Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Bài sử khác cho Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:18' 07-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:18' 07-04-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
BÀI SỬ KHÁC CHO VIỆT NAM
https://thuviensach.vn
PHẦN BÊN LỀ
“Lịch sử chỉ là những tiếp diễn của sự kiện mà không có cùng đích.
Một quan điểm lịch sử hiện đại hoá như đang được bênh vực [tán dương
những công trình thống nhất trong lịch sử Việt, mang tính chất finaliste
trong triết thuyết, là của tôn giáo chứ không phải của khoa học. Muốn
mượn ý của A. Comte thì phải nói là chúng ta vẫn đang đứng trong thời kì
tiền sử của sử học chứ chưa bước vào thời kì có sử…”
Đó là một câu viết trong Sử Việt, đọc vài quyển (Nxb. Văn Mới,
CA 2004, trang 294) tuy có vẻ dùng để chống báng một loại “sử học thời
sự” như vừa có đủ bằng cớ chứng minh trong hơn 50 năm qua, nhưng quả
thật chỉ là ý nghĩ bình thường của những người muốn làm việc sử học
nghiêm túc. Nó vốn xuất phát từ những bài học căn bản cho “nghề nghiệp”
của nhà trường đem dàn trải ra. Cho nên, đem áp dụng những bài học sơ
đẳng từ trong thời nào xa tít, cộng với một chút lăn lộn tạo thêm tự tín bây
giờ, chỉ mong rằng các dòng chữ sau đây là của một tập sử Việt thời có-sử,
tuy chưa hẳn là hình ảnh trung thực của quá khứ nhưng chắc chắn đã không
còn là huyền thoại bao trùm nữa.
Từ lâu, người ta đã quen với việc đọc mười quyển sử đã ra đời rồi
đọc quyển thứ mười một của người “sưu tập” sử phẩm viết tiếp theo, người
này đến sau nhưng có khi cũng không hơn gì mười ông trước. Đó là vì sự
hình thành một nền sử học khoa học Việt Nam đã không được tiến triển
thuận lợi ngay từ căn bản của quá khứ, lại còn phải chịu đựng trầm trọng
thêm vì một hệ thống chính trị, theo kinh nghiệm tranh quyền, đã thấy rằng
sự sử dụng lịch sử theo hướng quá khứ thật có ích lợi trong việc củng cố
quyền lực cho mình.
Việt Nam từng vay mượn, chia xẻ một nền sử học chung thành hình
ở Á Đông cho nên cũng phải vướng vào những khuyết điểm mà nếu bị
xoáy sâu vào đó thì sẽ thấy ngay những dấu hiệu tiêu cực bộc lộ thật tệ hại.
https://thuviensach.vn
Trong hướng độc tôn hoá quyền bính thì việc viết sử là của nhà nước đã
khiến cho sử quan lệ thuộc thật nhiều vào hệ thống tạo dựng, trả lương,
điều khiển họ, lệ thuộc có khi ăn sâu cả vào trong tiềm thức, dù rằng đôi
khi cũng có một vài chứng dẫn ngông nghênh của cá nhân, lôi từ trong hệ
thống ra một số nguyên tắc lí tưởng dùng để “rửa mặt” cho tình trạng quỵ
luỵ thảm hại kia. Việt Nam vừa thoát khỏi “đêm mù Trung cổ phương
Đông” không lâu thì cuộc chiến giành độc lập lại lôi đất nước trở về khung
trời chuyên chế ngàn năm cũ, trong đó chuyện kể về những anh hùng dân
tộc, những chiến thắng vẻ vang có thật hay được tô vẽ theo tình hình mới,
đã không cần thành sách vở nhưng vẫn tạo nên một khung lịch sử vững
chắc trong đầu óc quần chúng để người cầm quyền mới tiếp tục khai thác,
vò nặn lịch sử trong lòng tay mình. Lịch sử trở thành biên kịch, tiểu thuyết,
thành huyền thoại ngay trong đời sống hiện tại, tin hay không mặc kệ!
Thành phần trí thức Việt lại cũng không có quá khứ độc lập, cứng cỏi đủ để
làm ảnh hưởng đến chiều hướng đã định của người cầm quyền. Từ “kẻ biên
chép ở nhà trong” / nội-thư-gia của Lí đến “người trong nhà chủ” / giathần, “thằng bé biên chép” / thư-nhi của Trần, “bầy tôi của vua” / quốc-thần
của Lê Nguyễn, “người trong biên chế, con em công nông” một thời gian
dài của thời mới, họ không đủ sức để thoát khỏi những những khuôn khổ
xếp đặt bởi những chủ nhân thật sự trong hiện tại và quá khứ của họ, dù
rằng có khi loáng thoáng ta thấy một vài điểm xuyết thu nhận từ kiến thức
mới còn sót lại của thời thuộc địa hay len lách được qua những ngăn cấm
không cản trở được của kĩ thuật mới.
Chính vì sự trì trệ quá sâu như thế mà ta thấy các sử gia, học giả
trong nước không những bằng hành động mà cũng đã tuyên bố hoặc ghi rõ
là họ làm việc nghiên cứu để phục vụ chế độ qua các văn kiện Đảng, các
chỉ thị của cấp uỷ lớn nhỏ. Hãy nghĩ đến hệ thống thư lại văn sĩ, học giả
cặm cụi viết các Văn kiện Đảng, Nhà nước (nghị quyết, diễn văn cho Bộ
Chính trị, cho các ông chủ tịch…), đến những người đào tạo cấp bằng Đại
học cho các “cán bộ khung” của hệ thống Đảng bộ, hành chính, những
người từ trung ương về các địa phương chủ trì, đứng tên cho các công trình
https://thuviensach.vn
nghiên cứu của các tỉnh uỷ… Cho nên có những chỉ thị, quyết định trừng
phạt những ai “nói xấu” anh hùng dân tộc, danh nhân nước nhà, bắt buộc
các người đã chết này phải sống như thần, như thánh cho vừa lòng người
cầm quyền vốn thật tình là bênh vực người của địa phương mình, phe phái
(giai đoạn của) mình. Tính chất “dân chủ tập trung” trong chuyên môn đã
làm lép vế những chuyên viên, hạ thấp trình độ của họ khiến nổi lên phong
trào “quần chúng viết lịch sử,” như đã từng được ca tụng là “làm nên lịch
sử.” Quần chúng đó lại không phải là dân tay cày tay cuốc mà là những tay
ngang, ngoại đạo ngang ngạnh lớn tiếng “làm việc sử học.” Có vẻ dễ
thương hơn nhưng cũng lạc loài không kém là trường hợp mới đây của một
nhà thơ tháo vát, cổ động “cách nhìn mới” (cũ xì!) cho một triều đại đã
chịu thật nhiều tai tiếng trong một thời gian dài mà sự nhận định
xuôi/ngược không hề làm suy suyển uy tín những người cầm trịch điều
khiển. Lôi người đi xa về xứ gốc là đi theo một phong trào địa phương chủ
nghĩa trong sử học đang lan tràn, nổi bật trái khoáy là của “địa phương” Hà
Nội với các công trình tân tạo, vẽ vời Thăng Long, thành lập Bảo tàng Hà
Nội tranh giành cổ vật quốc gia… Vì không phải là chuyên viên nên ông ta
không biết rằng những người kia, khi định dựng một NƯỚC riêng đã xác
nhận quê hương mới cho mình: “Nhà ta phát xuất từ Ô Châu (Thuận
Quảng).” Thế rồi khi có được Nước Lớn Hơn, họ đã đặt tên riêng (Việt
Nam) cho dòng họ mình và xây Thành đô (UNESCO) nơi phát xuất được
điều chỉnh đó (Phú Xuân / Huế) để sống theo một phong cách khác hẳn,
không nghĩ gì nhiều về quê xưa, trừ cái mả hoang phế của ông tổ giữa rừng
nhờ còn lưu mấy cục đá làm chứng tích cho đám dân thang mộc ấp ở đấy
kiêu ngạo với người chung quanh, và để bây giờ có cuộc hội thảo quốc gia
khỏa lấp những lời mắng mỏ tàn tệ xưa.
Tuy nhiên những người theo/thuận chiều thời thế kia phải loay hoay
trong tinh thần “dân tộc,” “yêu nước” đáng khen mà khô cạn sáng tạo đó
không nói làm gì nhưng cả những đồng nghiệp bên ngoài, hoặc mang tinh
thần chống đối về chính trị hay được thừa hưởng một nền giáo dục khác lại
cũng không thể làm khác hơn, chỉ vì di chứng vẫn chưa dứt bỏ được và vì
https://thuviensach.vn
chịu sự cuốn hút trong vô thức từ vị thế nhỏ bé của mình đối với khối quốc
gia gốc lớn rộng. Những bàn tán xôn xao về kiến thức sử học trong các
trường trung, đại học xuất hiện trên báo chí Việt Nam tháng 3-2008 chỉ là
sự đột khởi mới để lấp khoảng trống truyền thông của một tình trạng chính
trị hoá lịch sử tệ hại đã được kéo dài rất lâu mà không phải người ta không
thấy. Kiến thức về lịch sử Việt Nam rõ ràng là đã được điều kiện hoá chặt
chịa, đã được “định hướng” trong thế quần chúng áp đảo, cả về tương lai
lâu dài. Sự thụt lùi của một nền sử học khoa học ở Việt Nam từ trong quần
chúng lên đến tầng lớp trí thức đã tỏ rõ trong hiện tượng công khai hay lẩn
lút theo thuyết Việt nho của Lương Kim Định và thuyết “Việt Phật” của Lê
Mạnh Thát, cho thấy cả một sự hoang tưởng để mong bù lấp sự trống vắng
của kiến thức cá nhân và lấp liếm cho sự tự ti kéo dài của tập thể – với khác
biệt nhỏ của hiệu quả là thuyết sau ra đời muộn màng nên không có tình
hình thuận tiện để được đón chờ lan rộng, vồ vập đến hung hăng có lúc
điên cuồng như thuyết trước.
Nhưng viết một điều gì thì không phải chỉ cho người cầm bút mà
còn phải quan tâm đến người đọc nữa. Một khuôn khổ đã được lập trình
suốt cả ngàn năm, bây giờ sắp xếp lại tất không tránh được sự vụng về của
người ra tay, đồng thời là sự bỡ ngỡ của người tiếp nhận. Chưa nói đến cái
“mới”, cái “khác” cũng đã gây sốc cho người bảo thủ, có quyền bính hay
không. Vì thế đã thấy phản ứng về những bài viết trước, là: nói ngược, lập
dị, với thời thế là “nói xấu chế độ / dân tộc,” “phản động,” cả đến “cò mồi
cho Việt Cộng” nữa… Tuy nhiên ngoi lên được từ những la ó – có khi gầm
gừ ấy lại có những kết quả công nhận cụ thể, tuy theo tinh thần chính trị
đương đại, không được phép ồn ào nhưng vẫn là có mặt, theo với sự thẩm
thấu qua không gian nhờ kĩ thuật mới. Một số ý tưởng khó nuốt thì được
hoà nhập thân xác mới theo những cấp độ trình bày mạnh dạn hay rụt rè
ngượng ngập… dù sao cũng chưa từng thấy xuất hiện trước đây. Hãy kể
chuyện nho nhỏ như chuyện làng ca trù Lỗ Khê tẩy chay, không dạy bài
“Hồng Hồng Tuyết Tuyết” của ông nghè Dương Khuê cho cô nghiên cứu
sinh Pháp (báo Thanh Niên 27-4-2007) dù rằng bài hát nổi tiếng này đã
https://thuviensach.vn
được Lỗ Khê trình diễn và được thưởng Huy chương Bạc 2005, được danh
ca Hà Thị Cầu thu vào đĩa lưu trữ, và xa hơn, đã được đập tom chát trong
xóm Cầu Kiệu ở Sài Gòn trước 1945 – tất cả hình như chỉ vì một nhận định
rất bình thường của chúng tôi trong quyển Sử Việt, Đọc Vài Quyển
(2004)…
Trước khi chúng tôi mở bài khảo sát về lịch sử cái đình làng thì mọi
người chỉ khảo tả “cái sườn,” xác thân của ngôi nhà chung cho rằng có từ
thời Hùng Vương cổ sơ đó, và tán tụng ông thần mang ích quốc lợi dân
trong các sắc vua ban mà thôi. Thế rồi trong tinh thần “chống phong kiến,”
người ta bỏ cách nhìn lịch sử từ trên triều đại để chuyển qua nhìn ngắm
quyền lực quần chúng, và từ đó sử dụng cái đình làng như chứng tích về
tinh thần kết tập căn bản đã làm nên dân tộc Việt, đất nước Việt Nam.
Những người quen nghe từ bài học nhà trường theo kiểu chuyện kể:
“chém đầu vua Chàm, ruổi ngựa về kinh báo tiệp,” hay đọc trong Toàn thư
về “lòng khoan dung đại độ đối với kẻ chiến bại” của Lê Thánh Tông, bây
giờ đọc một số sách giáo khoa trong nước, hẳn không còn bỡ ngỡ với ý
kiến của chúng tôi từ những năm 60 của thế kỉ XX, muốn đem Chiêm
Thành, Phù Nam vào lịch sử Việt Nam – công việc không phải vì lòng hào
hiệp, bao dung nào cả mà vì ý tưởng viết lịch sử cho tất cả những tập đoàn
người sống trên vùng đất nay là Việt Nam. Hi vọng rằng với thời đại mới,
với thế giới rộng mở, người ta thấy các tên, ví dụ Bradresvaravarman tuy
có kì quái nhưng vẫn không có gì “mọi rợ” hơn Bạt-đa-la-thư-la-bạt-la, hay
là Bờ-ra-đơ-rét-va-ra-vác-man! Chưa kể đã có những chứng minh đầy tính
thuyết phục – trừ những người không muốn nghe, về hậu duệ của tù binh
Chàm làm vua nước Việt thực sự, làm tướng quấy đảo, chống đỡ cho các
triều đại, về các tín ngưỡng đến từ vùng đất phía nam ngự trị trong cung
vua, ngoài dân chúng, không phải chỉ hiện diện ở thời xa xưa mà đã thành
một phần nền tảng dân tộc, tinh thần của người “Việt” ngày nay.
Lại cũng phải nói, thật ra điều phối hợp lịch sử gồm các thành phần
khác nhau trên một đất nước vẫn không có gì mới như đã thấy từ lâu trong
https://thuviensach.vn
sách của người ngoại quốc, hay của người Việt dùng tiếng nước ngoài, viết
về Việt Nam. Nhưng cái “khác” ở đây là ở ý thức chấp nhận các sự kiện:
Một đằng coi như chỉ ghi chép theo dòng khách quan phải có, ở đây, với
việc đó lại là coi như uốn nắn theo một tiến trình chủ quan hoá, đem lại
công bình lịch sử, mở lối cho một nền sử học quốc gia / dân tộc thành hình
mà không phải lâm vào sự hẹp hòi thô lậu. Tuy nhiên vẫn phải công nhận là
còn có sự thiên lệch trong cách trình bày, đó là vì tài liệu thấy được, quá
khứ đã không lưu giữ đều ở các tập đoàn người khác nhau. Thiên lệch chứ
không phải là thiên vị. Cũng như nếu có đề cập đến những vấn đề gần đây
thì không phải chỉ là cay cú, phản động…
Làm “khác” đi thì những điều khó khăn phải nói thật không cùng,
nhưng làm khác đi không có nghĩa là vượt qua được những điều người
trước đã gặp. Cho nên dù sao cũng phải có những thỏa hợp ở một mức độ
nào đó để cho “bài sử khác” vẫn là bài sử Việt Nam. Khó khăn ngay ở
những điều tầm thường nhất vẫn còn đó. Đến bây giờ dùng “quốc ngữ” để
ghi lịch sử mà vẫn không làm sao gọi đúng tên các nhân vật – một thành
phần thiết yếu để dệt nên quá khứ. Tất nhiên phần lớn danh từ riêng có gốc
là danh từ chung nhưng khi chúng trở thành riêng thì không thể mang hình
dạng “gần gần”, “sao cũng được” mà phải được định hình không thể nào
thay đổi, một chừng mực nào đó giống như cái tên nằm trên tờ giấy khai
sinh đi theo suốt cuộc đời, không phải chỉ chính là bản thân người mang tên
đó mà còn là sự công nhận của xã hội đè lên nó nữa. Thế mà chưa kể
những khó khăn từ gốc văn bản xưa mang hình thức văn tự khác, với những
chồng chất vấn đề của nó, lời nói ngày nay vẫn mang dấu ấn lịch sử để một
số khác biệt đã thành hình, thêm với tác động của những ngẫu nhiên bất
chợt khiến không thể nào sửa chữa, đính chính được. Khoan nói đến sự
chọn lựa có ý thức, một thói quen từ sự sai lạc nhưng tồn tại lâu dài cũng
trở thành một dấu vết lịch sử. Ví dụ gần nhất là một lớp người rời nước
được gọi là H-Ô, cái tên vốn từ một mã số hành chính H. 01, H. 02… thay
vì đọc H zero 1, H zero 2… lại được phát âm là Hát Ô 1, Hát Ô 2… (lạc
https://thuviensach.vn
loài bất ngờ như theo kiểu đọc tên các nước Một Răng / Iran, Một Rắc /
Irak), để rồi sự tiện lợi cứ tiếp tục lấn lướt lẽ đúng sai.
Hai tên Ngô Thì Nhậm / Ngô Thời Nhiệm nằm trên hai đường phố
Bắc Nam được hiểu rõ ràng không thắc mắc, nhưng tại sao một tướng của
Tây Sơn lại có tên Vũ Văn Nhậm chứ không phải là Võ Văn
Nhiệm(/Nhậm)? Lí do có lẽ vì đây là viên tướng Tây Sơn mang đầy đủ tên
họ tuy thuộc loại có tranh chấp về phát âm (vũ/võ, nhậm/nhiệm) lại đi đánh
miền Bắc, được các nho thần ở đấy ghi chép (Hoàng Lê nhất thống chí) rồi
qua tay các sử gia cùng vùng đất địch, viết ra quốc ngữ theo phát âm tại
chỗ, nên thành “chết tên,” không đổi được. Cũng như Võ Tánh, vì chưa
vượt sông Gianh, không thể nào là Vũ Tính được. Ông Hoàng Diệu, nếu
không chống đỡ cho Hà Nội mà làm Tổng đốc Bình Phú chẳng hạn thì chỉ
là Huỳnh Diệu như Huỳnh Thúc Kháng thôi. Nhưng tại sao một cơ sở huấn
luyện của triều đình Thăng Long lại được gọi là Giảng Võ chứ không phải
là Giảng Vũ?
Sự sai sót căn bản bắt nguồn bởi lí do từ xưa chúng ta không có một
thứ văn tự biểu âm để, ví dụ có xác quyết rành rẽ là Lí Bí hay Lí Bôn. Rồi
tiếp theo, là do rất nhiều nguyên cớ tụ hội vừa có tính cách địa phương
(phương ngữ phía Nam ảnh hưởng bởi Hoa ngữ của dân lưu vong, biệt xứ
như Hoàng Thị Châu và Cao Tự Thanh nêu rõ) vừa có tính cách lịch sử
theo đà phát triển của quyền lực, dẫn đến những đổi thay của kẻ vội vã theo
thời mà trong đó vẫn vướng víu những trì níu xưa cũ tạo thành những rối
rắm thấy trên những trang sách. Thời thống nhất mang theo quyền lực của
Nguyễn đã đưa các âm phía nam đi ra không gây chút thắc mắc nào, như
chữ “thời gian” (loại kị huý) chứ không phải là “thì gian” chẳng hạn. Cũng
như theo đà thống nhất vừa qua, dần dà có những đổi thay về tên cũ được
đọc, viết theo cách phát âm mới của Miền Bắc, thành công cũng có (như
Ghềnh Ráng chứ không phải là Gành Ráng – ở Quy Nhơn, như Tân Sơn
Nhất chỉ còn là Tân Sơn Nhứt trong giao tiếp tại chỗ), hay thất bại trở về
tên địa phương sau nhiều tranh cãi gay go (như cây cầu Trường Tiền bắc
qua sông Hương, muốn đề bảng tên Tràng Tiền cho giống một phố ở Hà
https://thuviensach.vn
Nội.) Quá khứ không được dứt bỏ và hiện tại rụt rè trong việc lơ đãng sử
dụng đồng thời văn pháp Hoa/Việt khiến có những biện minh sai lầm mà cứ
tưởng là chân lí, nhất là khi viện dẫn đến tinh thần dân tộc, yêu nước để
khó có ai cãi lại. Thật là xưa, nhưng không ai thắc mắc nhiều về tên gọi
Quan Bích chỉ là theo văn pháp Việt. Lại cũng hình như không ai thắc mắc
về hai tên Bắc Hà, Nam Hà ngay trong nguyên bản chữ Hán. Bởi vậy cho
nên mới có tranh cãi về danh hiệu Việt Nam có phải là riêng biệt của
Nguyễn hay không. Tuy nhiên ngoài tính cách chính thức về tên quốc gia
của riêng triều Nguyễn, chữ Việt Nam dù có thấy trong bia đá, trong Dư địa
chí của Nguyễn Trãi (giả định rằng chữ còn giữ đúng với bản gốc thế kỉ
XV) thì đó cũng chỉ là lối viết hoặc sơ hở không quan tâm đến văn pháp
Hán, hoặc bởi nhìn chữ “việt” theo lối khác, chữ “việt” chỉ đất Quảng
Đông, Quảng Tây mà thôi!
Đổi khác một lề lối suy nghĩ, tìm ra một tổng hợp thay cho cả một
quan niệm sử học đã thành nếp, có quá khứ nhiều trăm năm, cộng thêm
những áp lực quyền bính mới, đâu phải là chuyện dễ dàng. Thì hãy làm
những thu xếp nhỏ, hãy cứ để sử dụng những từ ngữ, danh xưng đã thành
quen, trừ phi cần đến một sự chính xác mang tính bao quát cho ngành sử
học. Cho nên theo đà l'usage fait la loi, vẫn phải gọi tên Ngọa Triều cho
ông vua đầy tai tiếng này. Ví dụ cứ dùng tên các ông chúa Nguyễn lâu nay,
thay vì theo danh sách mới đưa ra gần đây. Hãy cứ gọi Nguyễn Ánh, Gia
Long hơn là Nguyễn Chủng! Cũng như gọi Trần Cảnh chứ không phải Trần
Bồ, Trịnh Cương, Trịnh Giang hơn là Trịnh Chù, Trịnh Khương… Nhưng
tránh chữ Kinh (trừ khi mượn của sử quan) chỉ người Việt lâu nay vì không
những mang tính hẹp hòi khu vực mà còn làm sai lệch lịch sử trong ý nghĩa
tiền định về một tộc người “thuần chủng” trên đất nước Việt Nam ngày nay.
Chỉ giữ chữ Việt cho tập đoàn đa số nói tiếng Việt trên toàn lãnh thổ, còn
(dân) Việt Nam để chỉ các công dân của nước Việt Nam bao gồm dân Việt
và các tộc người thiểu số khác. Vì dính dáng tới quá khứ lâu đời nên vẫn
dùng chữ Chàm, Chiêm, Chiêm Thành cho tộc người từng lập quốc trên bờ
https://thuviensach.vn
biển Miền Trung ngày nay – chữ Chăm là để nói về tộc người này trong
hiện tại mà thôi.
Đáng lẽ có hình ảnh cho “sáng” sách, có đồ biểu, thống kê, bản
đồ… cho “nghiêm túc” nhưng không làm được. Đành vậy (để bào chữa).
Ai có nghĩa khí giang hồ thì xin giúp một tay. Cả Thư mục tham khảo để
giúp ý kiến cũng được sao hay vậy (vừa có đó trong tay đã lộn mất đâu rồi),
chỉ giữ tên sách cho thấy có món nợ gộp chung, phần lớn không nêu rõ ý
tưởng riêng biệt nào là của ai, đành cứ coi như lấy của người mà cố ý chạy
tội vậy thôi. Với lại người viết từ lâu vốn không gặp thuận tiện trong “nghề
nghiệp” của mình thì có gì phải phàn nàn về những khuyết điểm lăng
quăng?
Ghi chú:
* Tạm giữ làm dấu tích: 30 Tết Con Gà (Ất Dậu) / 9-2-2005, sáng
thứ Bảy 6 tháng Tám 2005. Thay thế tựa đề cũ “Bài sử Việt cho người
ngoài phố” (Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài) vì nhận thấy chữ
“Việt” hẹp hơn “Việt Nam,” thêm nữa, thời thế thay đổi chóng mặt, xe cộ
vùn vụt không còn kịp cho những bước chân vật vờ trên đường phố, nay
cũng đã mất dạng xưa rồi. “Phần bên lề” này sẽ được gỡ bỏ hay sửa đổi khi
hết giai đoạn “Sơ thảo.”
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CĂN
BẢN ĐỂ VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ VIỆT
NAM MANG TÍNH HIỆN ĐẠI
Đất cho người
Giở một quyển sách địa lí của lớp trung học, một quyển sách giới
thiệu về Việt Nam, đi tìm thêm những số liệu mới nhất cho các biến số
trong đó thì ta có thể có những dữ kiện ví dụ như sau:
102 08' – 109 28' Đông
8 02' – 23 23' Bắc
329 241 km2
79 827 400 người (2002)
Bờ biển 3.200 km, biên giới đất liền 4.510 km, rộng nhất 699 km
Bắc Bộ, 50km Quảng Bình. 54 dân tộc. (Non nước Việt Nam,
sách Hướng
dẫn du lịch của Tổng cục Du lịch Việt Nam 2004, in lần thứ 6.)
hay theo Nguyễn Đình Đầu lấy số liệu 2003 của Quốc hội:
Diện tích Việt Nam là 329.314, 56km2, dân số 80.930.200 người.
[Cứ tự nhiên thay đổi để được cập nhật hóa. Theo lối này thì biết
đâu có thể hình thành một quyển sử của tập thể?]
Đó là bằng chứng của hiện tại, không có gì như một thứ định mệnh
để hãnh diện hay than vãn. Tuy nhiên vốn chỉ là một dấu vết định vị để tìm
https://thuviensach.vn
hiểu quá khứ, nó lại chứa đựng những yếu tố hướng dẫn tận trong tiềm thức
những nhà nghiên cứu về thời đã qua của đất nước. Ví dụ biên giới phía bắc
giáp với Trung Quốc đã khiến các học giả hai nước giành giật quyền làm
chủ các trống đồng tiên khởi, giống như là các đường ranh ấy đã được vẽ ra
để phụ thuộc vào các lập luận ngày nay vậy. Biên giới quy định vùng thống
thuộc là kết quả vận hành lịch sử lúc nổi rõ, lúc chìm lắng của các tập đoàn
tiếp giáp nhau. Cho nên cái u lồi qua phía tây của các tỉnh Hòa Bình, Thanh
Hoá, Nghệ An ngày nay có được chính là nhờ những dòng vua ngự trị nước
Việt từ thế kỉ XV đã phát khởi ở quanh vùng ấy. Không biết thì hãy đọc
Lam Sơn thực lục
để nghe chính lời người chủ thời đại nói về Ai Lao: “…
lấy đất đai của nó làm nơi chứa quân của ta…” Vì lẽ đó khi nhìn thấy biên
giới miền đông bắc có cánh cung lõm về phía nam thì ta hiểu được áp lực
của Trung Hoa đè về phía ấy trong ý thức muốn chiếm lại thuộc địa xưa
qua con đường xâm nhập quen thuộc từ thời cổ. Đó là biên giới xê xích của
hai châu Giao, Quảng thời thuộc trị qua kèn cựa tranh chấp mà ưu thế lấn
lướt là thuộc về phía Bắc. Chính sự giao tiếp liên tục giữa hai nước về
hướng này khiến biên giới ở đây được rõ ràng hơn phía tây bắc, mù mờ
hơn, gây nhiều tranh cãi hơn.
Biên giới phía tây dọc Bình Trị Thiên hẹp lại khiến con đường Hồ
Chí Minh trong cuộc chiến vừa qua phải băng qua đất Lào, biên giới ấy là
dấu vết phân biệt sinh hoạt vùng đồng bằng quen thuộc của dân Việt tách ra
với dân miền sơn cước, như khi Lê Quý Đôn phân biệt Man thượng, Man
hạ, hay khi Nguyễn Thân lập lũy Trấn Man vào nửa sau thế kỉ XIX trên
vùng tây Quảng Ngãi. Phần phình ra phía Tây Nguyên là công trình lấn
lướt đất Lào của người Pháp khi phân định ranh giới cho 5 “nước” Đông
Dương của mình, cốt ý giành lấy một hậu phương sản xuất cho các cửa
biển phía đông. Biên giới phía nam, tây nam là công trình của các vua chúa
Nguyễn nhưng lại cũng có bàn tay người Pháp vẽ nên vào lúc cuối.
Cũng chính bàn tay người Pháp với lực lượng hải quân lớn đã đẩy
xa biên giới phía đông đến quần đảo Trường Sa nơi các tên Itu-Aba,
Spratley… Triều đình Việt xuất thân từ “miền Dưới” như Trần, vẫn chỉ chú
https://thuviensach.vn
ý nhiều đến các đảo ven bờ như Vân Đồn, cho đến khi chúa Nguyễn kế tục
phần đất Chiêm Thành mới mon men ra ngoài Hoàng Sa để đất được ghi
vào bản đồ của người Âu, thế mà cũng phải đợi đến triều Nguyễn mới có
dấu hiệu chiếm lĩnh. Ý thức đại dương / biển lớn đến muộn trong đầu óc
người Việt, các người cầm quyền Việt nên mới có chuyện năm 1958 Chính
phủ VNDCCH công nhân đường biên giới lãnh hải của CHND TQ.
Trước 1975, mua một tấm bản đồ Trung Quốc ở Chợ Lớn của Đài
Loan in cho học trò trung học của họ dùng thì thấy ngay cái túi Tây Sa,
Nam Sa thòng xuống sâu dưới biển Đông trong lúc VNCH có quân trấn
đóng trên ấy, cũng từng xác nhận chủ quyền mà sách vở học đường thì hờ
hững như là chuyện riêng của “ở trên” mà thôi. Và do đó khi người Pháp
yếu thế, Trung Hoa Quốc Dân Đảng mới chiếm đảo Phú Lâm (phần đông
bắc Hoàng Sa – sau về tay Hồng Quân) và Itu-Aba, đổi tên là đảo Ba Bình.
Khi Đệ nhị Cộng hoà yếu thế thì các nước chung quanh giành thêm phần
của mình như Thitu / Thị Tứ thành Pagasa của Philippin… Các chính phủ
Quốc Gia Bảo Đại và Việt Nam Cộng hòa mang tính chất kế thừa quyền
lực Pháp nên mới ra sức bảo vệ chủ quyền qua các hội nghị quốc tế, bắt đầu
từ Hội nghị San Francisco 1951, và mang quân ra đóng ở các đảo. Còn
đảng CSVN vốn theo một chủ thuyết quốc tế nhưng người lãnh đạo lại
mang đầy tâm tình, kiến thức sách vở truyền thống, lớp người xưa hơn chỉ
biết đến ông vua Hùng ở vùng Ngã Ba, thấy nơi dừng chân ở cái ải trên
đường cống sứ cũng nhận là của mình; lớp người kế cận sôi động với tiếng
gọi Nam tiến, chăm chắm nhìn vào đồng bằng Cửu Long màu mỡ, rồi theo
tình hình chiến trận nhận ra vị trí chiến lược của Tây Nguyên gợi ý một
tương lai quyền lực “Liên bang Đông Dương” làm thoả mãn cả hai lí tưởng
quốc gia lẫn quốc tế. Thế là từ câu thuộc lòng “Từ ải Nam Quan (?!) tới
mũi Cà Mau” họ không thể có tầm nhìn chiến lược lớn rộng hơn cái khung
sông núi cũ có hướng phình to ấy. Thêm với sự căm thù họ Nguyễn, không
cần biết gì đến sách vở của họ và viết về họ, nên mới có sơ hở chính trị tai
hại 1958, trong đó ý tưởng về sự đồng hành chiến đấu cho quốc tế, cho giai
cấp chỉ là một sự biện minh muộn màng. Chứng cớ “Đảng” đã thực tình
https://thuviensach.vn
không biết Việt Nam có phần đất mịt mù ngoài biển kia là: sau 1975, người
dân Miền Nam còn thấy một bản đồ Việt Nam DCCH (ấn bản của Cục Bản
đồ 1972?) ghi tên Tây Sa và Nam Sa! Rồi cũng sau 1975 còn thấy những
sục sạo của nhà cầm quyền mới muốn vặn hỏi xem cuộc triển lãm chứng
minh chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa năm 1974 của nhóm chủ trương Tập
san Sử
Địa
là do ý đồ gì của “đế quốc và tay sai” nhằm chống phá Cách
mạng? Các bản đồ biển Đông xác nhận chủ quyền in ấn gần đây thật là lạc
loài trên các sách địa lí trong nước, dù là của chuyên gia khảo sát kĩ từng
khu vực, bởi vì nếu không quên luôn thì họ cũng chỉ loáng thoáng nhắc đến
những tên quần đảo hờ hững mà không ghi nổi một chút chi tiết để tỏ ra có
chút quan tâm nào. Những ồn ào về biên giới biển loáng thoáng trong báo
chí quốc nội gần đây chỉ là cái đà thuộc loại phản ứng cạnh tranh với thành
phần di tản – các nhóm này thì như đã tìm ra được một chứng cớ để giành
lại cái chính nghĩa về trách nhiệm đối với một địa vực đã vuột khỏi tầm tay
mình từ lâu.
Có nguyên nhân tạo dựng phức tạp như thế cho nên chính ba khu
vực cổ điển của nước Việt cũng mang dáng dấp khác biệt, không phải là do
riêng biệt một quyền lực nào cố ý lập nên. Tuy nhiên khung cảnh thiên
nhiên lại vẫn là điểm khởi đầu cho con người hoạt động nên các dòng sông
đã hướng dẫn con đường di chuyển Nam tiến toàn vùng Đông Nam Á lục
địa, rõ rệt trong thời có sử vì các chứng cớ được ghi lại và các kết quả hiển
hiện trước mắt. Đó là những đoàn người đi theo triền lưu vực sông Hồng,
sông Mã, sông Cả, sông Cửu Long cũng như về phía tây xa hơn, trên các
sông Chao Praya, Saluen, Irrawaddi. Và cũng như mọi sinh hoạt phức tạp
khác của loài người, hướng Nam tiến lớn rộng đã nói cũng không ngăn
được những hướng di chuyển ngắn theo các chiều khác đã gây được những
biến động lịch sử khuất lấp hay lại bị xếp vào tầm nhìn quen thuộc của
thành kiến. Khó có thể tìm ra bằng chứng cụ thể của các dòng người từ biển
đổ vào đất liền. Trong khi đó dòng di chuyển của tộc Thái về phía phủ Đô
hộ An Nam, vì phải uốn nắn theo hình thể địa lí theo các triền lưu vực nên
đã có hướng đông lẫn lộn, và gặp sự ngăn chặn từ chính quyền thuộc địa
https://thuviensach.vn
Đường chống với ý định “thác Đông” (khai thác về hướng đông) của nước
Nam Chiếu, còn với Đại Việt thì gặp chính quyền Lí, Trần. Áp lực của các
triều đại này yếu thế trên vùng xa hơn phía nam đã là cơ hội cho các nhóm
Thái khác xuyên được qua các lưu vực lớn hướng đông nam hay theo các
ngóc ngách sông ngắn tây đông để góp phần vào việc tạo dựng một triều
đại Việt lâu dài nhất.
Vị trí nhiệt đới khuôn nắn nền nông nghiệp trồng lúa nước với
những ưu thế và hạn chế của nó. Các dòng sông ngắn tuôn ra biển, mở ra
những giao tiếp nhiều chiều trong những khuôn khổ vùng hạn hẹp vì các
lưu vực nhỏ đã được nối với nhau qua đường nước mặn. Đó là tình hình
các sông ngắn dọc miền Trung đã định hình cho các tập họp chính trị Chàm
xưa. Các châu thổ lớn chứa đựng nhiều sức người, sức của lại làm cơ sở
cho những tập đoàn lớn quy tụ và phát triển lấn át các tập đoàn nhỏ, rõ rệt
trong trường hợp Đại Việt đối kháng với các tập đoàn Chàm trên những lưu
vực miền Trung, và lanh chân trên châu thổ Cửu Long trong khi chính
quyền Angkor khai thác cạn kiệt vùng Biển Hồ mới xuôi đến Phnom Pênh
thì đã gặp chúa Nguyễn và Minh dân lưu vong.
Biển khơi lại mở rộng giao tiếp không chỉ bắc nam mà còn là đông
tây, khiến cho người ta nghĩ ra tập họp từ “(Việt Nam là) bao lơn trông ra
Thái Bình Dương”. Lối nhìn khoa đại đó hợp với thói quen của tập thể
nhưng dù sao thì nếu thu nhỏ lại cũng có ý nghĩa về nơi giao tiếp của một
vùng riêng biệt được công nhận có tên là Đông Nam Á, sau những năm
tháng tranh cãi về tính chất phụ thuộc của nó vào Trung Hoa hay Ấn Độ,
hai trung tâm văn hoá khuynh loát một thời.
Người Hán khi lần mò xuống phía nam để tìm cách thông thương
với Đại Tần – đế quốc La Mã, đồng thời họ cũng chiếm được phần đất nằm
trong khu vực nhiệt đới có các sản phẩm cần thiết cho nhu cầu sang cả của
họ nên không buông bỏ, và sẽ cố tâm chiếm lại hoặc áp đặt ảnh hưởng trêntrước, khi không thể cai trị trực tiếp được nữa. Tính chất nhiệt đới đem lại
hệ luỵ cho Việt Nam như trên thì cũng gây khó khăn cho triều đình phương
https://thuviensach.vn
Bắc với thủy thổ khắc nghiệt làm chùn bước những cuộc tiến chiếm hay
đóng quân cai trị. Và thế là đưa đến tình trạng nhùng nhằng độc lập / phiên
thuộc còn ảnh hưởng mãi đến tận ngày nay sau thời gian ngắn rứt ra để Việt
Nam rơi vào vòng tay người Pháp, thế giới Tây Phương hiện đại.
Các dấu vết và những tác động khúc xạ
trong/ngoài, xưa/nay
Quá khứ phải được ghi lại mới thành sử, sử
phải được kí.
Và tất
nhiên có nhiều hình thức ghi lại, trong đó chữ viết là chứng cớ xác định
nhất vì nó là biểu hiện cụ thể, rõ ràng về sinh hoạt của một tập đoàn lưu giữ
được qua thời gian. Tuy nhiên không phải là tập đoàn nào cũng có chữ viết
và hình thức chữ viết nào cũng được sử dụng với kết quả lưu giữ quá khứ
như nhau. Chữ viết trong vùng ĐNÁ là mượn từ hai khối văn minh có
trước: Trung Quốc và Ấn Độ, nên lịch sử ghi lại trong vùng cũng phải chịu
chìm nổi một chừng mực theo với tính chất văn minh của hai nơi đó. Nói
một cách sơ sài, nền văn minh Ấn hướng nhiều về suy tưởng triết lí nên các
ghi chép để lại không nhiều chi tiết cụ thể rành rẽ hơn phần của người
Trung Hoa, vốn từ rất sớm đã lưu tâm đến mặt sinh hoạt xã hội nhân sinh.
Sự khác biệt đó thấy rõ rệt ở quá khứ Việt Nam, nơi từng xuất hiện
các tập đoàn xây dựng những thể chế chính trị riêng biệt chịu ảnh hưởng
Trung Hoa và Ấn Độ trước khi thành một khối thống nhất chính trị bây giờ.
Có thể nói phần đất phía nam, bao gồm Nam Bộ ngày nay, được nhắc đến
một thời mang tên Phù Nam rồi từ đó toả rộng ra, là do sự tái hiện của các
nhà nghiên cứu người Pháp, từ sử sách lan qua các tài liệu khảo cổ học. Và
nước/các nước Champa tuy xuất hiện có bằng cớ, thường xuyên, dài lâu
hơn nhưng không được biết đến rành rẽ, liên tục chỉ vì những điều có thể
gọi là sử của họ là những ghi chép của người ngoài, còn phần của chính bản
https://thuviensach.vn
thân thì lại khắc trên bia đá với những khuyết điểm của chứng tích mang
quan niệm nhân sinh thể hiện như ta đã nói. Hình thức “kí” mang dấu địa
phương, trên lá buông – không kể các thứ viết, sao chép lại trên giấy tây,
giấy xi măng – không có độ tin cậy cao không phải vì khiếm khuyết của vật
liệu dễ hư nát mà vì từ căn bản suy tưởng thiên về trừu tượng, tôn giáo đã
khiến chúng thiếu sự chính xác đòi hỏi. Số phận của một dân tộc nhỏ, thành
tựu tương đối ít, bia ...
BÀI SỬ KHÁC CHO VIỆT NAM
https://thuviensach.vn
PHẦN BÊN LỀ
“Lịch sử chỉ là những tiếp diễn của sự kiện mà không có cùng đích.
Một quan điểm lịch sử hiện đại hoá như đang được bênh vực [tán dương
những công trình thống nhất trong lịch sử Việt, mang tính chất finaliste
trong triết thuyết, là của tôn giáo chứ không phải của khoa học. Muốn
mượn ý của A. Comte thì phải nói là chúng ta vẫn đang đứng trong thời kì
tiền sử của sử học chứ chưa bước vào thời kì có sử…”
Đó là một câu viết trong Sử Việt, đọc vài quyển (Nxb. Văn Mới,
CA 2004, trang 294) tuy có vẻ dùng để chống báng một loại “sử học thời
sự” như vừa có đủ bằng cớ chứng minh trong hơn 50 năm qua, nhưng quả
thật chỉ là ý nghĩ bình thường của những người muốn làm việc sử học
nghiêm túc. Nó vốn xuất phát từ những bài học căn bản cho “nghề nghiệp”
của nhà trường đem dàn trải ra. Cho nên, đem áp dụng những bài học sơ
đẳng từ trong thời nào xa tít, cộng với một chút lăn lộn tạo thêm tự tín bây
giờ, chỉ mong rằng các dòng chữ sau đây là của một tập sử Việt thời có-sử,
tuy chưa hẳn là hình ảnh trung thực của quá khứ nhưng chắc chắn đã không
còn là huyền thoại bao trùm nữa.
Từ lâu, người ta đã quen với việc đọc mười quyển sử đã ra đời rồi
đọc quyển thứ mười một của người “sưu tập” sử phẩm viết tiếp theo, người
này đến sau nhưng có khi cũng không hơn gì mười ông trước. Đó là vì sự
hình thành một nền sử học khoa học Việt Nam đã không được tiến triển
thuận lợi ngay từ căn bản của quá khứ, lại còn phải chịu đựng trầm trọng
thêm vì một hệ thống chính trị, theo kinh nghiệm tranh quyền, đã thấy rằng
sự sử dụng lịch sử theo hướng quá khứ thật có ích lợi trong việc củng cố
quyền lực cho mình.
Việt Nam từng vay mượn, chia xẻ một nền sử học chung thành hình
ở Á Đông cho nên cũng phải vướng vào những khuyết điểm mà nếu bị
xoáy sâu vào đó thì sẽ thấy ngay những dấu hiệu tiêu cực bộc lộ thật tệ hại.
https://thuviensach.vn
Trong hướng độc tôn hoá quyền bính thì việc viết sử là của nhà nước đã
khiến cho sử quan lệ thuộc thật nhiều vào hệ thống tạo dựng, trả lương,
điều khiển họ, lệ thuộc có khi ăn sâu cả vào trong tiềm thức, dù rằng đôi
khi cũng có một vài chứng dẫn ngông nghênh của cá nhân, lôi từ trong hệ
thống ra một số nguyên tắc lí tưởng dùng để “rửa mặt” cho tình trạng quỵ
luỵ thảm hại kia. Việt Nam vừa thoát khỏi “đêm mù Trung cổ phương
Đông” không lâu thì cuộc chiến giành độc lập lại lôi đất nước trở về khung
trời chuyên chế ngàn năm cũ, trong đó chuyện kể về những anh hùng dân
tộc, những chiến thắng vẻ vang có thật hay được tô vẽ theo tình hình mới,
đã không cần thành sách vở nhưng vẫn tạo nên một khung lịch sử vững
chắc trong đầu óc quần chúng để người cầm quyền mới tiếp tục khai thác,
vò nặn lịch sử trong lòng tay mình. Lịch sử trở thành biên kịch, tiểu thuyết,
thành huyền thoại ngay trong đời sống hiện tại, tin hay không mặc kệ!
Thành phần trí thức Việt lại cũng không có quá khứ độc lập, cứng cỏi đủ để
làm ảnh hưởng đến chiều hướng đã định của người cầm quyền. Từ “kẻ biên
chép ở nhà trong” / nội-thư-gia của Lí đến “người trong nhà chủ” / giathần, “thằng bé biên chép” / thư-nhi của Trần, “bầy tôi của vua” / quốc-thần
của Lê Nguyễn, “người trong biên chế, con em công nông” một thời gian
dài của thời mới, họ không đủ sức để thoát khỏi những những khuôn khổ
xếp đặt bởi những chủ nhân thật sự trong hiện tại và quá khứ của họ, dù
rằng có khi loáng thoáng ta thấy một vài điểm xuyết thu nhận từ kiến thức
mới còn sót lại của thời thuộc địa hay len lách được qua những ngăn cấm
không cản trở được của kĩ thuật mới.
Chính vì sự trì trệ quá sâu như thế mà ta thấy các sử gia, học giả
trong nước không những bằng hành động mà cũng đã tuyên bố hoặc ghi rõ
là họ làm việc nghiên cứu để phục vụ chế độ qua các văn kiện Đảng, các
chỉ thị của cấp uỷ lớn nhỏ. Hãy nghĩ đến hệ thống thư lại văn sĩ, học giả
cặm cụi viết các Văn kiện Đảng, Nhà nước (nghị quyết, diễn văn cho Bộ
Chính trị, cho các ông chủ tịch…), đến những người đào tạo cấp bằng Đại
học cho các “cán bộ khung” của hệ thống Đảng bộ, hành chính, những
người từ trung ương về các địa phương chủ trì, đứng tên cho các công trình
https://thuviensach.vn
nghiên cứu của các tỉnh uỷ… Cho nên có những chỉ thị, quyết định trừng
phạt những ai “nói xấu” anh hùng dân tộc, danh nhân nước nhà, bắt buộc
các người đã chết này phải sống như thần, như thánh cho vừa lòng người
cầm quyền vốn thật tình là bênh vực người của địa phương mình, phe phái
(giai đoạn của) mình. Tính chất “dân chủ tập trung” trong chuyên môn đã
làm lép vế những chuyên viên, hạ thấp trình độ của họ khiến nổi lên phong
trào “quần chúng viết lịch sử,” như đã từng được ca tụng là “làm nên lịch
sử.” Quần chúng đó lại không phải là dân tay cày tay cuốc mà là những tay
ngang, ngoại đạo ngang ngạnh lớn tiếng “làm việc sử học.” Có vẻ dễ
thương hơn nhưng cũng lạc loài không kém là trường hợp mới đây của một
nhà thơ tháo vát, cổ động “cách nhìn mới” (cũ xì!) cho một triều đại đã
chịu thật nhiều tai tiếng trong một thời gian dài mà sự nhận định
xuôi/ngược không hề làm suy suyển uy tín những người cầm trịch điều
khiển. Lôi người đi xa về xứ gốc là đi theo một phong trào địa phương chủ
nghĩa trong sử học đang lan tràn, nổi bật trái khoáy là của “địa phương” Hà
Nội với các công trình tân tạo, vẽ vời Thăng Long, thành lập Bảo tàng Hà
Nội tranh giành cổ vật quốc gia… Vì không phải là chuyên viên nên ông ta
không biết rằng những người kia, khi định dựng một NƯỚC riêng đã xác
nhận quê hương mới cho mình: “Nhà ta phát xuất từ Ô Châu (Thuận
Quảng).” Thế rồi khi có được Nước Lớn Hơn, họ đã đặt tên riêng (Việt
Nam) cho dòng họ mình và xây Thành đô (UNESCO) nơi phát xuất được
điều chỉnh đó (Phú Xuân / Huế) để sống theo một phong cách khác hẳn,
không nghĩ gì nhiều về quê xưa, trừ cái mả hoang phế của ông tổ giữa rừng
nhờ còn lưu mấy cục đá làm chứng tích cho đám dân thang mộc ấp ở đấy
kiêu ngạo với người chung quanh, và để bây giờ có cuộc hội thảo quốc gia
khỏa lấp những lời mắng mỏ tàn tệ xưa.
Tuy nhiên những người theo/thuận chiều thời thế kia phải loay hoay
trong tinh thần “dân tộc,” “yêu nước” đáng khen mà khô cạn sáng tạo đó
không nói làm gì nhưng cả những đồng nghiệp bên ngoài, hoặc mang tinh
thần chống đối về chính trị hay được thừa hưởng một nền giáo dục khác lại
cũng không thể làm khác hơn, chỉ vì di chứng vẫn chưa dứt bỏ được và vì
https://thuviensach.vn
chịu sự cuốn hút trong vô thức từ vị thế nhỏ bé của mình đối với khối quốc
gia gốc lớn rộng. Những bàn tán xôn xao về kiến thức sử học trong các
trường trung, đại học xuất hiện trên báo chí Việt Nam tháng 3-2008 chỉ là
sự đột khởi mới để lấp khoảng trống truyền thông của một tình trạng chính
trị hoá lịch sử tệ hại đã được kéo dài rất lâu mà không phải người ta không
thấy. Kiến thức về lịch sử Việt Nam rõ ràng là đã được điều kiện hoá chặt
chịa, đã được “định hướng” trong thế quần chúng áp đảo, cả về tương lai
lâu dài. Sự thụt lùi của một nền sử học khoa học ở Việt Nam từ trong quần
chúng lên đến tầng lớp trí thức đã tỏ rõ trong hiện tượng công khai hay lẩn
lút theo thuyết Việt nho của Lương Kim Định và thuyết “Việt Phật” của Lê
Mạnh Thát, cho thấy cả một sự hoang tưởng để mong bù lấp sự trống vắng
của kiến thức cá nhân và lấp liếm cho sự tự ti kéo dài của tập thể – với khác
biệt nhỏ của hiệu quả là thuyết sau ra đời muộn màng nên không có tình
hình thuận tiện để được đón chờ lan rộng, vồ vập đến hung hăng có lúc
điên cuồng như thuyết trước.
Nhưng viết một điều gì thì không phải chỉ cho người cầm bút mà
còn phải quan tâm đến người đọc nữa. Một khuôn khổ đã được lập trình
suốt cả ngàn năm, bây giờ sắp xếp lại tất không tránh được sự vụng về của
người ra tay, đồng thời là sự bỡ ngỡ của người tiếp nhận. Chưa nói đến cái
“mới”, cái “khác” cũng đã gây sốc cho người bảo thủ, có quyền bính hay
không. Vì thế đã thấy phản ứng về những bài viết trước, là: nói ngược, lập
dị, với thời thế là “nói xấu chế độ / dân tộc,” “phản động,” cả đến “cò mồi
cho Việt Cộng” nữa… Tuy nhiên ngoi lên được từ những la ó – có khi gầm
gừ ấy lại có những kết quả công nhận cụ thể, tuy theo tinh thần chính trị
đương đại, không được phép ồn ào nhưng vẫn là có mặt, theo với sự thẩm
thấu qua không gian nhờ kĩ thuật mới. Một số ý tưởng khó nuốt thì được
hoà nhập thân xác mới theo những cấp độ trình bày mạnh dạn hay rụt rè
ngượng ngập… dù sao cũng chưa từng thấy xuất hiện trước đây. Hãy kể
chuyện nho nhỏ như chuyện làng ca trù Lỗ Khê tẩy chay, không dạy bài
“Hồng Hồng Tuyết Tuyết” của ông nghè Dương Khuê cho cô nghiên cứu
sinh Pháp (báo Thanh Niên 27-4-2007) dù rằng bài hát nổi tiếng này đã
https://thuviensach.vn
được Lỗ Khê trình diễn và được thưởng Huy chương Bạc 2005, được danh
ca Hà Thị Cầu thu vào đĩa lưu trữ, và xa hơn, đã được đập tom chát trong
xóm Cầu Kiệu ở Sài Gòn trước 1945 – tất cả hình như chỉ vì một nhận định
rất bình thường của chúng tôi trong quyển Sử Việt, Đọc Vài Quyển
(2004)…
Trước khi chúng tôi mở bài khảo sát về lịch sử cái đình làng thì mọi
người chỉ khảo tả “cái sườn,” xác thân của ngôi nhà chung cho rằng có từ
thời Hùng Vương cổ sơ đó, và tán tụng ông thần mang ích quốc lợi dân
trong các sắc vua ban mà thôi. Thế rồi trong tinh thần “chống phong kiến,”
người ta bỏ cách nhìn lịch sử từ trên triều đại để chuyển qua nhìn ngắm
quyền lực quần chúng, và từ đó sử dụng cái đình làng như chứng tích về
tinh thần kết tập căn bản đã làm nên dân tộc Việt, đất nước Việt Nam.
Những người quen nghe từ bài học nhà trường theo kiểu chuyện kể:
“chém đầu vua Chàm, ruổi ngựa về kinh báo tiệp,” hay đọc trong Toàn thư
về “lòng khoan dung đại độ đối với kẻ chiến bại” của Lê Thánh Tông, bây
giờ đọc một số sách giáo khoa trong nước, hẳn không còn bỡ ngỡ với ý
kiến của chúng tôi từ những năm 60 của thế kỉ XX, muốn đem Chiêm
Thành, Phù Nam vào lịch sử Việt Nam – công việc không phải vì lòng hào
hiệp, bao dung nào cả mà vì ý tưởng viết lịch sử cho tất cả những tập đoàn
người sống trên vùng đất nay là Việt Nam. Hi vọng rằng với thời đại mới,
với thế giới rộng mở, người ta thấy các tên, ví dụ Bradresvaravarman tuy
có kì quái nhưng vẫn không có gì “mọi rợ” hơn Bạt-đa-la-thư-la-bạt-la, hay
là Bờ-ra-đơ-rét-va-ra-vác-man! Chưa kể đã có những chứng minh đầy tính
thuyết phục – trừ những người không muốn nghe, về hậu duệ của tù binh
Chàm làm vua nước Việt thực sự, làm tướng quấy đảo, chống đỡ cho các
triều đại, về các tín ngưỡng đến từ vùng đất phía nam ngự trị trong cung
vua, ngoài dân chúng, không phải chỉ hiện diện ở thời xa xưa mà đã thành
một phần nền tảng dân tộc, tinh thần của người “Việt” ngày nay.
Lại cũng phải nói, thật ra điều phối hợp lịch sử gồm các thành phần
khác nhau trên một đất nước vẫn không có gì mới như đã thấy từ lâu trong
https://thuviensach.vn
sách của người ngoại quốc, hay của người Việt dùng tiếng nước ngoài, viết
về Việt Nam. Nhưng cái “khác” ở đây là ở ý thức chấp nhận các sự kiện:
Một đằng coi như chỉ ghi chép theo dòng khách quan phải có, ở đây, với
việc đó lại là coi như uốn nắn theo một tiến trình chủ quan hoá, đem lại
công bình lịch sử, mở lối cho một nền sử học quốc gia / dân tộc thành hình
mà không phải lâm vào sự hẹp hòi thô lậu. Tuy nhiên vẫn phải công nhận là
còn có sự thiên lệch trong cách trình bày, đó là vì tài liệu thấy được, quá
khứ đã không lưu giữ đều ở các tập đoàn người khác nhau. Thiên lệch chứ
không phải là thiên vị. Cũng như nếu có đề cập đến những vấn đề gần đây
thì không phải chỉ là cay cú, phản động…
Làm “khác” đi thì những điều khó khăn phải nói thật không cùng,
nhưng làm khác đi không có nghĩa là vượt qua được những điều người
trước đã gặp. Cho nên dù sao cũng phải có những thỏa hợp ở một mức độ
nào đó để cho “bài sử khác” vẫn là bài sử Việt Nam. Khó khăn ngay ở
những điều tầm thường nhất vẫn còn đó. Đến bây giờ dùng “quốc ngữ” để
ghi lịch sử mà vẫn không làm sao gọi đúng tên các nhân vật – một thành
phần thiết yếu để dệt nên quá khứ. Tất nhiên phần lớn danh từ riêng có gốc
là danh từ chung nhưng khi chúng trở thành riêng thì không thể mang hình
dạng “gần gần”, “sao cũng được” mà phải được định hình không thể nào
thay đổi, một chừng mực nào đó giống như cái tên nằm trên tờ giấy khai
sinh đi theo suốt cuộc đời, không phải chỉ chính là bản thân người mang tên
đó mà còn là sự công nhận của xã hội đè lên nó nữa. Thế mà chưa kể
những khó khăn từ gốc văn bản xưa mang hình thức văn tự khác, với những
chồng chất vấn đề của nó, lời nói ngày nay vẫn mang dấu ấn lịch sử để một
số khác biệt đã thành hình, thêm với tác động của những ngẫu nhiên bất
chợt khiến không thể nào sửa chữa, đính chính được. Khoan nói đến sự
chọn lựa có ý thức, một thói quen từ sự sai lạc nhưng tồn tại lâu dài cũng
trở thành một dấu vết lịch sử. Ví dụ gần nhất là một lớp người rời nước
được gọi là H-Ô, cái tên vốn từ một mã số hành chính H. 01, H. 02… thay
vì đọc H zero 1, H zero 2… lại được phát âm là Hát Ô 1, Hát Ô 2… (lạc
https://thuviensach.vn
loài bất ngờ như theo kiểu đọc tên các nước Một Răng / Iran, Một Rắc /
Irak), để rồi sự tiện lợi cứ tiếp tục lấn lướt lẽ đúng sai.
Hai tên Ngô Thì Nhậm / Ngô Thời Nhiệm nằm trên hai đường phố
Bắc Nam được hiểu rõ ràng không thắc mắc, nhưng tại sao một tướng của
Tây Sơn lại có tên Vũ Văn Nhậm chứ không phải là Võ Văn
Nhiệm(/Nhậm)? Lí do có lẽ vì đây là viên tướng Tây Sơn mang đầy đủ tên
họ tuy thuộc loại có tranh chấp về phát âm (vũ/võ, nhậm/nhiệm) lại đi đánh
miền Bắc, được các nho thần ở đấy ghi chép (Hoàng Lê nhất thống chí) rồi
qua tay các sử gia cùng vùng đất địch, viết ra quốc ngữ theo phát âm tại
chỗ, nên thành “chết tên,” không đổi được. Cũng như Võ Tánh, vì chưa
vượt sông Gianh, không thể nào là Vũ Tính được. Ông Hoàng Diệu, nếu
không chống đỡ cho Hà Nội mà làm Tổng đốc Bình Phú chẳng hạn thì chỉ
là Huỳnh Diệu như Huỳnh Thúc Kháng thôi. Nhưng tại sao một cơ sở huấn
luyện của triều đình Thăng Long lại được gọi là Giảng Võ chứ không phải
là Giảng Vũ?
Sự sai sót căn bản bắt nguồn bởi lí do từ xưa chúng ta không có một
thứ văn tự biểu âm để, ví dụ có xác quyết rành rẽ là Lí Bí hay Lí Bôn. Rồi
tiếp theo, là do rất nhiều nguyên cớ tụ hội vừa có tính cách địa phương
(phương ngữ phía Nam ảnh hưởng bởi Hoa ngữ của dân lưu vong, biệt xứ
như Hoàng Thị Châu và Cao Tự Thanh nêu rõ) vừa có tính cách lịch sử
theo đà phát triển của quyền lực, dẫn đến những đổi thay của kẻ vội vã theo
thời mà trong đó vẫn vướng víu những trì níu xưa cũ tạo thành những rối
rắm thấy trên những trang sách. Thời thống nhất mang theo quyền lực của
Nguyễn đã đưa các âm phía nam đi ra không gây chút thắc mắc nào, như
chữ “thời gian” (loại kị huý) chứ không phải là “thì gian” chẳng hạn. Cũng
như theo đà thống nhất vừa qua, dần dà có những đổi thay về tên cũ được
đọc, viết theo cách phát âm mới của Miền Bắc, thành công cũng có (như
Ghềnh Ráng chứ không phải là Gành Ráng – ở Quy Nhơn, như Tân Sơn
Nhất chỉ còn là Tân Sơn Nhứt trong giao tiếp tại chỗ), hay thất bại trở về
tên địa phương sau nhiều tranh cãi gay go (như cây cầu Trường Tiền bắc
qua sông Hương, muốn đề bảng tên Tràng Tiền cho giống một phố ở Hà
https://thuviensach.vn
Nội.) Quá khứ không được dứt bỏ và hiện tại rụt rè trong việc lơ đãng sử
dụng đồng thời văn pháp Hoa/Việt khiến có những biện minh sai lầm mà cứ
tưởng là chân lí, nhất là khi viện dẫn đến tinh thần dân tộc, yêu nước để
khó có ai cãi lại. Thật là xưa, nhưng không ai thắc mắc nhiều về tên gọi
Quan Bích chỉ là theo văn pháp Việt. Lại cũng hình như không ai thắc mắc
về hai tên Bắc Hà, Nam Hà ngay trong nguyên bản chữ Hán. Bởi vậy cho
nên mới có tranh cãi về danh hiệu Việt Nam có phải là riêng biệt của
Nguyễn hay không. Tuy nhiên ngoài tính cách chính thức về tên quốc gia
của riêng triều Nguyễn, chữ Việt Nam dù có thấy trong bia đá, trong Dư địa
chí của Nguyễn Trãi (giả định rằng chữ còn giữ đúng với bản gốc thế kỉ
XV) thì đó cũng chỉ là lối viết hoặc sơ hở không quan tâm đến văn pháp
Hán, hoặc bởi nhìn chữ “việt” theo lối khác, chữ “việt” chỉ đất Quảng
Đông, Quảng Tây mà thôi!
Đổi khác một lề lối suy nghĩ, tìm ra một tổng hợp thay cho cả một
quan niệm sử học đã thành nếp, có quá khứ nhiều trăm năm, cộng thêm
những áp lực quyền bính mới, đâu phải là chuyện dễ dàng. Thì hãy làm
những thu xếp nhỏ, hãy cứ để sử dụng những từ ngữ, danh xưng đã thành
quen, trừ phi cần đến một sự chính xác mang tính bao quát cho ngành sử
học. Cho nên theo đà l'usage fait la loi, vẫn phải gọi tên Ngọa Triều cho
ông vua đầy tai tiếng này. Ví dụ cứ dùng tên các ông chúa Nguyễn lâu nay,
thay vì theo danh sách mới đưa ra gần đây. Hãy cứ gọi Nguyễn Ánh, Gia
Long hơn là Nguyễn Chủng! Cũng như gọi Trần Cảnh chứ không phải Trần
Bồ, Trịnh Cương, Trịnh Giang hơn là Trịnh Chù, Trịnh Khương… Nhưng
tránh chữ Kinh (trừ khi mượn của sử quan) chỉ người Việt lâu nay vì không
những mang tính hẹp hòi khu vực mà còn làm sai lệch lịch sử trong ý nghĩa
tiền định về một tộc người “thuần chủng” trên đất nước Việt Nam ngày nay.
Chỉ giữ chữ Việt cho tập đoàn đa số nói tiếng Việt trên toàn lãnh thổ, còn
(dân) Việt Nam để chỉ các công dân của nước Việt Nam bao gồm dân Việt
và các tộc người thiểu số khác. Vì dính dáng tới quá khứ lâu đời nên vẫn
dùng chữ Chàm, Chiêm, Chiêm Thành cho tộc người từng lập quốc trên bờ
https://thuviensach.vn
biển Miền Trung ngày nay – chữ Chăm là để nói về tộc người này trong
hiện tại mà thôi.
Đáng lẽ có hình ảnh cho “sáng” sách, có đồ biểu, thống kê, bản
đồ… cho “nghiêm túc” nhưng không làm được. Đành vậy (để bào chữa).
Ai có nghĩa khí giang hồ thì xin giúp một tay. Cả Thư mục tham khảo để
giúp ý kiến cũng được sao hay vậy (vừa có đó trong tay đã lộn mất đâu rồi),
chỉ giữ tên sách cho thấy có món nợ gộp chung, phần lớn không nêu rõ ý
tưởng riêng biệt nào là của ai, đành cứ coi như lấy của người mà cố ý chạy
tội vậy thôi. Với lại người viết từ lâu vốn không gặp thuận tiện trong “nghề
nghiệp” của mình thì có gì phải phàn nàn về những khuyết điểm lăng
quăng?
Ghi chú:
* Tạm giữ làm dấu tích: 30 Tết Con Gà (Ất Dậu) / 9-2-2005, sáng
thứ Bảy 6 tháng Tám 2005. Thay thế tựa đề cũ “Bài sử Việt cho người
ngoài phố” (Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài) vì nhận thấy chữ
“Việt” hẹp hơn “Việt Nam,” thêm nữa, thời thế thay đổi chóng mặt, xe cộ
vùn vụt không còn kịp cho những bước chân vật vờ trên đường phố, nay
cũng đã mất dạng xưa rồi. “Phần bên lề” này sẽ được gỡ bỏ hay sửa đổi khi
hết giai đoạn “Sơ thảo.”
https://thuviensach.vn
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CĂN
BẢN ĐỂ VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ VIỆT
NAM MANG TÍNH HIỆN ĐẠI
Đất cho người
Giở một quyển sách địa lí của lớp trung học, một quyển sách giới
thiệu về Việt Nam, đi tìm thêm những số liệu mới nhất cho các biến số
trong đó thì ta có thể có những dữ kiện ví dụ như sau:
102 08' – 109 28' Đông
8 02' – 23 23' Bắc
329 241 km2
79 827 400 người (2002)
Bờ biển 3.200 km, biên giới đất liền 4.510 km, rộng nhất 699 km
Bắc Bộ, 50km Quảng Bình. 54 dân tộc. (Non nước Việt Nam,
sách Hướng
dẫn du lịch của Tổng cục Du lịch Việt Nam 2004, in lần thứ 6.)
hay theo Nguyễn Đình Đầu lấy số liệu 2003 của Quốc hội:
Diện tích Việt Nam là 329.314, 56km2, dân số 80.930.200 người.
[Cứ tự nhiên thay đổi để được cập nhật hóa. Theo lối này thì biết
đâu có thể hình thành một quyển sử của tập thể?]
Đó là bằng chứng của hiện tại, không có gì như một thứ định mệnh
để hãnh diện hay than vãn. Tuy nhiên vốn chỉ là một dấu vết định vị để tìm
https://thuviensach.vn
hiểu quá khứ, nó lại chứa đựng những yếu tố hướng dẫn tận trong tiềm thức
những nhà nghiên cứu về thời đã qua của đất nước. Ví dụ biên giới phía bắc
giáp với Trung Quốc đã khiến các học giả hai nước giành giật quyền làm
chủ các trống đồng tiên khởi, giống như là các đường ranh ấy đã được vẽ ra
để phụ thuộc vào các lập luận ngày nay vậy. Biên giới quy định vùng thống
thuộc là kết quả vận hành lịch sử lúc nổi rõ, lúc chìm lắng của các tập đoàn
tiếp giáp nhau. Cho nên cái u lồi qua phía tây của các tỉnh Hòa Bình, Thanh
Hoá, Nghệ An ngày nay có được chính là nhờ những dòng vua ngự trị nước
Việt từ thế kỉ XV đã phát khởi ở quanh vùng ấy. Không biết thì hãy đọc
Lam Sơn thực lục
để nghe chính lời người chủ thời đại nói về Ai Lao: “…
lấy đất đai của nó làm nơi chứa quân của ta…” Vì lẽ đó khi nhìn thấy biên
giới miền đông bắc có cánh cung lõm về phía nam thì ta hiểu được áp lực
của Trung Hoa đè về phía ấy trong ý thức muốn chiếm lại thuộc địa xưa
qua con đường xâm nhập quen thuộc từ thời cổ. Đó là biên giới xê xích của
hai châu Giao, Quảng thời thuộc trị qua kèn cựa tranh chấp mà ưu thế lấn
lướt là thuộc về phía Bắc. Chính sự giao tiếp liên tục giữa hai nước về
hướng này khiến biên giới ở đây được rõ ràng hơn phía tây bắc, mù mờ
hơn, gây nhiều tranh cãi hơn.
Biên giới phía tây dọc Bình Trị Thiên hẹp lại khiến con đường Hồ
Chí Minh trong cuộc chiến vừa qua phải băng qua đất Lào, biên giới ấy là
dấu vết phân biệt sinh hoạt vùng đồng bằng quen thuộc của dân Việt tách ra
với dân miền sơn cước, như khi Lê Quý Đôn phân biệt Man thượng, Man
hạ, hay khi Nguyễn Thân lập lũy Trấn Man vào nửa sau thế kỉ XIX trên
vùng tây Quảng Ngãi. Phần phình ra phía Tây Nguyên là công trình lấn
lướt đất Lào của người Pháp khi phân định ranh giới cho 5 “nước” Đông
Dương của mình, cốt ý giành lấy một hậu phương sản xuất cho các cửa
biển phía đông. Biên giới phía nam, tây nam là công trình của các vua chúa
Nguyễn nhưng lại cũng có bàn tay người Pháp vẽ nên vào lúc cuối.
Cũng chính bàn tay người Pháp với lực lượng hải quân lớn đã đẩy
xa biên giới phía đông đến quần đảo Trường Sa nơi các tên Itu-Aba,
Spratley… Triều đình Việt xuất thân từ “miền Dưới” như Trần, vẫn chỉ chú
https://thuviensach.vn
ý nhiều đến các đảo ven bờ như Vân Đồn, cho đến khi chúa Nguyễn kế tục
phần đất Chiêm Thành mới mon men ra ngoài Hoàng Sa để đất được ghi
vào bản đồ của người Âu, thế mà cũng phải đợi đến triều Nguyễn mới có
dấu hiệu chiếm lĩnh. Ý thức đại dương / biển lớn đến muộn trong đầu óc
người Việt, các người cầm quyền Việt nên mới có chuyện năm 1958 Chính
phủ VNDCCH công nhân đường biên giới lãnh hải của CHND TQ.
Trước 1975, mua một tấm bản đồ Trung Quốc ở Chợ Lớn của Đài
Loan in cho học trò trung học của họ dùng thì thấy ngay cái túi Tây Sa,
Nam Sa thòng xuống sâu dưới biển Đông trong lúc VNCH có quân trấn
đóng trên ấy, cũng từng xác nhận chủ quyền mà sách vở học đường thì hờ
hững như là chuyện riêng của “ở trên” mà thôi. Và do đó khi người Pháp
yếu thế, Trung Hoa Quốc Dân Đảng mới chiếm đảo Phú Lâm (phần đông
bắc Hoàng Sa – sau về tay Hồng Quân) và Itu-Aba, đổi tên là đảo Ba Bình.
Khi Đệ nhị Cộng hoà yếu thế thì các nước chung quanh giành thêm phần
của mình như Thitu / Thị Tứ thành Pagasa của Philippin… Các chính phủ
Quốc Gia Bảo Đại và Việt Nam Cộng hòa mang tính chất kế thừa quyền
lực Pháp nên mới ra sức bảo vệ chủ quyền qua các hội nghị quốc tế, bắt đầu
từ Hội nghị San Francisco 1951, và mang quân ra đóng ở các đảo. Còn
đảng CSVN vốn theo một chủ thuyết quốc tế nhưng người lãnh đạo lại
mang đầy tâm tình, kiến thức sách vở truyền thống, lớp người xưa hơn chỉ
biết đến ông vua Hùng ở vùng Ngã Ba, thấy nơi dừng chân ở cái ải trên
đường cống sứ cũng nhận là của mình; lớp người kế cận sôi động với tiếng
gọi Nam tiến, chăm chắm nhìn vào đồng bằng Cửu Long màu mỡ, rồi theo
tình hình chiến trận nhận ra vị trí chiến lược của Tây Nguyên gợi ý một
tương lai quyền lực “Liên bang Đông Dương” làm thoả mãn cả hai lí tưởng
quốc gia lẫn quốc tế. Thế là từ câu thuộc lòng “Từ ải Nam Quan (?!) tới
mũi Cà Mau” họ không thể có tầm nhìn chiến lược lớn rộng hơn cái khung
sông núi cũ có hướng phình to ấy. Thêm với sự căm thù họ Nguyễn, không
cần biết gì đến sách vở của họ và viết về họ, nên mới có sơ hở chính trị tai
hại 1958, trong đó ý tưởng về sự đồng hành chiến đấu cho quốc tế, cho giai
cấp chỉ là một sự biện minh muộn màng. Chứng cớ “Đảng” đã thực tình
https://thuviensach.vn
không biết Việt Nam có phần đất mịt mù ngoài biển kia là: sau 1975, người
dân Miền Nam còn thấy một bản đồ Việt Nam DCCH (ấn bản của Cục Bản
đồ 1972?) ghi tên Tây Sa và Nam Sa! Rồi cũng sau 1975 còn thấy những
sục sạo của nhà cầm quyền mới muốn vặn hỏi xem cuộc triển lãm chứng
minh chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa năm 1974 của nhóm chủ trương Tập
san Sử
Địa
là do ý đồ gì của “đế quốc và tay sai” nhằm chống phá Cách
mạng? Các bản đồ biển Đông xác nhận chủ quyền in ấn gần đây thật là lạc
loài trên các sách địa lí trong nước, dù là của chuyên gia khảo sát kĩ từng
khu vực, bởi vì nếu không quên luôn thì họ cũng chỉ loáng thoáng nhắc đến
những tên quần đảo hờ hững mà không ghi nổi một chút chi tiết để tỏ ra có
chút quan tâm nào. Những ồn ào về biên giới biển loáng thoáng trong báo
chí quốc nội gần đây chỉ là cái đà thuộc loại phản ứng cạnh tranh với thành
phần di tản – các nhóm này thì như đã tìm ra được một chứng cớ để giành
lại cái chính nghĩa về trách nhiệm đối với một địa vực đã vuột khỏi tầm tay
mình từ lâu.
Có nguyên nhân tạo dựng phức tạp như thế cho nên chính ba khu
vực cổ điển của nước Việt cũng mang dáng dấp khác biệt, không phải là do
riêng biệt một quyền lực nào cố ý lập nên. Tuy nhiên khung cảnh thiên
nhiên lại vẫn là điểm khởi đầu cho con người hoạt động nên các dòng sông
đã hướng dẫn con đường di chuyển Nam tiến toàn vùng Đông Nam Á lục
địa, rõ rệt trong thời có sử vì các chứng cớ được ghi lại và các kết quả hiển
hiện trước mắt. Đó là những đoàn người đi theo triền lưu vực sông Hồng,
sông Mã, sông Cả, sông Cửu Long cũng như về phía tây xa hơn, trên các
sông Chao Praya, Saluen, Irrawaddi. Và cũng như mọi sinh hoạt phức tạp
khác của loài người, hướng Nam tiến lớn rộng đã nói cũng không ngăn
được những hướng di chuyển ngắn theo các chiều khác đã gây được những
biến động lịch sử khuất lấp hay lại bị xếp vào tầm nhìn quen thuộc của
thành kiến. Khó có thể tìm ra bằng chứng cụ thể của các dòng người từ biển
đổ vào đất liền. Trong khi đó dòng di chuyển của tộc Thái về phía phủ Đô
hộ An Nam, vì phải uốn nắn theo hình thể địa lí theo các triền lưu vực nên
đã có hướng đông lẫn lộn, và gặp sự ngăn chặn từ chính quyền thuộc địa
https://thuviensach.vn
Đường chống với ý định “thác Đông” (khai thác về hướng đông) của nước
Nam Chiếu, còn với Đại Việt thì gặp chính quyền Lí, Trần. Áp lực của các
triều đại này yếu thế trên vùng xa hơn phía nam đã là cơ hội cho các nhóm
Thái khác xuyên được qua các lưu vực lớn hướng đông nam hay theo các
ngóc ngách sông ngắn tây đông để góp phần vào việc tạo dựng một triều
đại Việt lâu dài nhất.
Vị trí nhiệt đới khuôn nắn nền nông nghiệp trồng lúa nước với
những ưu thế và hạn chế của nó. Các dòng sông ngắn tuôn ra biển, mở ra
những giao tiếp nhiều chiều trong những khuôn khổ vùng hạn hẹp vì các
lưu vực nhỏ đã được nối với nhau qua đường nước mặn. Đó là tình hình
các sông ngắn dọc miền Trung đã định hình cho các tập họp chính trị Chàm
xưa. Các châu thổ lớn chứa đựng nhiều sức người, sức của lại làm cơ sở
cho những tập đoàn lớn quy tụ và phát triển lấn át các tập đoàn nhỏ, rõ rệt
trong trường hợp Đại Việt đối kháng với các tập đoàn Chàm trên những lưu
vực miền Trung, và lanh chân trên châu thổ Cửu Long trong khi chính
quyền Angkor khai thác cạn kiệt vùng Biển Hồ mới xuôi đến Phnom Pênh
thì đã gặp chúa Nguyễn và Minh dân lưu vong.
Biển khơi lại mở rộng giao tiếp không chỉ bắc nam mà còn là đông
tây, khiến cho người ta nghĩ ra tập họp từ “(Việt Nam là) bao lơn trông ra
Thái Bình Dương”. Lối nhìn khoa đại đó hợp với thói quen của tập thể
nhưng dù sao thì nếu thu nhỏ lại cũng có ý nghĩa về nơi giao tiếp của một
vùng riêng biệt được công nhận có tên là Đông Nam Á, sau những năm
tháng tranh cãi về tính chất phụ thuộc của nó vào Trung Hoa hay Ấn Độ,
hai trung tâm văn hoá khuynh loát một thời.
Người Hán khi lần mò xuống phía nam để tìm cách thông thương
với Đại Tần – đế quốc La Mã, đồng thời họ cũng chiếm được phần đất nằm
trong khu vực nhiệt đới có các sản phẩm cần thiết cho nhu cầu sang cả của
họ nên không buông bỏ, và sẽ cố tâm chiếm lại hoặc áp đặt ảnh hưởng trêntrước, khi không thể cai trị trực tiếp được nữa. Tính chất nhiệt đới đem lại
hệ luỵ cho Việt Nam như trên thì cũng gây khó khăn cho triều đình phương
https://thuviensach.vn
Bắc với thủy thổ khắc nghiệt làm chùn bước những cuộc tiến chiếm hay
đóng quân cai trị. Và thế là đưa đến tình trạng nhùng nhằng độc lập / phiên
thuộc còn ảnh hưởng mãi đến tận ngày nay sau thời gian ngắn rứt ra để Việt
Nam rơi vào vòng tay người Pháp, thế giới Tây Phương hiện đại.
Các dấu vết và những tác động khúc xạ
trong/ngoài, xưa/nay
Quá khứ phải được ghi lại mới thành sử, sử
phải được kí.
Và tất
nhiên có nhiều hình thức ghi lại, trong đó chữ viết là chứng cớ xác định
nhất vì nó là biểu hiện cụ thể, rõ ràng về sinh hoạt của một tập đoàn lưu giữ
được qua thời gian. Tuy nhiên không phải là tập đoàn nào cũng có chữ viết
và hình thức chữ viết nào cũng được sử dụng với kết quả lưu giữ quá khứ
như nhau. Chữ viết trong vùng ĐNÁ là mượn từ hai khối văn minh có
trước: Trung Quốc và Ấn Độ, nên lịch sử ghi lại trong vùng cũng phải chịu
chìm nổi một chừng mực theo với tính chất văn minh của hai nơi đó. Nói
một cách sơ sài, nền văn minh Ấn hướng nhiều về suy tưởng triết lí nên các
ghi chép để lại không nhiều chi tiết cụ thể rành rẽ hơn phần của người
Trung Hoa, vốn từ rất sớm đã lưu tâm đến mặt sinh hoạt xã hội nhân sinh.
Sự khác biệt đó thấy rõ rệt ở quá khứ Việt Nam, nơi từng xuất hiện
các tập đoàn xây dựng những thể chế chính trị riêng biệt chịu ảnh hưởng
Trung Hoa và Ấn Độ trước khi thành một khối thống nhất chính trị bây giờ.
Có thể nói phần đất phía nam, bao gồm Nam Bộ ngày nay, được nhắc đến
một thời mang tên Phù Nam rồi từ đó toả rộng ra, là do sự tái hiện của các
nhà nghiên cứu người Pháp, từ sử sách lan qua các tài liệu khảo cổ học. Và
nước/các nước Champa tuy xuất hiện có bằng cớ, thường xuyên, dài lâu
hơn nhưng không được biết đến rành rẽ, liên tục chỉ vì những điều có thể
gọi là sử của họ là những ghi chép của người ngoài, còn phần của chính bản
https://thuviensach.vn
thân thì lại khắc trên bia đá với những khuyết điểm của chứng tích mang
quan niệm nhân sinh thể hiện như ta đã nói. Hình thức “kí” mang dấu địa
phương, trên lá buông – không kể các thứ viết, sao chép lại trên giấy tây,
giấy xi măng – không có độ tin cậy cao không phải vì khiếm khuyết của vật
liệu dễ hư nát mà vì từ căn bản suy tưởng thiên về trừu tượng, tôn giáo đã
khiến chúng thiếu sự chính xác đòi hỏi. Số phận của một dân tộc nhỏ, thành
tựu tương đối ít, bia ...
 





