng ở phía Nam, đồng bằng Nam bộ rộng lớn và phì nhiêu mở ra.
Đất đai phần lớn thuộc nhóm feralit (vùng đá vôi phía Bắc, vùng bazan phía Nam), đất phù sa
(vùng châu thổ các sông và gần biển), đất xám, đất đỏ, đất phèn, đất nhiễm mặn, đất cát và á cát.
Ngoài ra, còn có nhiều loại đất có giá trị công nghiệp nhƣ cát nấu thủy tinh, cao lanh, đất sét… Có tổng
cộng 31 triệu ha đất trồng trọt các loại, chiếm 22% diện tích. Đất lâm nghiệp 19 triệu ha (hiện còn 8,6
4
www.SachVui.Com
triệu ha rừng tự nhiên), chiếm gần 30% diện tích. Thảm động thực vật phong phú, cây trồng vật nuôi
đa dạng danh mục.
Việt Nam có 2.860 con sông lớn nhỏ với tổng lƣu lƣợng dòng chảy khoảng 867 tỉ m3/năm, hình
thành gần 20 cửa biển lớn nhỏ. Các sông hầu hết là sông trẻ, chảy qua địa hình đồi núi thung lũng,
nhiều thác ghềnh hẹp và dốc, nƣớc chảy xiết và êm đềm, bờ lở và bồi… Do có mùa mƣa và mùa khô
nên lƣu lƣợng nhiều dòng chảy không ổn định. Phần lớn các sông mang lƣợng phù sa bào mòn ở những
vùng đất thƣợng nguồn, lắng đọng bồi đắp lên các châu thổ và vùng duyên hải. Sông Hồng có 614 phụ
lƣu, phần lƣu vực ở Việt Nam rộng gần 80.000 km2, đổ ra biển 12 tỉ m3 nƣớc/năm. Sông Cửu Long dài
230 km trong lãnh thổ Việt Nam, chia thành hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu với 9 cửa đổ ra biển,
chiếm khoảng 60% tổng lƣu lƣợng nƣớc tất cả các con sông. Cả hai con sông lớn đều bắt nguồn từ
Trung Quốc, chảy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam.
Theo hai dòng sông lớn là đồng bằng Bắc bộ rộng 15.000 km2 và Nam bộ rộng 40.000 km2.
Đồng bằng Nam bộ bị nƣớc mặn xâm thực theo chế độ thủy triều lên 1/3 diện tích về phía biển, hàng
năm lấn ra biển gần 80 m ở Cà Mau. Nơi đây, nhà văn Nguyễn Tuân từng ví là ngón chân chƣa khô bùn
vạn dặm trên đƣờng mở mang bờ cõi của cha ông. Giữa hai đồng bằng lớn hai đầu đất nƣớc là chuỗi
các vùng đồng bằng nhỏ duyên hải miền Trung.
Về khí hậu, đầu thời kỳ tân kiến tạo đã hình thành chế độ khí hậu lục địa, sau chuyển sang nhiệt
đới ẩm, nằm trong vành đai nhiệt đới nửa cầu Bắc nhƣng gần chí tuyến Bắc hơn là xích đạo trái đất.
Nhiệt độ trung bình khoảng 23°C, chênh lệch 22°C - 27°C, độ ẩm trung bình 80%, số giờ nắng khoảng
1.500 - 2.000 giờ. Lƣợng mƣa khoảng 100 ngày/năm, chênh lệch 1.500 mm - 2.000 mm, có nơi lƣợng
mƣa đạt đến 3.000 - 4.000 mm/năm. Mùa mƣa chiếm 80% lƣợng mƣa cả năm. Mƣa phùn nhẹ hạt phía
Bắc vào xuân, dai dẳng và ẩm ƣớt nhiều nhất là mƣa Huế, mƣa bóng mây đan xen với các giờ nắng
trong ngày phía Nam… Cùng với địa hình, chế độ gió mùa cũng hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cả
nƣớc. Nhìn chung, từ đèo Hải Vân ra Bắc thuộc khí hậu bốn mùa, càng về Nam càng rõ hai mùa.
Do chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc nên Việt Nam vào mùa đông lạnh và mùa hạ mát
hơn, nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các nƣớc châu Á trên cùng vĩ độ. Khí hậu Việt Nam kết hợp với
cao độ vùng miền tạo ra Sa Pa, Bà Nà, Đà Lạt và nhiều địa danh nổi tiếng, cảnh thiên nhiên và đặc sản
độc đáo. Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.600 m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ trung bình 15°C - 18°C, mùa
hè mát mẻ, mùa đông mây mù bao phủ, có năm tuyết rơi, nhiều loại dƣợc liệu quý và các loại rau quả
vùng ôn đới. Bà Nà (phía Tây Đà Nẵng) có đỉnh núi cao gần 1.500 m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ
trung bình 17°C - 20°C với nhiều khu rừng nguyên sinh hệ động thực vật phong phú: 136 họ, 379 chi,
543 loài. Đà Lạt (Lâm Đồng) độ cao 1.500 m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ 15°C - 24°C, thời tiết bốn
mùa trong ngày. Đây là xứ sở của thông, hoa quỳ vàng và nhiều hoa đẹp, còn đƣợc mệnh danh là “bảo
tàng” của các thác nƣớc, vùng hồ, thung lũng, đồi cỏ…
Tuy nhiên, khí hậu và thời tiết bất thƣờng cũng tạo ra lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, nhất là nhiều
trận bão từ biển đổ bộ vào đất liền hàng năm. Từ năm 1954 đến 1991, thống kê cho thấy có 212 cơn
bão xuất phát từ biển Thái Bình Dƣơng. Với hai dòng hải lƣu lớn theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam hoạt
động vào mùa đông và Tây Nam - Đông Bắc hoạt động vào mùa hè, luân chuyển đều đặn tạo ra những
đợt áp thấp nhiệt đới từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm, ảnh hƣởng trực tiếp vào đất liền, nhất là khu
vực miền Trung và miền Bắc. Trung bình có 6 cơn bão/năm, nhƣng có năm đến 12 cơn bão.
Vùng biển đƣợc xác định thuộc chủ quyền Việt Nam nằm trong biển Đông, một diện tích mặt
nƣớc lớn và kín thuộc Thái Bình Dƣơng. Theo quy định quốc tế, biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2,
lãnh hải tiếp giáp với Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Campuchia, Thái Lan,
Singapore. Đây là vùng biển hầu nhƣ nóng quanh năm, nhiệt độ mặt nƣớc thƣờng cao hơn nhiệt độ
không khí, độ mặn trung bình là 34 phần nghìn. Vùng biển miền Bắc nhiệt độ 25°C - 21°C, miền Trung
28°C - 25°C và miền Nam 29°C - 27°C. Biển Việt Nam cũng hình thành hai chế độ thủy triều: nhật triều
(nƣớc lên xuống 1 lần/ngày) từ Móng cái đến Quảng Bình, Đà Nẵng đến mũi Ba Kiểm hay từ Hà Tiên
đến mũi Cà Mau và bán nhật triều (nƣớc lên xuống 2 lần/ngày) đối với các đoạn bờ biển còn lại. Dựa
vào chế độ thủy triều mà cha ông ta có nhiều kinh nghiệm đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và cả đánh
giặc.
Biển Việt Nam có gần 7.000 loài động vật đƣợc biết đến (có 2.000 loài cá biển), còn là kho muối
vô tận. Trong diện tích đƣợc xác định chủ quyền, có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ, kể cả một số đảo dạng
bãi ngầm. Vịnh Bắc bộ có 3.000 đảo, biển thuộc miền Trung có hàng trăm đảo, khu vực thuộc Bà Rịa -
5
www.SachVui.Com
Vũng Tàu có 16 đảo, Phú Quốc là đảo lớn nhất. Hoàng Sa (Paracel Islands) nằm vào 110° - 113° kinh
độ Đông và 15°45' - 17°15' vĩ độ Bắc, với trên 30 đảo, bãi đá ngầm và san hô, gồm ba nhóm đảo chính:
Nguyệt Thiên, Tuyên Đức, Linh Côn. Trƣờng Sa (Spratly Islands) nằm vào 111°30' - 117°20' kinh độ
Đông và 6°50' - 12° vĩ độ Bắc với trên 100 đảo trong diện tích 180.000 km2 mặt biển. Đây là hai quần
đảo ở khu vực biển miền Trung, bị xâm chiếm bởi Trung Quốc và một số nƣớc quanh vùng, đã và đang
diễn ra nhiều tranh cãi về việc khẳng định chủ quyền. Hơn 120 bãi tắm nằm dọc theo bờ biển cát trắng
giàu nắng và gió từ Bắc vào Nam, nhiều nơi cảnh đẹp, hàng trăm loại hải sản và thực phẩm quý hiếm
cùng cách chế biến món ăn độc đáo… tạo ra tiềm năng lớn về du lịch.
Vịnh Hạ Long rộng trên 1.500 km2, gồm 1.696 đảo lớn nhỏ, cấu tạo đá vôi và phiến thạch, hình
thành cách đây 250 - 280 triệu năm, thiên hình vạn trạng các đảo với nhiều tên gọi ấn tƣợng, bên trong
có nhiều hang động đẹp. Trong đó, vùng tập trung rộng 434 km2 với 775 đảo đƣợc UNESCO công nhận
là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ nhất năm 1994 và lần thứ hai năm 2000. Vịnh Cam Ranh rộng gần
60 km2, quanh năm nắng ấm, bầu trời trong xanh, chế độ thủy triều ổn định. Đáy vịnh sâu 18 m - 20
m, kết cấu cát pha bùn lắng chặt, gần nhƣ bằng phẳng. Các nhà nghiên cứu địa lý - quân sự thế giới
công nhận Cam Ranh là một trong ba quân cảng có thế mạnh tổng hợp hải - lục - không quân và còn
giữ vẻ đẹp hoang sơ (cùng với Vịnh Lad San Francisco và Rio de Janeiro). Vịnh Nha Trang diện tích 507
km2, nhiệt độ trung bình 26°C, gồm 19 đảo lớn nhỏ, là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có tập
trung đủ các hệ sinh thái: đất ngập nƣớc, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các hệ sinh thái
cửa sông, đảo biển, bãi cát. Đảo Hòn Mun có 350 loài san hô, chiếm 40% các loài san hô thế giới. Nhiều
đảo ở đây là danh thắng và có các loại đặc sản nổi tiếng. Năm 2003, Nha Trang đƣợc xếp vào một trong
29 vịnh đẹp nhất thế giới. Vịnh Vân Phong rộng 80.000 ha, độ sâu 15 m - 22 m. Địa hình khu vực có
đảo, bán đảo, vũng sâu, bãi biển, cồn cát, rừng nhiệt đới, rừng và động thực vật ngập mặn… Cảng
trung chuyển quốc tế Vân Phong tƣơng lai là nơi cập bến tàu container công suất 9.000 TEU, năng lực
tiếp nhận 0,5 triệu TEU/năm. Dự án VIE89/003 của Hiệp hội Du lịch thế giới (OMT) đánh giá đây là một
trong những cảnh đẹp và nơi nghỉ ngơi lý tƣởng ở châu Á, vƣợt trên Phuket, sánh ngang với bãi biển
Sierra Leone châu Phi.
Rừng Việt Nam thuộc dạng rừng rậm nhiệt đới, nhiều tầng bậc, lá rụng mùa khô. Ngoài ra, cũng
có rừng thƣa, rừng xa-van, rừng cỏ, rừng ngập mặn. Rừng là kho tàng vô giá về tài nguyên, có tác
dụng điều tiết nƣớc và khí hậu, quyết định an ninh quốc gia. Có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao,
nhiều nhóm gỗ quý, cây hƣơng liệu, dƣợc liệu và thực phẩm hiếm. Rừng cũng là nơi cƣ ngụ của khoảng
1.000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và da ẩm, cùng nhiều loài động vật quý hiếm. Độ che phủ
của rừng chiếm gần 40%, trong đó rừng nguyên sinh còn khoảng 13%. Tài nguyên rừng ngày nay đang
có xu hƣớng bị hủy hoại và cạn kiệt nhiều mặt, cần đƣợc bảo vệ và khôi phục.
Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng rộng 22.200 ha với 3/4 diện tích núi đá vôi. Nơi đây có suối nƣớc
nóng 38°C, các cây chò xanh và sấu cổ thụ cao 50 m - 70 m đã nghìn năm tuổi, gần 2.000 loài thực vật,
71 loài thú, 319 loài chim, 33 loài bò sát, 16 loài lƣỡng cƣ. Các thú quý hiếm: gấu ngựa, lợn lòi, báo,
hƣơu sao, vọc quần đùi, thằn lằn bay, sóc bay… Vƣờn Quốc gia Cát Tiên đƣợc UNESCO công nhận là
khu dự trữ sinh quyển thứ 411 trên trái đất, rộng 70.548 ha, khí hậu chuyển tiếp giữa miền núi và đồng
bằng, xung quanh có sông suối bao bọc, bên trong gồm rừng già, đầm lầy, trảng cỏ, bãi cát vàng ven
bờ, đảo giữa sông, suối dốc… Nơi đây có 1.362 loài thực vật, 62 loài thú, 121 loài chim. Thú quý hiếm:
hạc cổ trắng, gà đẫy Giava, cò lao Ấn Độ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, cá sấu nƣớc ngọt, công, trĩ,
gà lôi, le le, mòng két… Gỗ quý: gõ, giáng hƣơng, trắc, cẩm lai, gụ… Vƣờn Quốc gia Mũi Cà Mau rộng
41.862 ha, thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên, đa dạng sinh học - cảnh quan - văn hóa. Nơi đây
còn tồn tại nguồn gien đặc hữu 22 loài thực vật ngập mặn, cùng các loài có tên trong sách đỏ thế giới:
cà khu, khỉ đuôi dài, bồ nông chân xám, quắn trắng, cò Trung Quốc… Rừng ở đây có tác dụng chống xói
lở, giữ cho các bãi bồi vƣơn ra biển, cung cấp nguồn thủy sản phong phú. UNESCO công nhận các khu
dự trữ sinh quyển thế giới nhƣ: Cát Bà (Hải Phòng), Tiền Hải (Thái Bình), Giao Thủy (Nam Định), Tây
Nghệ An, đảo Cù lao Chàm (Quảng Nam), Cần Giờ (Sài Gòn), Nam Cát Tiên (Đồng Nai - Bình Phƣớc Lâm Đồng), Phú Quốc (Kiên Giang), Cà Mau.
Cùng với biển và rừng, tài nguyên còn có nguồn nƣớc mặt (gồm nƣớc ngọt, nƣớc lợ, nƣớc mặn)
và khoáng sản. Việt Nam có 394.000 ha ao hồ. Hồ Ba Bể kiến tạo từ các vết nứt gãy cũ, hồ ở Tây
Nguyên có nguồn gốc từ các miệng núi lửa đã tắt, các ao hồ đầm lầy vùng ven biển là dấu tích của quá
trình bồi lắng không đồng đều. Đây là kho tàng phong phú cung cấp thủy hải sản (riêng cá nƣớc ngọt
6
www.SachVui.Com
có 200 loài), thủy điện, nƣớc sinh hoạt. Nguồn nƣớc ngầm, nƣớc khoáng, nƣớc nóng cũng có ở nhiều
nơi. Về khoáng sản, Việt Nam nằm trong vành đai sinh khoáng Thái Bình Dƣơng và Địa Trung Hải với
2.000 điểm mỏ và quặng. Trong khoảng 90 loại khoáng sản đƣợc xác định, có đầy đủ than (6 tỉ tấn),
dầu khí (4 tỉ thùng dầu và 70 tỉ m3 khí đốt), U-ra-ni (300.000 tấn), kim loại đen và màu, khoáng sản phi
kim loại… Nắng và gió là tài nguyên năng lƣợng tƣơng lai.
Việt Nam đa dạng và phong phú các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang bản sắc độc
đáo: trên 1.400 di tích kiến trúc nghệ thuật, 70 di tích khảo cổ, trên 110 danh thắng, hàng trăm lễ hội
truyền thống và các thuần phong mỹ tục cần cho việc nghiên cứu văn hóa dân tộc và nhân loại.
UNESCO đã công nhận các vịnh đẹp, Vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể kiến trúc kinh
thành Huế, Khu đô thị cổ Hội An, Khu di tích tháp Chàm Mỹ Sơn, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ và ca trù, mộc bản triều Nguyễn, bia đá Văn Miếu - Quốc Tử
Giám…
Việt Nam có 54 dân tộc, dân tộc Kinh chiếm trên 80%. Căn cứ về ngôn ngữ, có 8 nhóm: nhóm
Việt - Mƣờng (4 dân tộc: Kinh, Chứt, Mƣờng, Thổ), nhóm Tày - Thái (8 dân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự,
Nùng, Sán Chay, Tày, Thái), nhóm Môn - Khmer (21 dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co,
Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, Mơ Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ổi, Xinh
Mun, Xơ Đăng, Sê Tiêng), Nhóm Mông - Dao (3 dân tộc: Dao, Mông, Pà Thẻn), nhóm Ka Dai (4 dân tộc:
Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo), nhóm Nam Đảo (5 dân tộc: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai),
nhóm Hán (3 dân tộc: Hoa, Ngái, Sán Dìu), nhóm Tạng (6 dân tộc: Cống, Hà Nhi, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá,
Si La). Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình phân ly và cố kết trong mỗi dân tộc và các dân tộc đã
diễn ra. Khi đất nƣớc và thể chế gắn liền với quá trình mở rộng không gian sinh tồn, các dân tộc gia
nhập, hình thành nên cộng đồng ngƣời Việt đa dạng bản sắc. Quá trình cùng tham gia hoạt động kinh
tế và các lĩnh vực đời sống đã thể hiện tinh thần đoàn kết, cộng cƣ xây dựng các làng xã, tiểu vùng trên
cả nƣớc.
Nhìn chung, Việt Nam có điều kiện tự nhiên phong phú, vị trí địa lý cũng tạo ra hoàn cảnh đặc
biệt trong các quan hệ kinh tế, chính trị, lối sống, văn hóa, cố kết dân tộc… suốt quá trình dựng nƣớc,
giữ nƣớc và mở mang bờ cõi.
Thời kỳ lập quốc và Bắc thuộc
Cội nguồn
Trƣớc khi xuất hiện Quốc tổ Lạc Long Quân, có một truyền thuyết về nguồn gốc ngƣời Việt càng
xa xƣa hơn: vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, khi đến vùng đất phƣơng Nam, ở chân Núi
Ngũ Lĩnh thuộc Hồ Nam (Trung Quốc), gặp một tiên nữ là con gái của bà Vũ Tiên. Vua cảm mến, cầu
hôn cùng tiên nữ, sau này sinh ra ngƣời con trai rất khôi ngô và tài trí, đặt tên là Lộc Tục. Về già, vua
Đế Minh truyền ngôi cho con trƣởng là Đế Nghi lập vƣơng nghiệp ở phƣơng Bắc. Lộc Tục đƣợc phong
làm vua ở vùng đất Hồ Nam, tính từ phía Nam sông Trƣờng Giang xuống đồng bằng sông Hồng, sông
Mã (Việt Nam), xƣng là Kinh Dƣơng Vƣơng (vua của hai châu Kinh và Dƣơng). Đây là vị vua đầu tiên
mở ra triều đại sơ khai thời Hồng Bàng, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ (không phải là Quỷ Đỏ, mà có nghĩa
là cộng đồng những ngƣời thƣờng mình trần ở vùng khí hậu nóng, để phân biệt với cộng đồng Hoa - Hạ
phƣơng Bắc luôn mặc áo dày chống rét). Thời này đã có nhiều tộc ngƣời Việt cổ cùng sinh sống nhƣ: Dạ
Lang, Mân Việt, Điền Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Sơn Việt, Âu Việt…
Kinh Dƣơng Vƣơng cầu hôn với Long nữ là con gái của vua Thần Long sống ở vùng hồ Động
Đình, sinh ra ngƣời con trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm khi trƣởng thành đƣợc vua cha truyền ngôi,
xƣng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lại cầu hôn với Âu Cơ là con gái vua Đế Lai, sinh một bọc bên
trong chứa trăm trứng, nở ra trăm con. Một ngày nọ, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: “Ta và nàng, một
bên là giống Rồng, một bên là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không cùng ở lâu dài đƣợc”. Cha Rồng
mẹ Tiên từ đó chia hai số con, mẹ đƣa một nửa lên rừng, cha đƣa một nửa về miền biển sinh sống. Cho
nên, “Trăm trứng nở trăm con” và từ “đồng bào” (cùng một bào thai bọc trứng) là truyền thuyết độc
đáo giải thích nguồn gốc dân tộc Việt Nam mà hiếm thấy ở các dân tộc khác trên thế giới.
Ngƣời con trƣởng đƣợc ở lại làm vua vùng đất cũ, xƣng là Hùng Vƣơng. Theo đó, Nhà nƣớc Văn
Lang ra đời, đóng đô ở Bạch Hạc (vùng đất Phong Châu thuộc Phú Thọ ngày nay). Văn Lang “Đông giáp
7
www.SachVui.Com
Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp Hồ Động Đình, Nam giáp Hồ Tôn” [1]. Đất nƣớc đƣợc chia thành
15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hƣng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Ninh Hải, Dƣơng Tuyến,
Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thƣờng, Bình Văn. Các lạc tƣớng trông coi các bộ, dƣới
bộ là làng và chạ, do các bồ chính (bô lão) đứng đầu. Trong họ Hồng Bàng của các vua Hùng, con trai
gọi là Quan lang, con gái gọi là Mỵ nƣơng. Cha truyền con nối, có 18 đời vua Hùng trị vì:
- Hùng Dƣơng (Lộc Tục)
- Hùng Hiền (Sùng Lãm)
- Hùng Lân
- Hùng Việp
- Hùng Hy
- Hùng Huy
- Hùng Chiêu
- Hùng Vĩ
- Hùng Định
- Hùng Hy (khác Hùng Hy đời thứ 5 về cách viết chữ Hán)
- Hùng Trinh
- Hùng Võ
- Hùng Việt
- Hùng Anh
- Hùng Triều
- Hùng Tạo
- Hùng Nghị
- Hùng Duệ.
Các lễ tục hình thành trong thời kỳ này: tục ăn trầu gắn liền sự tích trầu cau và câu tục ngữ
“miếng trầu mở đầu câu chuyện”, tục thờ bà tổ nghề dệt Hoàng Phủ Thiếu Hoa, tục làm và dâng cúng
bánh chƣng bánh giầy, tục thờ Bố Cái dƣa hấu (thờ ông bà tổ dƣa hấu, gắn với nhân vật An Tiêm), tục
cúng cung tên tại miếu thờ Tản Viên, tục cƣớp bông tại lễ cúng Thành hoàng Đinh Thiên Tích, tục thờ
cơm sống, thờ lúa và thờ các thần…
Các vua Hùng cũng dựng đền thờ Quốc tổ. Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) nhìn xuống: đền
Thƣợng, mộ Tổ, đền Trung, đền Hạ, đền Giếng, gác chuông, chùa Thiền Quang và Thiếu Tự… Đền
Thƣợng là nơi các vua Hùng đến cúng tế trời đất để cầu mƣa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời
sống no đủ. Nơi đây quang cảnh bao la, phóng tầm bốn phƣơng tám hƣớng thấy núi sông bày ra hùng
vĩ. Mộ Tổ đặt theo hƣớng mặt trời mọc và lặn. Đền Trung là nơi họp bàn việc nƣớc của các đời vua
Hùng. Đền Hạ là nơi thờ mẹ Âu Cơ. Đền Giếng dƣới chân núi, nơi thờ công chúa Tiên Dung (kết hôn
cùng Chử Đồng Tử) và công chúa Ngọc Hoa (kết hôn cùng Tản Viên).
Thời vua Hùng, chính giỗ vào ngày 12 tháng Ba ÂL hàng năm, về sau đổi thành mồng 10 tháng
Ba ÂL, chủ tế là bô lão ở địa phƣơng, có quan triều thần cùng đến dự. Từ giỗ đã trở thành lễ hội thiêng
liêng, ngƣời Việt hành hƣơng về cội nguồn tỏ lòng kính hiếu với ...
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử, còn sáng chói bao chiến công hào hùng trên
những chặng đƣờng. Trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, cha ông đã để lại cho chúng ta một dải
non sông thống nhất từ Bắc vào Nam, giàu tài nguyên thiên nhiên, nhiều truyền thống tốt đẹp. Đất
nƣớc cũng nằm ở giao điểm các nền văn hóa văn minh lớn gặp nhau, đã tiếp biến nhiều giá trị làm đa
dạng các yếu tố dân tộc và lối sống.
Lật lại những trang sử các thời kỳ, mỗi ngƣời dân Việt, dù trong hay ngoài nƣớc, luôn đƣợc khơi
dậy tình yêu quê hƣơng, niềm tự hào tổ quốc. Đó là thời nghìn năm Bắc thuộc với tinh thần chống Hán
hóa, nhiều cuộc khởi nghĩa giành lại chủ quyền diễn ra mà trận chiến thắng Bạch Đằng là đỉnh cao. Đó
là thời kỳ độc lập tự chủ, cha ông không những bảo vệ non sông mà còn mở mang bờ cõi, không những
giữ gìn mà còn làm phong phú trƣờng tồn bản sắc văn hóa Việt Nam. Với những chiến công hiển hách
chống phƣơng Bắc xâm lƣợc, những anh hùng Thập đạo tƣớng quân Lê Hoàn, Lý Thƣờng Kiệt, Trần
Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… mãi mãi lƣu danh. Đó còn là đời sống tôn giáo, lễ hội, tâm linh, phong
tục tập quán, ngôn ngữ, các công trình mỹ thuật và kiến trúc, cùng hàng loạt hệ giá trị giàu tính cộng
đồng, nhân nghĩa, nhân văn Việt Nam.
Bƣớc vào thời kỳ cận đại, những cuộc chiến tranh khốc liệt diễn ra, cả nƣớc phải trả giá bằng
biết bao hy sinh. Nhìn lại hệ tƣ tƣởng cộng sản từ khi xuất hiện ở Việt Nam, ban đầu là gắn vào đấu
tranh giải phóng dân tộc dẫn đến chia cắt hai miền năm 1954. Tiếp theo, Việt Nam là chiến trƣờng đối
đầu giữa các hệ tƣ tƣởng. Sau thống nhất năm 1975 là cuộc chiến hai đầu biên giới… Ở giai đoạn hòa
bình, có thời kỳ động lực phát triển xã hội gần nhƣ bị triệt tiêu. Thời kỳ đổi mới không toàn diện tạo ra
nhiều nguy hiểm, tác hại trực tiếp có, hậu quả không dễ khắc phục vẫn tiềm tàng. Thời kỳ hội nhập sâu
rộng hiện nay càng thêm nhiều rối ren trong đƣờng lối nội trị lẫn ngoại giao. Câu hỏi mà nhiều ngƣời
đang quan tâm: liệu Việt Nam sẽ tiếp tục tình trạng phân hóa giàu nghèo, bất công và tụt hậu đến mức
nào? Gần một thế kỷ, các văn kiện, cƣơng lĩnh, đƣờng lối, kể cả hiến pháp và pháp luật thể hiện tƣ
tƣởng và đƣờng lối cộng sản đã bất ổn, xã hội không thể tiếp tục chịu đựng và hy sinh mãi.
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi có đấu tranh vô sản, lịch sử dân tộc cũng
chính là lịch sử của đảng phái này. Cho nên, phản ánh đã trở nên thiếu tôn trọng sự thật. Nhiều lối rẽ
đau thƣơng cùng đƣờng bị che giấu. Nhiều góc khuất chƣa đƣợc sáng tỏ, còn bị phủ lên đó giải thích
chủ quan. Ở khởi điểm ban đầu, nhiều ngƣời có thể tin vào lý tƣởng tốt đẹp, nhƣng qua các giai đoạn
cách mạng, lý tƣởng ấy đã không còn. Sai lầm lớn nhất của Đảng Cộng sản là đã đặt lợi ích giai cấp lên
trên lợi ích dân tộc, thậm chí không ít thời điểm và sự kiện cho thấy dân tộc phải chịu hy sinh vì nhiệm
vụ Quốc tế cộng sản. Trong quá trình hoạt động, Đảng Cộng sản cũng tiêu diệt mọi lực lƣợng có tƣ
tƣởng và quan điểm đa dạng, tiến tới độc quyền. Ngày nay, lợi ích một nhóm nhỏ lại tiếp tục đặt trên lợi
ích dân tộc, mối quan hệ cộng sản giữa Việt Nam và Trung Quốc bất chấp quyền lợi toàn dân. Thế hệ
trẻ sẽ bƣớc tiếp nhƣ thế nào trên con đƣờng nhiều hy sinh và nguy hiểm đó?
Vấn đề trƣớc hết là phải nhìn lại lịch sử để có đánh giá xác thực, thấy sai lầm mà tránh lặp lại,
để hình thành những tƣ tƣởng và lực lƣợng tiên phong. Đây là việc làm quan trọng và cần thiết, tạo
điều kiện cho mỗi ngƣời dân nhìn thấy con đƣờng xuyên suốt của dân tộc, định hƣớng cho thế hệ trẻ
đóng góp tích cực nhằm chấn hƣng đất nƣớc. Trong thời đại hội nhập, xã hội cần phát huy dân chủ và
thƣợng tôn pháp luật, mỗi ngƣời cần đƣợc tôn trọng quyền công dân và quyền con ngƣời. Chúng ta cần
có tầm nhìn rộng để thấy xu hƣớng thời đại, xác định đất nƣớc đứng ở vị trí nào trên bản đồ thế giới.
Với tinh thần ấy, “Con đƣờng Việt Nam” sẽ cố gắng làm rõ những chặng đƣờng dân tộc đã
qua và đề nghị một triển hƣớng cho tƣơng lai. Cuốn sách là dịp gặp mặt hội thảo với nhiều quan điểm,
chính kiến về các vấn đề bị che khuất lâu nay. Cuốn sách cũng nhằm tƣởng nhớ ông Hoàng Minh Chính,
cố Tổng Thƣ ký Đảng Dân Chủ Việt Nam, nguyên Viện trƣởng Viện Triết học Mác-Lênin tại Việt Nam.
Xin kính tặng cuốn sách này cho tất cả đồng bào, anh chị em mọi tầng lớp đang mong muốn cho
Việt Nam một Nhà nƣớc pháp quyền, hội nhập và nhân bản.
Chủ biên
Nguyễn Sĩ Bình
Palo Alto, Mùa Xuân 2010
1
www.SachVui.Com
CHỦ BIÊN CUỐN SÁCH
“CON ĐƢỜNG VIỆT NAM”
Nguyễn Sĩ Bình sinh năm 1954 tại tỉnh Bình Định, là ngƣời con thứ
hai trong gia đình có sáu anh em. Tháng 4-1975, giữa lúc đang học tại Sài
Gòn, ông theo chƣơng trình di tản từ Việt Nam sang Hoa Kỳ. Sau thời gian
đi làm và tiếp tục học, ông tốt nghiệp kỹ sƣ hạt nhân (nuclear engineer)
tại Đại học Maryland, College Park, Maryland, USA. Năm 1981, ông làm
việc cho Bechtel Power Corporation. Năm 1983, ông chuyển ngành sang
Công ty phát triển địa ốc General Development Corp.
Dù xa quê nhà nhƣng ông luôn hƣớng về Việt Nam. Từ năm 1985,
ông tập trung suy nghĩ những vấn đề đất nƣớc. Sau khi Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, ông dành hầu hết thời gian cho hoạt động chính trị. Năm 1991,
ông thành lập Đảng Nhân Dân Hành Động tại Việt Nam với chủ trƣơng đấu
tranh ôn hòa cho dân chủ hóa đất nƣớc, tiến tới tổ chức bầu cử tự do.
Tháng 4-1992, công an Việt Nam đánh phá tổ chức, ông và một số chí hữu
tại Sài Gòn bị cáo buộc “lật đổ chính quyền nhân dân” và bị bắt giam.
Trƣớc áp lực từ Chính phủ Hoa Kỳ, các tổ chức quốc tế và đồng bào ở hải ngoại, Nhà nƣớc Việt
Nam phải trả tự do vô điều kiện cho ông và các chí hữu sau hơn 14 tháng giam cầm. Ông đã chính thức
đi vào con đƣờng hoạt động chính trị sau sự kiện này. Về lại Hoa Kỳ năm 1993, ông gặp gỡ cộng đồng
ngƣời Việt nhiều nơi, nhƣng sau đó quyết định đến Campuchia, nơi gần với Việt Nam và có nhiều ngƣời
Việt sinh sống. Chỉ trong thời gian ngắn, Đảng Nhân Dân Hành Động tại Campuchia đã xây dựng nhiều
cơ sở, lớn mạnh nhanh chóng và thu hút đông đảo dân chúng tham gia.
Năm 1996, Hà Nội phối hợp với Phnom Penh triệt hạ Đảng Nhân Dân Hành Động. Nhiều đảng
viên bị bắt và giải giao về Việt Nam trƣớc sự phản đối của các viên chức trong Cao ủy nhân quyền LHQ
tại Phnom Penh. Về nƣớc, tất cả đều bị buộc tội “trốn đi nƣớc ngoài nhằm chống chính quyền nhân
dân”. Ngƣời chịu án tù cao nhất 20 năm là ông Lê Văn Tính, cựu dân biểu Việt Nam Cộng hòa, thành
viên trong Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Đến nay, vẫn còn một số đảng viên trong tù. Sau biến
cố đó, Chính quyền Campuchia không cấp chiếu khán cho ông Bình đến quốc gia này nữa.
Tuy nhiên, trong thời gian dài từ năm 1997, ông vẫn đi lại khắp các nƣớc láng giềng với Việt
Nam vận động và phối hợp thành lập tổ chức chống tham nhũng trong nƣớc.
Mùa hè năm 2005, ông Hoàng Minh Chính đƣợc sang Hoa Kỳ chữa bệnh qua bảo lãnh của bác sĩ
Nguyễn Xuân Ngãi. Một giai đoạn mới trong hoạt động chính trị của ông Nguyễn Sĩ Bình bắt đầu. Trƣớc
khi sang Hoa Kỳ, vào tháng 6-2005, ông Hoàng Minh Chính đã thành lập Phong Trào Dân Chủ Việt Nam
ở trong nƣớc và sau đó phối hợp hoạt động cả trong và ngoài nƣớc với sự cộng tác đắc lực của ông
Nguyễn Sĩ Bình. Tháng 6-2006, Đảng Nhân Dân Hành Động đã giúp ông Hoàng Minh Chính tuyên bố
phục hoạt Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Trong tình thế mới, ông Nguyễn Sĩ Bình đƣợc Đảng Nhân Dân Hành Động cho phép rời khỏi
Đảng, thay thế lâm thời là cố vấn Nguyễn Tƣờng Bá, ngƣời sau đó đƣợc bầu giữ chức vụ quyền Chủ tịch
Đảng Nhân Dân Hành Động.
Tháng 9-2007, ông Nguyễn Sĩ Bình chính thức tham gia Đảng Dân Chủ Việt Nam với bí danh
Nguyễn Tâm, đƣợc Tổng Thƣ ký Hoàng Minh Chính bổ nhiệm làm phụ tá, cố vấn cấp cao và đƣợc quyền
quyết định các vấn đề thay cho Tổng Thƣ ký. Tháng 2-2008, Tổng Thƣ ký Hoàng Minh Chính qua đời.
Đầu tháng 7-2008, ông đƣợc bầu vào chức vụ Trƣởng ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng Dân Chủ Việt
Nam nhiệm kỳ 2006 - 2011, lãnh đạo Đảng tiếp tục con đƣờng của cố Tổng Thƣ ký.
2
www.SachVui.Com
Ngày 1-9-2008, ông cùng Ban Thƣờng vụ ra Tuyên bố quan điểm của Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Nội dung Tuyên bố nêu rõ tính chính danh của Đảng, vẫn đƣờng lối hoạt động ôn hòa, xem đảng cầm
quyền là đối tác chính trị, cùng các chính đảng xây dựng và bảo vệ đất nƣớc. Với quan điểm này, Đảng
Dân Chủ Việt Nam đã nhận đƣợc khá nhiều ủng hộ cả trong và ngoài nƣớc.
Trong hai ngày 27 và 28 tháng 3-2009, ông Nguyễn Sĩ Bình đến Thái Lan, tổ chức cuộc họp tại
Phuket với chí hữu Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức. Đây là cuộc họp bàn thảo các vấn đề và giải
pháp quan trọng cho Việt Nam, trong đó quan trọng hàng đầu là giúp đảng viên phục hoạt Đảng Lao
động và Đảng Xã hội, thanh lọc đảng viên liêm chính ra khỏi thành phần tham nhũng trong hàng ngũ
Đảng Cộng sản. Cuộc họp cũng quyết định cần phải thông báo cho toàn Đảng toàn dân biết thực chất
của tình hình đất nƣớc qua các giai đoạn lịch sử và đề ra hƣớng đi cho tƣơng lai thông qua cuốn sách
“Con đƣờng Việt Nam”. Nhƣng khi công cuộc mới bắt đầu, Nhà nƣớc Việt Nam bất chấp pháp luật và
công luận, đã bắt giam ông Thức, ông Định cùng một số chí hữu nòng cốt Đảng Dân Chủ Việt Nam.
Mặc dù vậy, cuốn sách “Con đƣờng Việt Nam” nhƣ đã dự định, vẫn đƣợc ra đời.
NXB Thời Đại Mới
Ngày 26 tháng 4 năm 2010
3
www.SachVui.Com
Chƣơng I
CHA ÔNG KHAI MỞ CON ĐƢỜNG
Điều kiện tự nhiên
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dƣơng, hình dáng chữ S, tiếp giáp với biển Thái Bình Dƣơng
phía Đông, với đất liền: Trung Quốc 1.150 km đƣờng biên phía Bắc, Lào 1.650 km đƣờng biên phía Tây
Bắc và Campuchia 930 km đƣờng biên phía Tây Nam. Từ điểm cực Bắc ở Đồng Văn, Hà Giang (23°24' vĩ
độ Bắc và 105°20' kinh độ Đông) đến điểm cực Nam ở Xóm Mũi, Cà Mau (8°30' vĩ độ Bắc và 104°40'
kinh độ Đông) dài 1.650 km đƣờng chim bay. Từ Tây sang Đông, phần đất liền nơi rộng nhất khoảng
500 km đƣờng chim bay, nhƣng có nơi chỉ “hẹp nhƣ thể một con đƣờng qua lại” với 50 km chiều ngang.
Điểm cực Đông ở Hòn Khói - Khánh Hòa (20°40' vĩ độ Bắc và 109°30' kinh độ Đông), điểm cực Tây ở
vùng núi Pulasan - Lai Châu (22°40' vĩ độ Bắc và 102°10' kinh độ Đông).
Địa hình Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn kiến tạo: tiền cambry kéo dài 200 trăm triệu năm,
hình thành thiên nhiên hoang sơ cùng những dãy núi vùng Tây Bắc và Trung Trung bộ; cổ kiến tạo
kéo dài trên 500 triệu năm với biến đổi tiến - thoái của nƣớc biển, trồi - sụt và bồi đắp - phún trào của
mặt đất tiến tới hoàn chỉnh địa hình, cảnh quan, hệ sinh vật; tân kiến tạo tiếp tục hoàn thiện những
bán bình nguyên, vùng núi và cao nguyên, những nếp đứt gãy hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, các vòng
cung, thung lũng, đầm lầy, châu thổ…
Đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất liền, độ cao dƣới 1.000 m so với mực nƣớc biển, hầu hết thuộc
dạng núi già trẻ hóa lại, cấu tạo bởi nhiều loại nham thạch khác nhau. Phía Bắc chủ yếu là núi đá vôi,
phía Nam là đất đỏ bazan. Trong dãy núi dài 280 km từ Phong Thổ đến Hòa Bình, Phanxipăng cao 3.143
m đƣợc mệnh danh là “nóc nhà Đông Dƣơng”. Đƣờng chinh phục đỉnh cao này trải qua năm chặng:
chân núi phong phú các loại thảo quả, các cây mít, gạo, cơi; tiếp theo là rừng nguyên sinh dây leo nhiều
tầng bậc rậm rạp với các nhóm cây lá kim nhƣ pơmu, thiết sam, lãnh sam, kim sam, thông đỏ, hoàng
đàn; từ 2.000 m trở lên mây mù bao phủ, độ ẩm rất cao; qua khỏi tầng này lại hiện ra bầu trời trong
xanh nhƣng gió lạnh và sự sống cằn cỗi, ở cao độ 2.963 m có một cột mốc do ngƣời Pháp cắm năm
1905; lên đỉnh cao 3.143 m có một khối chóp kim loại do những nhà leo núi nƣớc ngoài chinh phục đặt
lên năm 1984.
Vùng Đông Bắc là các dãy núi hình bán cung bao quanh khối núi vòm ở sông Chảy. Vùng Tây
Bắc có nhiều đỉnh núi cao nhƣ Tây Côn Lĩnh 2.431 m, Kiều Liên Ti 2.403 m, Pu Ta Ca 2.274 m. Về các
tỉnh Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, núi đồi thoải dần. Ra đến bờ biển ở Quảng Ninh, Hải
Phòng, độ cao còn khoảng 1m so với mực nƣớc biển. Vùng Tây Bắc và Bắc Trung bộ núi non trùng điệp
và hùng vĩ, sƣờn dốc và vực sâu hiểm trở. Nhiều dãy núi xếp theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, xen kẽ
cùng những cao nguyên đá vôi đồ sộ. Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng rộng khoảng 200.000 ha, là một
phần của vùng núi đá vôi cổ nhất kiến tạo nên châu Á vào 400 triệu năm trƣớc. 94% diện tích nơi đây là
rừng nguyên sinh, mức độ đa dạng sinh học cao nhất Việt Nam. Động Phong Nha sâu trên 4.500 m có
hằng hà sa số các nhũ đá kỳ vĩ, sông ngầm bên dƣới dài gần 14 km. Phong Nha đạt 7 kỷ lục thế giới về
hang động: hang nƣớc dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, bãi cát và bãi đá ngầm đẹp nhất, hồ nƣớc
ngầm đẹp nhất, thạch nhũ kỳ ảo nhất, sông ngầm dài nhất, hang khô ráo và rộng nhất. Nơi đây còn có
hàng trăm hang động khác xung quanh.
Trƣờng Sơn là dãy núi lớn và dài nhất: phía Đông đối diện với biển, một số đoạn bị xâm thực
mạnh, thƣờng mƣa do cản hầu hết hơi nƣớc theo gió từ biển vào; phía Tây thoải dần về tả ngạn sông
Mê Kông và khô nóng. Có đoạn những dãy núi đá cao 2.000 m ra sát biển. Cùng với độ sâu tƣơng tự
của đáy biển, tổng cộng độ chênh lệch địa hình đáy biển - đỉnh núi lên đến khoảng 4.000 m. Vùng Nam
Trung bộ và Nam bộ tính từ núi Bạch Mã vào Nam với các tầng sơn nguyên đất đỏ bazan rộng lớn,
chênh lệch độ cao trong khoảng 500 m, có các mạch núi án ngữ phía Bắc và Nam. Qua các dãy núi cuối
cùng ở phía Nam, đồng bằng Nam bộ rộng lớn và phì nhiêu mở ra.
Đất đai phần lớn thuộc nhóm feralit (vùng đá vôi phía Bắc, vùng bazan phía Nam), đất phù sa
(vùng châu thổ các sông và gần biển), đất xám, đất đỏ, đất phèn, đất nhiễm mặn, đất cát và á cát.
Ngoài ra, còn có nhiều loại đất có giá trị công nghiệp nhƣ cát nấu thủy tinh, cao lanh, đất sét… Có tổng
cộng 31 triệu ha đất trồng trọt các loại, chiếm 22% diện tích. Đất lâm nghiệp 19 triệu ha (hiện còn 8,6
4
www.SachVui.Com
triệu ha rừng tự nhiên), chiếm gần 30% diện tích. Thảm động thực vật phong phú, cây trồng vật nuôi
đa dạng danh mục.
Việt Nam có 2.860 con sông lớn nhỏ với tổng lƣu lƣợng dòng chảy khoảng 867 tỉ m3/năm, hình
thành gần 20 cửa biển lớn nhỏ. Các sông hầu hết là sông trẻ, chảy qua địa hình đồi núi thung lũng,
nhiều thác ghềnh hẹp và dốc, nƣớc chảy xiết và êm đềm, bờ lở và bồi… Do có mùa mƣa và mùa khô
nên lƣu lƣợng nhiều dòng chảy không ổn định. Phần lớn các sông mang lƣợng phù sa bào mòn ở những
vùng đất thƣợng nguồn, lắng đọng bồi đắp lên các châu thổ và vùng duyên hải. Sông Hồng có 614 phụ
lƣu, phần lƣu vực ở Việt Nam rộng gần 80.000 km2, đổ ra biển 12 tỉ m3 nƣớc/năm. Sông Cửu Long dài
230 km trong lãnh thổ Việt Nam, chia thành hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu với 9 cửa đổ ra biển,
chiếm khoảng 60% tổng lƣu lƣợng nƣớc tất cả các con sông. Cả hai con sông lớn đều bắt nguồn từ
Trung Quốc, chảy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam.
Theo hai dòng sông lớn là đồng bằng Bắc bộ rộng 15.000 km2 và Nam bộ rộng 40.000 km2.
Đồng bằng Nam bộ bị nƣớc mặn xâm thực theo chế độ thủy triều lên 1/3 diện tích về phía biển, hàng
năm lấn ra biển gần 80 m ở Cà Mau. Nơi đây, nhà văn Nguyễn Tuân từng ví là ngón chân chƣa khô bùn
vạn dặm trên đƣờng mở mang bờ cõi của cha ông. Giữa hai đồng bằng lớn hai đầu đất nƣớc là chuỗi
các vùng đồng bằng nhỏ duyên hải miền Trung.
Về khí hậu, đầu thời kỳ tân kiến tạo đã hình thành chế độ khí hậu lục địa, sau chuyển sang nhiệt
đới ẩm, nằm trong vành đai nhiệt đới nửa cầu Bắc nhƣng gần chí tuyến Bắc hơn là xích đạo trái đất.
Nhiệt độ trung bình khoảng 23°C, chênh lệch 22°C - 27°C, độ ẩm trung bình 80%, số giờ nắng khoảng
1.500 - 2.000 giờ. Lƣợng mƣa khoảng 100 ngày/năm, chênh lệch 1.500 mm - 2.000 mm, có nơi lƣợng
mƣa đạt đến 3.000 - 4.000 mm/năm. Mùa mƣa chiếm 80% lƣợng mƣa cả năm. Mƣa phùn nhẹ hạt phía
Bắc vào xuân, dai dẳng và ẩm ƣớt nhiều nhất là mƣa Huế, mƣa bóng mây đan xen với các giờ nắng
trong ngày phía Nam… Cùng với địa hình, chế độ gió mùa cũng hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu cả
nƣớc. Nhìn chung, từ đèo Hải Vân ra Bắc thuộc khí hậu bốn mùa, càng về Nam càng rõ hai mùa.
Do chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc nên Việt Nam vào mùa đông lạnh và mùa hạ mát
hơn, nhiệt độ trung bình thấp hơn so với các nƣớc châu Á trên cùng vĩ độ. Khí hậu Việt Nam kết hợp với
cao độ vùng miền tạo ra Sa Pa, Bà Nà, Đà Lạt và nhiều địa danh nổi tiếng, cảnh thiên nhiên và đặc sản
độc đáo. Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1.600 m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ trung bình 15°C - 18°C, mùa
hè mát mẻ, mùa đông mây mù bao phủ, có năm tuyết rơi, nhiều loại dƣợc liệu quý và các loại rau quả
vùng ôn đới. Bà Nà (phía Tây Đà Nẵng) có đỉnh núi cao gần 1.500 m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ
trung bình 17°C - 20°C với nhiều khu rừng nguyên sinh hệ động thực vật phong phú: 136 họ, 379 chi,
543 loài. Đà Lạt (Lâm Đồng) độ cao 1.500 m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ 15°C - 24°C, thời tiết bốn
mùa trong ngày. Đây là xứ sở của thông, hoa quỳ vàng và nhiều hoa đẹp, còn đƣợc mệnh danh là “bảo
tàng” của các thác nƣớc, vùng hồ, thung lũng, đồi cỏ…
Tuy nhiên, khí hậu và thời tiết bất thƣờng cũng tạo ra lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, nhất là nhiều
trận bão từ biển đổ bộ vào đất liền hàng năm. Từ năm 1954 đến 1991, thống kê cho thấy có 212 cơn
bão xuất phát từ biển Thái Bình Dƣơng. Với hai dòng hải lƣu lớn theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam hoạt
động vào mùa đông và Tây Nam - Đông Bắc hoạt động vào mùa hè, luân chuyển đều đặn tạo ra những
đợt áp thấp nhiệt đới từ tháng 5 đến tháng 12 hàng năm, ảnh hƣởng trực tiếp vào đất liền, nhất là khu
vực miền Trung và miền Bắc. Trung bình có 6 cơn bão/năm, nhƣng có năm đến 12 cơn bão.
Vùng biển đƣợc xác định thuộc chủ quyền Việt Nam nằm trong biển Đông, một diện tích mặt
nƣớc lớn và kín thuộc Thái Bình Dƣơng. Theo quy định quốc tế, biển Việt Nam rộng khoảng 1 triệu km2,
lãnh hải tiếp giáp với Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Campuchia, Thái Lan,
Singapore. Đây là vùng biển hầu nhƣ nóng quanh năm, nhiệt độ mặt nƣớc thƣờng cao hơn nhiệt độ
không khí, độ mặn trung bình là 34 phần nghìn. Vùng biển miền Bắc nhiệt độ 25°C - 21°C, miền Trung
28°C - 25°C và miền Nam 29°C - 27°C. Biển Việt Nam cũng hình thành hai chế độ thủy triều: nhật triều
(nƣớc lên xuống 1 lần/ngày) từ Móng cái đến Quảng Bình, Đà Nẵng đến mũi Ba Kiểm hay từ Hà Tiên
đến mũi Cà Mau và bán nhật triều (nƣớc lên xuống 2 lần/ngày) đối với các đoạn bờ biển còn lại. Dựa
vào chế độ thủy triều mà cha ông ta có nhiều kinh nghiệm đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và cả đánh
giặc.
Biển Việt Nam có gần 7.000 loài động vật đƣợc biết đến (có 2.000 loài cá biển), còn là kho muối
vô tận. Trong diện tích đƣợc xác định chủ quyền, có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ, kể cả một số đảo dạng
bãi ngầm. Vịnh Bắc bộ có 3.000 đảo, biển thuộc miền Trung có hàng trăm đảo, khu vực thuộc Bà Rịa -
5
www.SachVui.Com
Vũng Tàu có 16 đảo, Phú Quốc là đảo lớn nhất. Hoàng Sa (Paracel Islands) nằm vào 110° - 113° kinh
độ Đông và 15°45' - 17°15' vĩ độ Bắc, với trên 30 đảo, bãi đá ngầm và san hô, gồm ba nhóm đảo chính:
Nguyệt Thiên, Tuyên Đức, Linh Côn. Trƣờng Sa (Spratly Islands) nằm vào 111°30' - 117°20' kinh độ
Đông và 6°50' - 12° vĩ độ Bắc với trên 100 đảo trong diện tích 180.000 km2 mặt biển. Đây là hai quần
đảo ở khu vực biển miền Trung, bị xâm chiếm bởi Trung Quốc và một số nƣớc quanh vùng, đã và đang
diễn ra nhiều tranh cãi về việc khẳng định chủ quyền. Hơn 120 bãi tắm nằm dọc theo bờ biển cát trắng
giàu nắng và gió từ Bắc vào Nam, nhiều nơi cảnh đẹp, hàng trăm loại hải sản và thực phẩm quý hiếm
cùng cách chế biến món ăn độc đáo… tạo ra tiềm năng lớn về du lịch.
Vịnh Hạ Long rộng trên 1.500 km2, gồm 1.696 đảo lớn nhỏ, cấu tạo đá vôi và phiến thạch, hình
thành cách đây 250 - 280 triệu năm, thiên hình vạn trạng các đảo với nhiều tên gọi ấn tƣợng, bên trong
có nhiều hang động đẹp. Trong đó, vùng tập trung rộng 434 km2 với 775 đảo đƣợc UNESCO công nhận
là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ nhất năm 1994 và lần thứ hai năm 2000. Vịnh Cam Ranh rộng gần
60 km2, quanh năm nắng ấm, bầu trời trong xanh, chế độ thủy triều ổn định. Đáy vịnh sâu 18 m - 20
m, kết cấu cát pha bùn lắng chặt, gần nhƣ bằng phẳng. Các nhà nghiên cứu địa lý - quân sự thế giới
công nhận Cam Ranh là một trong ba quân cảng có thế mạnh tổng hợp hải - lục - không quân và còn
giữ vẻ đẹp hoang sơ (cùng với Vịnh Lad San Francisco và Rio de Janeiro). Vịnh Nha Trang diện tích 507
km2, nhiệt độ trung bình 26°C, gồm 19 đảo lớn nhỏ, là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có tập
trung đủ các hệ sinh thái: đất ngập nƣớc, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các hệ sinh thái
cửa sông, đảo biển, bãi cát. Đảo Hòn Mun có 350 loài san hô, chiếm 40% các loài san hô thế giới. Nhiều
đảo ở đây là danh thắng và có các loại đặc sản nổi tiếng. Năm 2003, Nha Trang đƣợc xếp vào một trong
29 vịnh đẹp nhất thế giới. Vịnh Vân Phong rộng 80.000 ha, độ sâu 15 m - 22 m. Địa hình khu vực có
đảo, bán đảo, vũng sâu, bãi biển, cồn cát, rừng nhiệt đới, rừng và động thực vật ngập mặn… Cảng
trung chuyển quốc tế Vân Phong tƣơng lai là nơi cập bến tàu container công suất 9.000 TEU, năng lực
tiếp nhận 0,5 triệu TEU/năm. Dự án VIE89/003 của Hiệp hội Du lịch thế giới (OMT) đánh giá đây là một
trong những cảnh đẹp và nơi nghỉ ngơi lý tƣởng ở châu Á, vƣợt trên Phuket, sánh ngang với bãi biển
Sierra Leone châu Phi.
Rừng Việt Nam thuộc dạng rừng rậm nhiệt đới, nhiều tầng bậc, lá rụng mùa khô. Ngoài ra, cũng
có rừng thƣa, rừng xa-van, rừng cỏ, rừng ngập mặn. Rừng là kho tàng vô giá về tài nguyên, có tác
dụng điều tiết nƣớc và khí hậu, quyết định an ninh quốc gia. Có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao,
nhiều nhóm gỗ quý, cây hƣơng liệu, dƣợc liệu và thực phẩm hiếm. Rừng cũng là nơi cƣ ngụ của khoảng
1.000 loài chim, 300 loài thú, 300 loài bò sát và da ẩm, cùng nhiều loài động vật quý hiếm. Độ che phủ
của rừng chiếm gần 40%, trong đó rừng nguyên sinh còn khoảng 13%. Tài nguyên rừng ngày nay đang
có xu hƣớng bị hủy hoại và cạn kiệt nhiều mặt, cần đƣợc bảo vệ và khôi phục.
Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng rộng 22.200 ha với 3/4 diện tích núi đá vôi. Nơi đây có suối nƣớc
nóng 38°C, các cây chò xanh và sấu cổ thụ cao 50 m - 70 m đã nghìn năm tuổi, gần 2.000 loài thực vật,
71 loài thú, 319 loài chim, 33 loài bò sát, 16 loài lƣỡng cƣ. Các thú quý hiếm: gấu ngựa, lợn lòi, báo,
hƣơu sao, vọc quần đùi, thằn lằn bay, sóc bay… Vƣờn Quốc gia Cát Tiên đƣợc UNESCO công nhận là
khu dự trữ sinh quyển thứ 411 trên trái đất, rộng 70.548 ha, khí hậu chuyển tiếp giữa miền núi và đồng
bằng, xung quanh có sông suối bao bọc, bên trong gồm rừng già, đầm lầy, trảng cỏ, bãi cát vàng ven
bờ, đảo giữa sông, suối dốc… Nơi đây có 1.362 loài thực vật, 62 loài thú, 121 loài chim. Thú quý hiếm:
hạc cổ trắng, gà đẫy Giava, cò lao Ấn Độ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, cá sấu nƣớc ngọt, công, trĩ,
gà lôi, le le, mòng két… Gỗ quý: gõ, giáng hƣơng, trắc, cẩm lai, gụ… Vƣờn Quốc gia Mũi Cà Mau rộng
41.862 ha, thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên, đa dạng sinh học - cảnh quan - văn hóa. Nơi đây
còn tồn tại nguồn gien đặc hữu 22 loài thực vật ngập mặn, cùng các loài có tên trong sách đỏ thế giới:
cà khu, khỉ đuôi dài, bồ nông chân xám, quắn trắng, cò Trung Quốc… Rừng ở đây có tác dụng chống xói
lở, giữ cho các bãi bồi vƣơn ra biển, cung cấp nguồn thủy sản phong phú. UNESCO công nhận các khu
dự trữ sinh quyển thế giới nhƣ: Cát Bà (Hải Phòng), Tiền Hải (Thái Bình), Giao Thủy (Nam Định), Tây
Nghệ An, đảo Cù lao Chàm (Quảng Nam), Cần Giờ (Sài Gòn), Nam Cát Tiên (Đồng Nai - Bình Phƣớc Lâm Đồng), Phú Quốc (Kiên Giang), Cà Mau.
Cùng với biển và rừng, tài nguyên còn có nguồn nƣớc mặt (gồm nƣớc ngọt, nƣớc lợ, nƣớc mặn)
và khoáng sản. Việt Nam có 394.000 ha ao hồ. Hồ Ba Bể kiến tạo từ các vết nứt gãy cũ, hồ ở Tây
Nguyên có nguồn gốc từ các miệng núi lửa đã tắt, các ao hồ đầm lầy vùng ven biển là dấu tích của quá
trình bồi lắng không đồng đều. Đây là kho tàng phong phú cung cấp thủy hải sản (riêng cá nƣớc ngọt
6
www.SachVui.Com
có 200 loài), thủy điện, nƣớc sinh hoạt. Nguồn nƣớc ngầm, nƣớc khoáng, nƣớc nóng cũng có ở nhiều
nơi. Về khoáng sản, Việt Nam nằm trong vành đai sinh khoáng Thái Bình Dƣơng và Địa Trung Hải với
2.000 điểm mỏ và quặng. Trong khoảng 90 loại khoáng sản đƣợc xác định, có đầy đủ than (6 tỉ tấn),
dầu khí (4 tỉ thùng dầu và 70 tỉ m3 khí đốt), U-ra-ni (300.000 tấn), kim loại đen và màu, khoáng sản phi
kim loại… Nắng và gió là tài nguyên năng lƣợng tƣơng lai.
Việt Nam đa dạng và phong phú các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang bản sắc độc
đáo: trên 1.400 di tích kiến trúc nghệ thuật, 70 di tích khảo cổ, trên 110 danh thắng, hàng trăm lễ hội
truyền thống và các thuần phong mỹ tục cần cho việc nghiên cứu văn hóa dân tộc và nhân loại.
UNESCO đã công nhận các vịnh đẹp, Vƣờn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Quần thể kiến trúc kinh
thành Huế, Khu đô thị cổ Hội An, Khu di tích tháp Chàm Mỹ Sơn, Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ và ca trù, mộc bản triều Nguyễn, bia đá Văn Miếu - Quốc Tử
Giám…
Việt Nam có 54 dân tộc, dân tộc Kinh chiếm trên 80%. Căn cứ về ngôn ngữ, có 8 nhóm: nhóm
Việt - Mƣờng (4 dân tộc: Kinh, Chứt, Mƣờng, Thổ), nhóm Tày - Thái (8 dân tộc: Bố Y, Giáy, Lào, Lự,
Nùng, Sán Chay, Tày, Thái), nhóm Môn - Khmer (21 dân tộc: Ba Na, Brâu, Bru - Vân Kiều, Chơ Ro, Co,
Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ Mú, Mạ, Mảng, Mơ Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ổi, Xinh
Mun, Xơ Đăng, Sê Tiêng), Nhóm Mông - Dao (3 dân tộc: Dao, Mông, Pà Thẻn), nhóm Ka Dai (4 dân tộc:
Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo), nhóm Nam Đảo (5 dân tộc: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai),
nhóm Hán (3 dân tộc: Hoa, Ngái, Sán Dìu), nhóm Tạng (6 dân tộc: Cống, Hà Nhi, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá,
Si La). Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quá trình phân ly và cố kết trong mỗi dân tộc và các dân tộc đã
diễn ra. Khi đất nƣớc và thể chế gắn liền với quá trình mở rộng không gian sinh tồn, các dân tộc gia
nhập, hình thành nên cộng đồng ngƣời Việt đa dạng bản sắc. Quá trình cùng tham gia hoạt động kinh
tế và các lĩnh vực đời sống đã thể hiện tinh thần đoàn kết, cộng cƣ xây dựng các làng xã, tiểu vùng trên
cả nƣớc.
Nhìn chung, Việt Nam có điều kiện tự nhiên phong phú, vị trí địa lý cũng tạo ra hoàn cảnh đặc
biệt trong các quan hệ kinh tế, chính trị, lối sống, văn hóa, cố kết dân tộc… suốt quá trình dựng nƣớc,
giữ nƣớc và mở mang bờ cõi.
Thời kỳ lập quốc và Bắc thuộc
Cội nguồn
Trƣớc khi xuất hiện Quốc tổ Lạc Long Quân, có một truyền thuyết về nguồn gốc ngƣời Việt càng
xa xƣa hơn: vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, khi đến vùng đất phƣơng Nam, ở chân Núi
Ngũ Lĩnh thuộc Hồ Nam (Trung Quốc), gặp một tiên nữ là con gái của bà Vũ Tiên. Vua cảm mến, cầu
hôn cùng tiên nữ, sau này sinh ra ngƣời con trai rất khôi ngô và tài trí, đặt tên là Lộc Tục. Về già, vua
Đế Minh truyền ngôi cho con trƣởng là Đế Nghi lập vƣơng nghiệp ở phƣơng Bắc. Lộc Tục đƣợc phong
làm vua ở vùng đất Hồ Nam, tính từ phía Nam sông Trƣờng Giang xuống đồng bằng sông Hồng, sông
Mã (Việt Nam), xƣng là Kinh Dƣơng Vƣơng (vua của hai châu Kinh và Dƣơng). Đây là vị vua đầu tiên
mở ra triều đại sơ khai thời Hồng Bàng, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ (không phải là Quỷ Đỏ, mà có nghĩa
là cộng đồng những ngƣời thƣờng mình trần ở vùng khí hậu nóng, để phân biệt với cộng đồng Hoa - Hạ
phƣơng Bắc luôn mặc áo dày chống rét). Thời này đã có nhiều tộc ngƣời Việt cổ cùng sinh sống nhƣ: Dạ
Lang, Mân Việt, Điền Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Sơn Việt, Âu Việt…
Kinh Dƣơng Vƣơng cầu hôn với Long nữ là con gái của vua Thần Long sống ở vùng hồ Động
Đình, sinh ra ngƣời con trai đặt tên là Sùng Lãm. Sùng Lãm khi trƣởng thành đƣợc vua cha truyền ngôi,
xƣng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lại cầu hôn với Âu Cơ là con gái vua Đế Lai, sinh một bọc bên
trong chứa trăm trứng, nở ra trăm con. Một ngày nọ, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: “Ta và nàng, một
bên là giống Rồng, một bên là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không cùng ở lâu dài đƣợc”. Cha Rồng
mẹ Tiên từ đó chia hai số con, mẹ đƣa một nửa lên rừng, cha đƣa một nửa về miền biển sinh sống. Cho
nên, “Trăm trứng nở trăm con” và từ “đồng bào” (cùng một bào thai bọc trứng) là truyền thuyết độc
đáo giải thích nguồn gốc dân tộc Việt Nam mà hiếm thấy ở các dân tộc khác trên thế giới.
Ngƣời con trƣởng đƣợc ở lại làm vua vùng đất cũ, xƣng là Hùng Vƣơng. Theo đó, Nhà nƣớc Văn
Lang ra đời, đóng đô ở Bạch Hạc (vùng đất Phong Châu thuộc Phú Thọ ngày nay). Văn Lang “Đông giáp
7
www.SachVui.Com
Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp Hồ Động Đình, Nam giáp Hồ Tôn” [1]. Đất nƣớc đƣợc chia thành
15 bộ: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hƣng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Ninh Hải, Dƣơng Tuyến,
Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thƣờng, Bình Văn. Các lạc tƣớng trông coi các bộ, dƣới
bộ là làng và chạ, do các bồ chính (bô lão) đứng đầu. Trong họ Hồng Bàng của các vua Hùng, con trai
gọi là Quan lang, con gái gọi là Mỵ nƣơng. Cha truyền con nối, có 18 đời vua Hùng trị vì:
- Hùng Dƣơng (Lộc Tục)
- Hùng Hiền (Sùng Lãm)
- Hùng Lân
- Hùng Việp
- Hùng Hy
- Hùng Huy
- Hùng Chiêu
- Hùng Vĩ
- Hùng Định
- Hùng Hy (khác Hùng Hy đời thứ 5 về cách viết chữ Hán)
- Hùng Trinh
- Hùng Võ
- Hùng Việt
- Hùng Anh
- Hùng Triều
- Hùng Tạo
- Hùng Nghị
- Hùng Duệ.
Các lễ tục hình thành trong thời kỳ này: tục ăn trầu gắn liền sự tích trầu cau và câu tục ngữ
“miếng trầu mở đầu câu chuyện”, tục thờ bà tổ nghề dệt Hoàng Phủ Thiếu Hoa, tục làm và dâng cúng
bánh chƣng bánh giầy, tục thờ Bố Cái dƣa hấu (thờ ông bà tổ dƣa hấu, gắn với nhân vật An Tiêm), tục
cúng cung tên tại miếu thờ Tản Viên, tục cƣớp bông tại lễ cúng Thành hoàng Đinh Thiên Tích, tục thờ
cơm sống, thờ lúa và thờ các thần…
Các vua Hùng cũng dựng đền thờ Quốc tổ. Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) nhìn xuống: đền
Thƣợng, mộ Tổ, đền Trung, đền Hạ, đền Giếng, gác chuông, chùa Thiền Quang và Thiếu Tự… Đền
Thƣợng là nơi các vua Hùng đến cúng tế trời đất để cầu mƣa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đời
sống no đủ. Nơi đây quang cảnh bao la, phóng tầm bốn phƣơng tám hƣớng thấy núi sông bày ra hùng
vĩ. Mộ Tổ đặt theo hƣớng mặt trời mọc và lặn. Đền Trung là nơi họp bàn việc nƣớc của các đời vua
Hùng. Đền Hạ là nơi thờ mẹ Âu Cơ. Đền Giếng dƣới chân núi, nơi thờ công chúa Tiên Dung (kết hôn
cùng Chử Đồng Tử) và công chúa Ngọc Hoa (kết hôn cùng Tản Viên).
Thời vua Hùng, chính giỗ vào ngày 12 tháng Ba ÂL hàng năm, về sau đổi thành mồng 10 tháng
Ba ÂL, chủ tế là bô lão ở địa phƣơng, có quan triều thần cùng đến dự. Từ giỗ đã trở thành lễ hội thiêng
liêng, ngƣời Việt hành hƣơng về cội nguồn tỏ lòng kính hiếu với ...
 





