LỜI CHÚC MỖI NGÀY

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    GIỚI THIỆU WEBSITE

    🌸 Kính gửi quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Thư viện trường THCS Tân An trân trọng giới thiệu Trang học liệu trực tuyến tại địa chỉ: 👉 https://tvthcstanantphp.violet.vn/ Đây là không gian tri thức số – nơi thầy cô và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy: 📘 Tài liệu học tập phong phú và cập nhật 📗 Bài giảng điện tử, sách tham khảo, truyện hay và tài nguyên mở 📙 Các hoạt động đọc sách – truyền thông thư viện – chia sẻ sáng tạo 💡 Hãy truy cập ngay để cùng khám phá, học tập và lan tỏa văn hóa đọc trong nhà trường! Thư viện số – Kết nối tri thức, thắp sáng tương lai! ✨

    Ảnh ngẫu nhiên

    1.jpg 2.jpg

    TẠI SAO? ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    💕💕 Đọc một cuốn sách hay cũng giống như trò chuyện với một người bạn vĩ đại.” — Descartes💕Đọc sách – nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng trí tuệ.💕

    Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh

    Bài sử khác cho Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:18' 07-04-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    BÀI SỬ KHÁC CHO VIỆT NAM

    https://thuviensach.vn

    PHẦN BÊN LỀ

    “Lịch sử chỉ là những tiếp diễn của sự kiện mà không có cùng đích.
    Một quan điểm lịch sử hiện đại hoá như đang được bênh vực [tán dương
    những công trình thống nhất trong lịch sử Việt, mang tính chất finaliste
    trong triết thuyết, là của tôn giáo chứ không phải của khoa học. Muốn
    mượn ý của A. Comte thì phải nói là chúng ta vẫn đang đứng trong thời kì
    tiền sử của sử học chứ chưa bước vào thời kì có sử…”
    Đó là một câu viết trong Sử Việt, đọc vài quyển (Nxb. Văn Mới,
    CA 2004, trang 294) tuy có vẻ dùng để chống báng một loại “sử học thời
    sự” như vừa có đủ bằng cớ chứng minh trong hơn 50 năm qua, nhưng quả
    thật chỉ là ý nghĩ bình thường của những người muốn làm việc sử học
    nghiêm túc. Nó vốn xuất phát từ những bài học căn bản cho “nghề nghiệp”
    của nhà trường đem dàn trải ra. Cho nên, đem áp dụng những bài học sơ
    đẳng từ trong thời nào xa tít, cộng với một chút lăn lộn tạo thêm tự tín bây
    giờ, chỉ mong rằng các dòng chữ sau đây là của một tập sử Việt thời có-sử,
    tuy chưa hẳn là hình ảnh trung thực của quá khứ nhưng chắc chắn đã không
    còn là huyền thoại bao trùm nữa.
    Từ lâu, người ta đã quen với việc đọc mười quyển sử đã ra đời rồi
    đọc quyển thứ mười một của người “sưu tập” sử phẩm viết tiếp theo, người
    này đến sau nhưng có khi cũng không hơn gì mười ông trước. Đó là vì sự
    hình thành một nền sử học khoa học Việt Nam đã không được tiến triển
    thuận lợi ngay từ căn bản của quá khứ, lại còn phải chịu đựng trầm trọng
    thêm vì một hệ thống chính trị, theo kinh nghiệm tranh quyền, đã thấy rằng
    sự sử dụng lịch sử theo hướng quá khứ thật có ích lợi trong việc củng cố
    quyền lực cho mình.
    Việt Nam từng vay mượn, chia xẻ một nền sử học chung thành hình
    ở Á Đông cho nên cũng phải vướng vào những khuyết điểm mà nếu bị
    xoáy sâu vào đó thì sẽ thấy ngay những dấu hiệu tiêu cực bộc lộ thật tệ hại.

    https://thuviensach.vn

    Trong hướng độc tôn hoá quyền bính thì việc viết sử là của nhà nước đã
    khiến cho sử quan lệ thuộc thật nhiều vào hệ thống tạo dựng, trả lương,
    điều khiển họ, lệ thuộc có khi ăn sâu cả vào trong tiềm thức, dù rằng đôi
    khi cũng có một vài chứng dẫn ngông nghênh của cá nhân, lôi từ trong hệ
    thống ra một số nguyên tắc lí tưởng dùng để “rửa mặt” cho tình trạng quỵ
    luỵ thảm hại kia. Việt Nam vừa thoát khỏi “đêm mù Trung cổ phương
    Đông” không lâu thì cuộc chiến giành độc lập lại lôi đất nước trở về khung
    trời chuyên chế ngàn năm cũ, trong đó chuyện kể về những anh hùng dân
    tộc, những chiến thắng vẻ vang có thật hay được tô vẽ theo tình hình mới,
    đã không cần thành sách vở nhưng vẫn tạo nên một khung lịch sử vững
    chắc trong đầu óc quần chúng để người cầm quyền mới tiếp tục khai thác,
    vò nặn lịch sử trong lòng tay mình. Lịch sử trở thành biên kịch, tiểu thuyết,
    thành huyền thoại ngay trong đời sống hiện tại, tin hay không mặc kệ!
    Thành phần trí thức Việt lại cũng không có quá khứ độc lập, cứng cỏi đủ để
    làm ảnh hưởng đến chiều hướng đã định của người cầm quyền. Từ “kẻ biên
    chép ở nhà trong” / nội-thư-gia của Lí đến “người trong nhà chủ” / giathần, “thằng bé biên chép” / thư-nhi của Trần, “bầy tôi của vua” / quốc-thần
    của Lê Nguyễn, “người trong biên chế, con em công nông” một thời gian
    dài của thời mới, họ không đủ sức để thoát khỏi những những khuôn khổ
    xếp đặt bởi những chủ nhân thật sự trong hiện tại và quá khứ của họ, dù
    rằng có khi loáng thoáng ta thấy một vài điểm xuyết thu nhận từ kiến thức
    mới còn sót lại của thời thuộc địa hay len lách được qua những ngăn cấm
    không cản trở được của kĩ thuật mới.
    Chính vì sự trì trệ quá sâu như thế mà ta thấy các sử gia, học giả
    trong nước không những bằng hành động mà cũng đã tuyên bố hoặc ghi rõ
    là họ làm việc nghiên cứu để phục vụ chế độ qua các văn kiện Đảng, các
    chỉ thị của cấp uỷ lớn nhỏ. Hãy nghĩ đến hệ thống thư lại văn sĩ, học giả
    cặm cụi viết các Văn kiện Đảng, Nhà nước (nghị quyết, diễn văn cho Bộ
    Chính trị, cho các ông chủ tịch…), đến những người đào tạo cấp bằng Đại
    học cho các “cán bộ khung” của hệ thống Đảng bộ, hành chính, những
    người từ trung ương về các địa phương chủ trì, đứng tên cho các công trình

    https://thuviensach.vn

    nghiên cứu của các tỉnh uỷ… Cho nên có những chỉ thị, quyết định trừng
    phạt những ai “nói xấu” anh hùng dân tộc, danh nhân nước nhà, bắt buộc
    các người đã chết này phải sống như thần, như thánh cho vừa lòng người
    cầm quyền vốn thật tình là bênh vực người của địa phương mình, phe phái
    (giai đoạn của) mình. Tính chất “dân chủ tập trung” trong chuyên môn đã
    làm lép vế những chuyên viên, hạ thấp trình độ của họ khiến nổi lên phong
    trào “quần chúng viết lịch sử,” như đã từng được ca tụng là “làm nên lịch
    sử.” Quần chúng đó lại không phải là dân tay cày tay cuốc mà là những tay
    ngang, ngoại đạo ngang ngạnh lớn tiếng “làm việc sử học.” Có vẻ dễ
    thương hơn nhưng cũng lạc loài không kém là trường hợp mới đây của một
    nhà thơ tháo vát, cổ động “cách nhìn mới” (cũ xì!) cho một triều đại đã
    chịu thật nhiều tai tiếng trong một thời gian dài mà sự nhận định
    xuôi/ngược không hề làm suy suyển uy tín những người cầm trịch điều
    khiển. Lôi người đi xa về xứ gốc là đi theo một phong trào địa phương chủ
    nghĩa trong sử học đang lan tràn, nổi bật trái khoáy là của “địa phương” Hà
    Nội với các công trình tân tạo, vẽ vời Thăng Long, thành lập Bảo tàng Hà
    Nội tranh giành cổ vật quốc gia… Vì không phải là chuyên viên nên ông ta
    không biết rằng những người kia, khi định dựng một NƯỚC riêng đã xác
    nhận quê hương mới cho mình: “Nhà ta phát xuất từ Ô Châu (Thuận
    Quảng).” Thế rồi khi có được Nước Lớn Hơn, họ đã đặt tên riêng (Việt
    Nam) cho dòng họ mình và xây Thành đô (UNESCO) nơi phát xuất được
    điều chỉnh đó (Phú Xuân / Huế) để sống theo một phong cách khác hẳn,
    không nghĩ gì nhiều về quê xưa, trừ cái mả hoang phế của ông tổ giữa rừng
    nhờ còn lưu mấy cục đá làm chứng tích cho đám dân thang mộc ấp ở đấy
    kiêu ngạo với người chung quanh, và để bây giờ có cuộc hội thảo quốc gia
    khỏa lấp những lời mắng mỏ tàn tệ xưa.
    Tuy nhiên những người theo/thuận chiều thời thế kia phải loay hoay
    trong tinh thần “dân tộc,” “yêu nước” đáng khen mà khô cạn sáng tạo đó
    không nói làm gì nhưng cả những đồng nghiệp bên ngoài, hoặc mang tinh
    thần chống đối về chính trị hay được thừa hưởng một nền giáo dục khác lại
    cũng không thể làm khác hơn, chỉ vì di chứng vẫn chưa dứt bỏ được và vì

    https://thuviensach.vn

    chịu sự cuốn hút trong vô thức từ vị thế nhỏ bé của mình đối với khối quốc
    gia gốc lớn rộng. Những bàn tán xôn xao về kiến thức sử học trong các
    trường trung, đại học xuất hiện trên báo chí Việt Nam tháng 3-2008 chỉ là
    sự đột khởi mới để lấp khoảng trống truyền thông của một tình trạng chính
    trị hoá lịch sử tệ hại đã được kéo dài rất lâu mà không phải người ta không
    thấy. Kiến thức về lịch sử Việt Nam rõ ràng là đã được điều kiện hoá chặt
    chịa, đã được “định hướng” trong thế quần chúng áp đảo, cả về tương lai
    lâu dài. Sự thụt lùi của một nền sử học khoa học ở Việt Nam từ trong quần
    chúng lên đến tầng lớp trí thức đã tỏ rõ trong hiện tượng công khai hay lẩn
    lút theo thuyết Việt nho của Lương Kim Định và thuyết “Việt Phật” của Lê
    Mạnh Thát, cho thấy cả một sự hoang tưởng để mong bù lấp sự trống vắng
    của kiến thức cá nhân và lấp liếm cho sự tự ti kéo dài của tập thể – với khác
    biệt nhỏ của hiệu quả là thuyết sau ra đời muộn màng nên không có tình
    hình thuận tiện để được đón chờ lan rộng, vồ vập đến hung hăng có lúc
    điên cuồng như thuyết trước.
    Nhưng viết một điều gì thì không phải chỉ cho người cầm bút mà
    còn phải quan tâm đến người đọc nữa. Một khuôn khổ đã được lập trình
    suốt cả ngàn năm, bây giờ sắp xếp lại tất không tránh được sự vụng về của
    người ra tay, đồng thời là sự bỡ ngỡ của người tiếp nhận. Chưa nói đến cái
    “mới”, cái “khác” cũng đã gây sốc cho người bảo thủ, có quyền bính hay
    không. Vì thế đã thấy phản ứng về những bài viết trước, là: nói ngược, lập
    dị, với thời thế là “nói xấu chế độ / dân tộc,” “phản động,” cả đến “cò mồi
    cho Việt Cộng” nữa… Tuy nhiên ngoi lên được từ những la ó – có khi gầm
    gừ ấy lại có những kết quả công nhận cụ thể, tuy theo tinh thần chính trị
    đương đại, không được phép ồn ào nhưng vẫn là có mặt, theo với sự thẩm
    thấu qua không gian nhờ kĩ thuật mới. Một số ý tưởng khó nuốt thì được
    hoà nhập thân xác mới theo những cấp độ trình bày mạnh dạn hay rụt rè
    ngượng ngập… dù sao cũng chưa từng thấy xuất hiện trước đây. Hãy kể
    chuyện nho nhỏ như chuyện làng ca trù Lỗ Khê tẩy chay, không dạy bài
    “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” của ông nghè Dương Khuê cho cô nghiên cứu
    sinh Pháp (báo Thanh Niên 27-4-2007) dù rằng bài hát nổi tiếng này đã

    https://thuviensach.vn

    được Lỗ Khê trình diễn và được thưởng Huy chương Bạc 2005, được danh
    ca Hà Thị Cầu thu vào đĩa lưu trữ, và xa hơn, đã được đập tom chát trong
    xóm Cầu Kiệu ở Sài Gòn trước 1945 – tất cả hình như chỉ vì một nhận định
    rất bình thường của chúng tôi trong quyển Sử Việt, Đọc Vài Quyển
    (2004)…
    Trước khi chúng tôi mở bài khảo sát về lịch sử cái đình làng thì mọi
    người chỉ khảo tả “cái sườn,” xác thân của ngôi nhà chung cho rằng có từ
    thời Hùng Vương cổ sơ đó, và tán tụng ông thần mang ích quốc lợi dân
    trong các sắc vua ban mà thôi. Thế rồi trong tinh thần “chống phong kiến,”
    người ta bỏ cách nhìn lịch sử từ trên triều đại để chuyển qua nhìn ngắm
    quyền lực quần chúng, và từ đó sử dụng cái đình làng như chứng tích về
    tinh thần kết tập căn bản đã làm nên dân tộc Việt, đất nước Việt Nam.
    Những người quen nghe từ bài học nhà trường theo kiểu chuyện kể:
    “chém đầu vua Chàm, ruổi ngựa về kinh báo tiệp,” hay đọc trong Toàn thư
    về “lòng khoan dung đại độ đối với kẻ chiến bại” của Lê Thánh Tông, bây
    giờ đọc một số sách giáo khoa trong nước, hẳn không còn bỡ ngỡ với ý
    kiến của chúng tôi từ những năm 60 của thế kỉ XX, muốn đem Chiêm
    Thành, Phù Nam vào lịch sử Việt Nam – công việc không phải vì lòng hào
    hiệp, bao dung nào cả mà vì ý tưởng viết lịch sử cho tất cả những tập đoàn
    người sống trên vùng đất nay là Việt Nam. Hi vọng rằng với thời đại mới,
    với thế giới rộng mở, người ta thấy các tên, ví dụ Bradresvaravarman tuy
    có kì quái nhưng vẫn không có gì “mọi rợ” hơn Bạt-đa-la-thư-la-bạt-la, hay
    là Bờ-ra-đơ-rét-va-ra-vác-man! Chưa kể đã có những chứng minh đầy tính
    thuyết phục – trừ những người không muốn nghe, về hậu duệ của tù binh
    Chàm làm vua nước Việt thực sự, làm tướng quấy đảo, chống đỡ cho các
    triều đại, về các tín ngưỡng đến từ vùng đất phía nam ngự trị trong cung
    vua, ngoài dân chúng, không phải chỉ hiện diện ở thời xa xưa mà đã thành
    một phần nền tảng dân tộc, tinh thần của người “Việt” ngày nay.
    Lại cũng phải nói, thật ra điều phối hợp lịch sử gồm các thành phần
    khác nhau trên một đất nước vẫn không có gì mới như đã thấy từ lâu trong

    https://thuviensach.vn

    sách của người ngoại quốc, hay của người Việt dùng tiếng nước ngoài, viết
    về Việt Nam. Nhưng cái “khác” ở đây là ở ý thức chấp nhận các sự kiện:
    Một đằng coi như chỉ ghi chép theo dòng khách quan phải có, ở đây, với
    việc đó lại là coi như uốn nắn theo một tiến trình chủ quan hoá, đem lại
    công bình lịch sử, mở lối cho một nền sử học quốc gia / dân tộc thành hình
    mà không phải lâm vào sự hẹp hòi thô lậu. Tuy nhiên vẫn phải công nhận là
    còn có sự thiên lệch trong cách trình bày, đó là vì tài liệu thấy được, quá
    khứ đã không lưu giữ đều ở các tập đoàn người khác nhau. Thiên lệch chứ
    không phải là thiên vị. Cũng như nếu có đề cập đến những vấn đề gần đây
    thì không phải chỉ là cay cú, phản động…
    Làm “khác” đi thì những điều khó khăn phải nói thật không cùng,
    nhưng làm khác đi không có nghĩa là vượt qua được những điều người
    trước đã gặp. Cho nên dù sao cũng phải có những thỏa hợp ở một mức độ
    nào đó để cho “bài sử khác” vẫn là bài sử Việt Nam. Khó khăn ngay ở
    những điều tầm thường nhất vẫn còn đó. Đến bây giờ dùng “quốc ngữ” để
    ghi lịch sử mà vẫn không làm sao gọi đúng tên các nhân vật – một thành
    phần thiết yếu để dệt nên quá khứ. Tất nhiên phần lớn danh từ riêng có gốc
    là danh từ chung nhưng khi chúng trở thành riêng thì không thể mang hình
    dạng “gần gần”, “sao cũng được” mà phải được định hình không thể nào
    thay đổi, một chừng mực nào đó giống như cái tên nằm trên tờ giấy khai
    sinh đi theo suốt cuộc đời, không phải chỉ chính là bản thân người mang tên
    đó mà còn là sự công nhận của xã hội đè lên nó nữa. Thế mà chưa kể
    những khó khăn từ gốc văn bản xưa mang hình thức văn tự khác, với những
    chồng chất vấn đề của nó, lời nói ngày nay vẫn mang dấu ấn lịch sử để một
    số khác biệt đã thành hình, thêm với tác động của những ngẫu nhiên bất
    chợt khiến không thể nào sửa chữa, đính chính được. Khoan nói đến sự
    chọn lựa có ý thức, một thói quen từ sự sai lạc nhưng tồn tại lâu dài cũng
    trở thành một dấu vết lịch sử. Ví dụ gần nhất là một lớp người rời nước
    được gọi là H-Ô, cái tên vốn từ một mã số hành chính H. 01, H. 02… thay
    vì đọc H zero 1, H zero 2… lại được phát âm là Hát Ô 1, Hát Ô 2… (lạc

    https://thuviensach.vn

    loài bất ngờ như theo kiểu đọc tên các nước Một Răng / Iran, Một Rắc /
    Irak), để rồi sự tiện lợi cứ tiếp tục lấn lướt lẽ đúng sai.
    Hai tên Ngô Thì Nhậm / Ngô Thời Nhiệm nằm trên hai đường phố
    Bắc Nam được hiểu rõ ràng không thắc mắc, nhưng tại sao một tướng của
    Tây Sơn lại có tên Vũ Văn Nhậm chứ không phải là Võ Văn
    Nhiệm(/Nhậm)? Lí do có lẽ vì đây là viên tướng Tây Sơn mang đầy đủ tên
    họ tuy thuộc loại có tranh chấp về phát âm (vũ/võ, nhậm/nhiệm) lại đi đánh
    miền Bắc, được các nho thần ở đấy ghi chép (Hoàng Lê nhất thống chí) rồi
    qua tay các sử gia cùng vùng đất địch, viết ra quốc ngữ theo phát âm tại
    chỗ, nên thành “chết tên,” không đổi được. Cũng như Võ Tánh, vì chưa
    vượt sông Gianh, không thể nào là Vũ Tính được. Ông Hoàng Diệu, nếu
    không chống đỡ cho Hà Nội mà làm Tổng đốc Bình Phú chẳng hạn thì chỉ
    là Huỳnh Diệu như Huỳnh Thúc Kháng thôi. Nhưng tại sao một cơ sở huấn
    luyện của triều đình Thăng Long lại được gọi là Giảng Võ chứ không phải
    là Giảng Vũ?
    Sự sai sót căn bản bắt nguồn bởi lí do từ xưa chúng ta không có một
    thứ văn tự biểu âm để, ví dụ có xác quyết rành rẽ là Lí Bí hay Lí Bôn. Rồi
    tiếp theo, là do rất nhiều nguyên cớ tụ hội vừa có tính cách địa phương
    (phương ngữ phía Nam ảnh hưởng bởi Hoa ngữ của dân lưu vong, biệt xứ
    như Hoàng Thị Châu và Cao Tự Thanh nêu rõ) vừa có tính cách lịch sử
    theo đà phát triển của quyền lực, dẫn đến những đổi thay của kẻ vội vã theo
    thời mà trong đó vẫn vướng víu những trì níu xưa cũ tạo thành những rối
    rắm thấy trên những trang sách. Thời thống nhất mang theo quyền lực của
    Nguyễn đã đưa các âm phía nam đi ra không gây chút thắc mắc nào, như
    chữ “thời gian” (loại kị huý) chứ không phải là “thì gian” chẳng hạn. Cũng
    như theo đà thống nhất vừa qua, dần dà có những đổi thay về tên cũ được
    đọc, viết theo cách phát âm mới của Miền Bắc, thành công cũng có (như
    Ghềnh Ráng chứ không phải là Gành Ráng – ở Quy Nhơn, như Tân Sơn
    Nhất chỉ còn là Tân Sơn Nhứt trong giao tiếp tại chỗ), hay thất bại trở về
    tên địa phương sau nhiều tranh cãi gay go (như cây cầu Trường Tiền bắc
    qua sông Hương, muốn đề bảng tên Tràng Tiền cho giống một phố ở Hà
    https://thuviensach.vn

    Nội.) Quá khứ không được dứt bỏ và hiện tại rụt rè trong việc lơ đãng sử
    dụng đồng thời văn pháp Hoa/Việt khiến có những biện minh sai lầm mà cứ
    tưởng là chân lí, nhất là khi viện dẫn đến tinh thần dân tộc, yêu nước để
    khó có ai cãi lại. Thật là xưa, nhưng không ai thắc mắc nhiều về tên gọi
    Quan Bích chỉ là theo văn pháp Việt. Lại cũng hình như không ai thắc mắc
    về hai tên Bắc Hà, Nam Hà ngay trong nguyên bản chữ Hán. Bởi vậy cho
    nên mới có tranh cãi về danh hiệu Việt Nam có phải là riêng biệt của
    Nguyễn hay không. Tuy nhiên ngoài tính cách chính thức về tên quốc gia
    của riêng triều Nguyễn, chữ Việt Nam dù có thấy trong bia đá, trong Dư địa
    chí của Nguyễn Trãi (giả định rằng chữ còn giữ đúng với bản gốc thế kỉ
    XV) thì đó cũng chỉ là lối viết hoặc sơ hở không quan tâm đến văn pháp
    Hán, hoặc bởi nhìn chữ “việt” theo lối khác, chữ “việt” chỉ đất Quảng
    Đông, Quảng Tây mà thôi!
    Đổi khác một lề lối suy nghĩ, tìm ra một tổng hợp thay cho cả một
    quan niệm sử học đã thành nếp, có quá khứ nhiều trăm năm, cộng thêm
    những áp lực quyền bính mới, đâu phải là chuyện dễ dàng. Thì hãy làm
    những thu xếp nhỏ, hãy cứ để sử dụng những từ ngữ, danh xưng đã thành
    quen, trừ phi cần đến một sự chính xác mang tính bao quát cho ngành sử
    học. Cho nên theo đà l'usage fait la loi, vẫn phải gọi tên Ngọa Triều cho
    ông vua đầy tai tiếng này. Ví dụ cứ dùng tên các ông chúa Nguyễn lâu nay,
    thay vì theo danh sách mới đưa ra gần đây. Hãy cứ gọi Nguyễn Ánh, Gia
    Long hơn là Nguyễn Chủng! Cũng như gọi Trần Cảnh chứ không phải Trần
    Bồ, Trịnh Cương, Trịnh Giang hơn là Trịnh Chù, Trịnh Khương… Nhưng
    tránh chữ Kinh (trừ khi mượn của sử quan) chỉ người Việt lâu nay vì không
    những mang tính hẹp hòi khu vực mà còn làm sai lệch lịch sử trong ý nghĩa
    tiền định về một tộc người “thuần chủng” trên đất nước Việt Nam ngày nay.
    Chỉ giữ chữ Việt cho tập đoàn đa số nói tiếng Việt trên toàn lãnh thổ, còn
    (dân) Việt Nam để chỉ các công dân của nước Việt Nam bao gồm dân Việt
    và các tộc người thiểu số khác. Vì dính dáng tới quá khứ lâu đời nên vẫn
    dùng chữ Chàm, Chiêm, Chiêm Thành cho tộc người từng lập quốc trên bờ

    https://thuviensach.vn

    biển Miền Trung ngày nay – chữ Chăm là để nói về tộc người này trong
    hiện tại mà thôi.
    Đáng lẽ có hình ảnh cho “sáng” sách, có đồ biểu, thống kê, bản
    đồ… cho “nghiêm túc” nhưng không làm được. Đành vậy (để bào chữa).
    Ai có nghĩa khí giang hồ thì xin giúp một tay. Cả Thư mục tham khảo để
    giúp ý kiến cũng được sao hay vậy (vừa có đó trong tay đã lộn mất đâu rồi),
    chỉ giữ tên sách cho thấy có món nợ gộp chung, phần lớn không nêu rõ ý
    tưởng riêng biệt nào là của ai, đành cứ coi như lấy của người mà cố ý chạy
    tội vậy thôi. Với lại người viết từ lâu vốn không gặp thuận tiện trong “nghề
    nghiệp” của mình thì có gì phải phàn nàn về những khuyết điểm lăng
    quăng?
    Ghi chú:
    * Tạm giữ làm dấu tích: 30 Tết Con Gà (Ất Dậu) / 9-2-2005, sáng
    thứ Bảy 6 tháng Tám 2005. Thay thế tựa đề cũ “Bài sử Việt cho người
    ngoài phố” (Một khoảnh Việt Nam Cộng hòa nối dài) vì nhận thấy chữ
    “Việt” hẹp hơn “Việt Nam,” thêm nữa, thời thế thay đổi chóng mặt, xe cộ
    vùn vụt không còn kịp cho những bước chân vật vờ trên đường phố, nay
    cũng đã mất dạng xưa rồi. “Phần bên lề” này sẽ được gỡ bỏ hay sửa đổi khi
    hết giai đoạn “Sơ thảo.”

    https://thuviensach.vn

    CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CĂN
    BẢN ĐỂ VIỆC TÌM HIỂU LỊCH SỬ VIỆT
    NAM MANG TÍNH HIỆN ĐẠI

    Đất cho người
    Giở một quyển sách địa lí của lớp trung học, một quyển sách giới
    thiệu về Việt Nam, đi tìm thêm những số liệu mới nhất cho các biến số
    trong đó thì ta có thể có những dữ kiện ví dụ như sau:
    102 08' – 109 28' Đông
    8 02' – 23 23' Bắc
    329 241 km2
    79 827 400 người (2002)
    Bờ biển 3.200 km, biên giới đất liền 4.510 km, rộng nhất 699 km
    Bắc Bộ, 50km Quảng Bình. 54 dân tộc. (Non nước Việt Nam,
     sách Hướng
    dẫn du lịch của Tổng cục Du lịch Việt Nam 2004, in lần thứ 6.)
    hay theo Nguyễn Đình Đầu lấy số liệu 2003 của Quốc hội:
    Diện tích Việt Nam là 329.314, 56km2, dân số 80.930.200 người.
    [Cứ tự nhiên thay đổi để được cập nhật hóa. Theo lối này thì biết
    đâu có thể hình thành một quyển sử của tập thể?]
    Đó là bằng chứng của hiện tại, không có gì như một thứ định mệnh
    để hãnh diện hay than vãn. Tuy nhiên vốn chỉ là một dấu vết định vị để tìm

    https://thuviensach.vn

    hiểu quá khứ, nó lại chứa đựng những yếu tố hướng dẫn tận trong tiềm thức
    những nhà nghiên cứu về thời đã qua của đất nước. Ví dụ biên giới phía bắc
    giáp với Trung Quốc đã khiến các học giả hai nước giành giật quyền làm
    chủ các trống đồng tiên khởi, giống như là các đường ranh ấy đã được vẽ ra
    để phụ thuộc vào các lập luận ngày nay vậy. Biên giới quy định vùng thống
    thuộc là kết quả vận hành lịch sử lúc nổi rõ, lúc chìm lắng của các tập đoàn
    tiếp giáp nhau. Cho nên cái u lồi qua phía tây của các tỉnh Hòa Bình, Thanh
    Hoá, Nghệ An ngày nay có được chính là nhờ những dòng vua ngự trị nước
    Việt từ thế kỉ XV đã phát khởi ở quanh vùng ấy. Không biết thì hãy đọc
    Lam Sơn thực lục
     để nghe chính lời người chủ thời đại nói về Ai Lao: “…
    lấy đất đai của nó làm nơi chứa quân của ta…” Vì lẽ đó khi nhìn thấy biên
    giới miền đông bắc có cánh cung lõm về phía nam thì ta hiểu được áp lực
    của Trung Hoa đè về phía ấy trong ý thức muốn chiếm lại thuộc địa xưa
    qua con đường xâm nhập quen thuộc từ thời cổ. Đó là biên giới xê xích của
    hai châu Giao, Quảng thời thuộc trị qua kèn cựa tranh chấp mà ưu thế lấn
    lướt là thuộc về phía Bắc. Chính sự giao tiếp liên tục giữa hai nước về
    hướng này khiến biên giới ở đây được rõ ràng hơn phía tây bắc, mù mờ
    hơn, gây nhiều tranh cãi hơn.
    Biên giới phía tây dọc Bình Trị Thiên hẹp lại khiến con đường Hồ
    Chí Minh trong cuộc chiến vừa qua phải băng qua đất Lào, biên giới ấy là
    dấu vết phân biệt sinh hoạt vùng đồng bằng quen thuộc của dân Việt tách ra
    với dân miền sơn cước, như khi Lê Quý Đôn phân biệt Man thượng, Man
    hạ, hay khi Nguyễn Thân lập lũy Trấn Man vào nửa sau thế kỉ XIX trên
    vùng tây Quảng Ngãi. Phần phình ra phía Tây Nguyên là công trình lấn
    lướt đất Lào của người Pháp khi phân định ranh giới cho 5 “nước” Đông
    Dương của mình, cốt ý giành lấy một hậu phương sản xuất cho các cửa
    biển phía đông. Biên giới phía nam, tây nam là công trình của các vua chúa
    Nguyễn nhưng lại cũng có bàn tay người Pháp vẽ nên vào lúc cuối.
    Cũng chính bàn tay người Pháp với lực lượng hải quân lớn đã đẩy
    xa biên giới phía đông đến quần đảo Trường Sa nơi các tên Itu-Aba,
    Spratley… Triều đình Việt xuất thân từ “miền Dưới” như Trần, vẫn chỉ chú
    https://thuviensach.vn

    ý nhiều đến các đảo ven bờ như Vân Đồn, cho đến khi chúa Nguyễn kế tục
    phần đất Chiêm Thành mới mon men ra ngoài Hoàng Sa để đất được ghi
    vào bản đồ của người Âu, thế mà cũng phải đợi đến triều Nguyễn mới có
    dấu hiệu chiếm lĩnh. Ý thức đại dương / biển lớn đến muộn trong đầu óc
    người Việt, các người cầm quyền Việt nên mới có chuyện năm 1958 Chính
    phủ VNDCCH công nhân đường biên giới lãnh hải của CHND TQ.
    Trước 1975, mua một tấm bản đồ Trung Quốc ở Chợ Lớn của Đài
    Loan in cho học trò trung học của họ dùng thì thấy ngay cái túi Tây Sa,
    Nam Sa thòng xuống sâu dưới biển Đông trong lúc VNCH có quân trấn
    đóng trên ấy, cũng từng xác nhận chủ quyền mà sách vở học đường thì hờ
    hững như là chuyện riêng của “ở trên” mà thôi. Và do đó khi người Pháp
    yếu thế, Trung Hoa Quốc Dân Đảng mới chiếm đảo Phú Lâm (phần đông
    bắc Hoàng Sa – sau về tay Hồng Quân) và Itu-Aba, đổi tên là đảo Ba Bình.
    Khi Đệ nhị Cộng hoà yếu thế thì các nước chung quanh giành thêm phần
    của mình như Thitu / Thị Tứ thành Pagasa của Philippin… Các chính phủ
    Quốc Gia Bảo Đại và Việt Nam Cộng hòa mang tính chất kế thừa quyền
    lực Pháp nên mới ra sức bảo vệ chủ quyền qua các hội nghị quốc tế, bắt đầu
    từ Hội nghị San Francisco 1951, và mang quân ra đóng ở các đảo. Còn
    đảng CSVN vốn theo một chủ thuyết quốc tế nhưng người lãnh đạo lại
    mang đầy tâm tình, kiến thức sách vở truyền thống, lớp người xưa hơn chỉ
    biết đến ông vua Hùng ở vùng Ngã Ba, thấy nơi dừng chân ở cái ải trên
    đường cống sứ cũng nhận là của mình; lớp người kế cận sôi động với tiếng
    gọi Nam tiến, chăm chắm nhìn vào đồng bằng Cửu Long màu mỡ, rồi theo
    tình hình chiến trận nhận ra vị trí chiến lược của Tây Nguyên gợi ý một
    tương lai quyền lực “Liên bang Đông Dương” làm thoả mãn cả hai lí tưởng
    quốc gia lẫn quốc tế. Thế là từ câu thuộc lòng “Từ ải Nam Quan (?!) tới
    mũi Cà Mau” họ không thể có tầm nhìn chiến lược lớn rộng hơn cái khung
    sông núi cũ có hướng phình to ấy. Thêm với sự căm thù họ Nguyễn, không
    cần biết gì đến sách vở của họ và viết về họ, nên mới có sơ hở chính trị tai
    hại 1958, trong đó ý tưởng về sự đồng hành chiến đấu cho quốc tế, cho giai
    cấp chỉ là một sự biện minh muộn màng. Chứng cớ “Đảng” đã thực tình

    https://thuviensach.vn

    không biết Việt Nam có phần đất mịt mù ngoài biển kia là: sau 1975, người
    dân Miền Nam còn thấy một bản đồ Việt Nam DCCH (ấn bản của Cục Bản
    đồ 1972?) ghi tên Tây Sa và Nam Sa! Rồi cũng sau 1975 còn thấy những
    sục sạo của nhà cầm quyền mới muốn vặn hỏi xem cuộc triển lãm chứng
    minh chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa năm 1974 của nhóm chủ trương Tập
    san Sử
     
    Địa
     là do ý đồ gì của “đế quốc và tay sai” nhằm chống phá Cách
    mạng? Các bản đồ biển Đông xác nhận chủ quyền in ấn gần đây thật là lạc
    loài trên các sách địa lí trong nước, dù là của chuyên gia khảo sát kĩ từng
    khu vực, bởi vì nếu không quên luôn thì họ cũng chỉ loáng thoáng nhắc đến
    những tên quần đảo hờ hững mà không ghi nổi một chút chi tiết để tỏ ra có
    chút quan tâm nào. Những ồn ào về biên giới biển loáng thoáng trong báo
    chí quốc nội gần đây chỉ là cái đà thuộc loại phản ứng cạnh tranh với thành
    phần di tản – các nhóm này thì như đã tìm ra được một chứng cớ để giành
    lại cái chính nghĩa về trách nhiệm đối với một địa vực đã vuột khỏi tầm tay
    mình từ lâu.
    Có nguyên nhân tạo dựng phức tạp như thế cho nên chính ba khu
    vực cổ điển của nước Việt cũng mang dáng dấp khác biệt, không phải là do
    riêng biệt một quyền lực nào cố ý lập nên. Tuy nhiên khung cảnh thiên
    nhiên lại vẫn là điểm khởi đầu cho con người hoạt động nên các dòng sông
    đã hướng dẫn con đường di chuyển Nam tiến toàn vùng Đông Nam Á lục
    địa, rõ rệt trong thời có sử vì các chứng cớ được ghi lại và các kết quả hiển
    hiện trước mắt. Đó là những đoàn người đi theo triền lưu vực sông Hồng,
    sông Mã, sông Cả, sông Cửu Long cũng như về phía tây xa hơn, trên các
    sông Chao Praya, Saluen, Irrawaddi. Và cũng như mọi sinh hoạt phức tạp
    khác của loài người, hướng Nam tiến lớn rộng đã nói cũng không ngăn
    được những hướng di chuyển ngắn theo các chiều khác đã gây được những
    biến động lịch sử khuất lấp hay lại bị xếp vào tầm nhìn quen thuộc của
    thành kiến. Khó có thể tìm ra bằng chứng cụ thể của các dòng người từ biển
    đổ vào đất liền. Trong khi đó dòng di chuyển của tộc Thái về phía phủ Đô
    hộ An Nam, vì phải uốn nắn theo hình thể địa lí theo các triền lưu vực nên
    đã có hướng đông lẫn lộn, và gặp sự ngăn chặn từ chính quyền thuộc địa

    https://thuviensach.vn

    Đường chống với ý định “thác Đông” (khai thác về hướng đông) của nước
    Nam Chiếu, còn với Đại Việt thì gặp chính quyền Lí, Trần. Áp lực của các
    triều đại này yếu thế trên vùng xa hơn phía nam đã là cơ hội cho các nhóm
    Thái khác xuyên được qua các lưu vực lớn hướng đông nam hay theo các
    ngóc ngách sông ngắn tây đông để góp phần vào việc tạo dựng một triều
    đại Việt lâu dài nhất.
    Vị trí nhiệt đới khuôn nắn nền nông nghiệp trồng lúa nước với
    những ưu thế và hạn chế của nó. Các dòng sông ngắn tuôn ra biển, mở ra
    những giao tiếp nhiều chiều trong những khuôn khổ vùng hạn hẹp vì các
    lưu vực nhỏ đã được nối với nhau qua đường nước mặn. Đó là tình hình
    các sông ngắn dọc miền Trung đã định hình cho các tập họp chính trị Chàm
    xưa. Các châu thổ lớn chứa đựng nhiều sức người, sức của lại làm cơ sở
    cho những tập đoàn lớn quy tụ và phát triển lấn át các tập đoàn nhỏ, rõ rệt
    trong trường hợp Đại Việt đối kháng với các tập đoàn Chàm trên những lưu
    vực miền Trung, và lanh chân trên châu thổ Cửu Long trong khi chính
    quyền Angkor khai thác cạn kiệt vùng Biển Hồ mới xuôi đến Phnom Pênh
    thì đã gặp chúa Nguyễn và Minh dân lưu vong.
    Biển khơi lại mở rộng giao tiếp không chỉ bắc nam mà còn là đông
    tây, khiến cho người ta nghĩ ra tập họp từ “(Việt Nam là) bao lơn trông ra
    Thái Bình Dương”. Lối nhìn khoa đại đó hợp với thói quen của tập thể
    nhưng dù sao thì nếu thu nhỏ lại cũng có ý nghĩa về nơi giao tiếp của một
    vùng riêng biệt được công nhận có tên là Đông Nam Á, sau những năm
    tháng tranh cãi về tính chất phụ thuộc của nó vào Trung Hoa hay Ấn Độ,
    hai trung tâm văn hoá khuynh loát một thời.
    Người Hán khi lần mò xuống phía nam để tìm cách thông thương
    với Đại Tần – đế quốc La Mã, đồng thời họ cũng chiếm được phần đất nằm
    trong khu vực nhiệt đới có các sản phẩm cần thiết cho nhu cầu sang cả của
    họ nên không buông bỏ, và sẽ cố tâm chiếm lại hoặc áp đặt ảnh hưởng trêntrước, khi không thể cai trị trực tiếp được nữa. Tính chất nhiệt đới đem lại
    hệ luỵ cho Việt Nam như trên thì cũng gây khó khăn cho triều đình phương

    https://thuviensach.vn

    Bắc với thủy thổ khắc nghiệt làm chùn bước những cuộc tiến chiếm hay
    đóng quân cai trị. Và thế là đưa đến tình trạng nhùng nhằng độc lập / phiên
    thuộc còn ảnh hưởng mãi đến tận ngày nay sau thời gian ngắn rứt ra để Việt
    Nam rơi vào vòng tay người Pháp, thế giới Tây Phương hiện đại.

    Các dấu vết và những tác động khúc xạ
    trong/ngoài, xưa/nay
    Quá khứ phải được ghi lại mới thành sử, sử
     phải được kí.
     Và tất
    nhiên có nhiều hình thức ghi lại, trong đó chữ viết là chứng cớ xác định
    nhất vì nó là biểu hiện cụ thể, rõ ràng về sinh hoạt của một tập đoàn lưu giữ
    được qua thời gian. Tuy nhiên không phải là tập đoàn nào cũng có chữ viết
    và hình thức chữ viết nào cũng được sử dụng với kết quả lưu giữ quá khứ
    như nhau. Chữ viết trong vùng ĐNÁ là mượn từ hai khối văn minh có
    trước: Trung Quốc và Ấn Độ, nên lịch sử ghi lại trong vùng cũng phải chịu
    chìm nổi một chừng mực theo với tính chất văn minh của hai nơi đó. Nói
    một cách sơ sài, nền văn minh Ấn hướng nhiều về suy tưởng triết lí nên các
    ghi chép để lại không nhiều chi tiết cụ thể rành rẽ hơn phần của người
    Trung Hoa, vốn từ rất sớm đã lưu tâm đến mặt sinh hoạt xã hội nhân sinh.
    Sự khác biệt đó thấy rõ rệt ở quá khứ Việt Nam, nơi từng xuất hiện
    các tập đoàn xây dựng những thể chế chính trị riêng biệt chịu ảnh hưởng
    Trung Hoa và Ấn Độ trước khi thành một khối thống nhất chính trị bây giờ.
    Có thể nói phần đất phía nam, bao gồm Nam Bộ ngày nay, được nhắc đến
    một thời mang tên Phù Nam rồi từ đó toả rộng ra, là do sự tái hiện của các
    nhà nghiên cứu người Pháp, từ sử sách lan qua các tài liệu khảo cổ học. Và
    nước/các nước Champa tuy xuất hiện có bằng cớ, thường xuyên, dài lâu
    hơn nhưng không được biết đến rành rẽ, liên tục chỉ vì những điều có thể
    gọi là sử của họ là những ghi chép của người ngoài, còn phần của chính bản

    https://thuviensach.vn

    thân thì lại khắc trên bia đá với những khuyết điểm của chứng tích mang
    quan niệm nhân sinh thể hiện như ta đã nói. Hình thức “kí” mang dấu địa
    phương, trên lá buông – không kể các thứ viết, sao chép lại trên giấy tây,
    giấy xi măng – không có độ tin cậy cao không phải vì khiếm khuyết của vật
    liệu dễ hư nát mà vì từ căn bản suy tưởng thiên về trừu tượng, tôn giáo đã
    khiến chúng thiếu sự chính xác đòi hỏi. Số phận của một dân tộc nhỏ, thành
    tựu tương đối ít, bia ...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là cây đèn thần soi sáng con đường tri thức của nhân loại.” — A. Pushkin

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN AN - HẢI PHÒNG !