Sách nói Hạ Đỏ - Nguyễn Nhật Ánh
Ba phút sơ cứu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:36' 12-03-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:36' 12-03-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Start
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: SƠ CỨU CĂN BẢN
1. BỘ DỤNG CỤ SƠ CỨU
2. KHI NÀO CẦN TRỢ GIÚP Y TẾ?
3. CHỜ ĐỢI XE CỨU THƯƠNG HAY TỰ VẬN CHUYỂN?
4. GỌI 115
5. NGUYÊN TẮC AN TOÀN TRONG SƠ CỨU
6. RỬA TAY VÀ ĐEO GĂNG
7. ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
8. KIỂM SOÁT ĐƯỜNG THỞ VÀ HỖ TRỢ HÔ HẤP
9. CPR - HỒI SINH TIM PHỔI CƠ BẢN
10. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ
11. TƯ THẾ AN TOÀN
12. DẤU HIỆU SINH TỒN VÀ TÌNH TRẠNG SỐC
13. VẬN CHUYẾN AN TOÀN
14. MÁY SỐC ĐIỆN TỰ ĐỘNG - AED (AUTOMATED
EXTERNAL DEFIBRILLATOR)
CHƯƠNG 2: CHẤN THƯƠNG
1. TIẾP CẬN MỘT TRƯỜNG HỢP CHẤN THƯƠNG
1. Đánh giá ban đầu: đảm bảo các chức năng sống
2. Đánh giá lần 2: đảm bảo tránh bỏ sót tổn thương
2.1. Đầu mặt cổ:
2.2. Cột sống:
2.3. Vai và lồng ngực:
2.4. Hai tay:
2.5. Bụng:
2.6. Hai chân:
3. Đưa người bị nạn về tư thế an toàn phù hợp sau khi đánh giá và
kiểm soát chấn thương lần hai.
2. CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG
3. VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM
4. VẾT THƯƠNG HỞ D0 VẬT SẮC NHỌN
5. CẦM MÁU
6. CHĂM SÓC VÀ THAY BẰNG VẾT THƯƠNG
7. KHI NÀO CẦN DỰ PHÒNG UỐN VÁN?
8. TỔN THƯƠNG XƯƠNG KHỚP
9. CHUỘT RÚT
10. MỘT SỐ CHẤN THƯƠNG NGHIÊM TRỌNG
CHƯƠNG 3: VẾT CẮN, ĐỐT
1. DỊ ỨNG VÀ SỐC PHẢN VỆ
2. ĐỘNG VẬT CẮN
3. KHI NÀO CẦN TIÊM PHÒNG DẠI?
4. RẮN CẮN
5. KỸ THUẬT BẰNG ÉP BẤT ĐỘNG
6. VẮT/ĐỈA CẮN
7. ONG ĐỐT/CHÍCH.
8. SÂU RÓM/BỌ NẸT
9. KIẾN BA KHOANG
10. BỆNH GIỜI LE0
11. BỌ CẠP ĐỐT
12. RẾT CẮN
CHƯƠNG 4: CÁC BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP
1. ĐỘT QUỴ NÃO CẤP
2. ĐAU NGỰC CẤP
3. ĐỘNG KINH, CO GIẬT
4. SỐT
5. SỐC NHIỆT, SAY NẮNG, SAY NÓNG
6. MẤT NƯỚC
7. BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
8. ĐUỐI NƯỚC
9. BỎNG
10. ĐIỆN GIẬT
11. DỊ VẬT ĐƯỜNG TIÊU HÓA
12. CHẢY MÁU MŨI
13. TỔN THƯƠNG MẮT
CHƯƠNG 5: CÁC LOẠI NGỘ ĐỘC THƯỜNG GẶP
1. NGUYÊN TẮC XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC CẤP
2. CHẤT TẨY RỬA GIA DỤNG
3. NGỘ ĐỘC CÓC VÀ CÁ NÓC
4. NUỐT PHẢI THỦY NGÂN
5. NGỘ ĐỘC KHÍ CO/NGẠT KHÍ
BA PHÚT SƠ CỨU
—★—
Thể loại: Y HỌC
Tác giả: NGÔ ĐỨC HÙNG
NXB Nhã Nam
Nguồn: Internet
MỞ ĐẦU
Hằng ngày, chúng ta dễ dàng bắt gặp một tình huống thương tích, hoặc bệnh tật
diễn ra bất ngờ. Tình huống đó có thể xảy ra với chính người thân yêu của
bạn. Trong khoảng thời gian nhanh nhất có thể bạn phải quyết định việc cần
làm để đảm bảo an toàn cho người bị nạn, cũng như không tự đẩy mình vào
các mối nguy hiểm không đáng có (ví dụ tiếp xúc với máu, chất tiết của nạn
nhân có bệnh lý truyền nhiễm tiềm ẩn, ví dụ: người nhiễm HIV, viêm gan virus
B…).
Sơ cấp cứu là hành động trợ giúp và chăm sóc ban đầu đối với người bị nạn
tại cộng đồng, có thể có sự can thiệp tạm thời trong một tình huống nghiêm
trọng trước khi có sự trợ giúp của các nhân viên cứu hộ hoặc nhân viên y tế
chuyên nghiệp.
Cuốn sách hướng dẫn sơ cứu ban đầu này được xây dựng dựa trên cơ sở:
1. Các bằng chứng khoa học dựa trên các nghiên cứu về hiệu quả của các
phương pháp sơ cứu.
Ví dụ: Chúng ta tin rằng việc hút nọc từ vết rắn cắn là có hiệu quả. Nhưng các
nghiên cứu cho thấy đây là thông tin không đúng. Việc hút nọc không những
không có hiệu quả, trái lại còn có thể gây hại. Có một nghiên cứu tách chiết
được nọc rắn từ dịch hút với lượng không đáng kể (0,04%), còn một nghiên
cứu khác trên động vật cho kết quả con vật thí nghiệm chết nhanh hơn....
2. Cơ sở vật chất sẵn có tại chỗ: do điều kiện kinh tế văn hóa mỗi quốc gia
mỗi khác nên quan điểm cũng như thái độ trước các trường hợp y tế khẩn cấp
sẽ khác nhau.
Ví dụ: Dịch vụ vận chuyển cấp cứu thường tập trung nhiều ở các thành phố
lớn, nếu tình huống y tế khẩn cấp xảy ra ở các vùng nông thôn xa đôi khi khó
tiếp cận ngay lập tức với nhân viên y tế. Chưa kể tại giờ cao điểm, hiện tượng
tắc đường thường xuyên diễn ra. Việc tự đưa người bị nạn đi cấp cứu hay
kiên nhẫn chờ xe cứu thương luôn là vấn đề gây tranh cãi và khó tìm được câu
trả lời chung. Câu trả lời tùy thuộc vào tình huống cụ thể, vấn đề không phải
ai đưa người bị nạn đi cấp cứu mà nó nằm ở việc đưa người bị nạn đi cấp
cứu có đảm bảo an toàn hay không.
3. Kinh nghiệm thực tế từ các chuyên gia sẽ điều chỉnh các kỹ thuật cho phù
hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Trong bối cảnh Việt Nam, có quá
nhiều các kinh nghiệm dân gian can thiệp vào trong các tình huống y tế khẩn
cấp, không hẳn tất cả đều sai, một số có giá trị nhất định trong giai đoạn nào
đó của bệnh. Đôi khi chúng làm cản trở quá trình làm lành vết thương nếu áp
dụng máy móc các phương pháp đó.
Trong phạm vi cuốn sách này, chúng tôi sẽ phân tích các kinh nghiệm dân gian
áp dụng trong các tình huống khẩn cấp và diễn biến tự nhiên của các tổn
thương. Từ đó người đọc sẽ tự quyết định có nên áp dụng hay không.
Biết được kiến thức về sơ cứu, trước hết bạn sẽ giúp được người thân của
mình, tiếp nữa là những người xung quanh. Trước mỗi tình huống khẩn cấp về
y tế, việc thực hiện các biện pháp sơ cứu trong vài phút đầu tiên đúng hay
không sẽ giúp cho người bị nạn được hồi phục hay chịu thương tật vĩnh viễn.
Ví dụ trong trường hợp chấn thương cột sống cổ, nếu sự nhiệt tình không kèm
theo hiểu biết sẽ làm nạn nhân bị liệt vĩnh viễn, nặng hơn nữa là tử vong.
Có ba thời điểm người bị nạn có thể tử vong:
1. Vài giây đến vài phút đầu tiên: trường hợp này người tham gia sơ cứu
không làm được gì nhiều ngoài việc hỗ trợ hô hấp và hồi sinh tim phổi cơ
bản.
2. Vài phút đến vài giờ: vai trò của người sơ cứu rất quan trọng trong giai
đoạn này, các động tác đúng và phù hợp sẽ làm giảm thiểu nguy cơ tử vong,
ngăn chặn các diễn biến nặng lên giúp cho người bị nạn hồi phục. Sơ cứu
không đúng cách, có thể người bệnh sẽ phải gánh chịu biến chứng suốt đời.
3. Vài giờ đến nhiều giờ: thông thường những trường hợp này đã được can
thiệp bởi các nhân viên y tế hoặc các bác sĩ nhưng không có đáp ứng.
Cuốn sách này không thể thay thế được các chương trình đào tạo về kỹ năng
sơ cứu từ các chuyên gia. Tôi chỉ hy vọng nó đem lại cho các bạn những kiến
thức đúng đắn, giúp chúng ta hiểu biết hơn, từ đó có thái độ tốt hơn trong việc
hợp tác và xử trí ban đầu các trường hợp cần hỗ trợ về y tế khẩn cấp khi chưa
có nhân viên y tế bên cạnh. Còn muốn từ kiến thức trở thành kỹ năng, bạn phải
rèn luyện rất nhiều.
CHƯƠNG 1: SƠ CỨU CĂN BẢN
1. BỘ DỤNG CỤ SƠ CỨU
1. Gạc cuộn, 4 chiếc, dùng để buộc, cố định xương khớp, băng vết thương.
Bạn có thể dùng chúng đặt lên đường đi của mạch máu để thực hiện băng ép
cầm máu
2. Gạc miếng vô trùng, 3-5 gói, để cầm máu, rửa, che phủ vết thương
3. Băng chun, 2 chiếc, dùng băng cầm máu, băng ép bất động, băng trong bong
gân, trật khớp.
4. Băng dán cá nhân, 10 chiếc, để dán vào các vết đứt, rách da nhỏ.
5. Băng dính y tế, 1 cuộn, loại này dễ xé và cố định.
6. Panh, kéo, nhiệt kế mỗi thứ 1 chiếc.
7. Găng tay, túi nilon
8. Sát trùng:
- Cồn rửa tay, nước rửa tay khô, sát trùng tay.
- Dung dịch povidone iodine 10% hoặc cồn 70°: sát trùng vết thương hở. Cồn
70° còn có thể sử dụng để sát trùng tay.
9 Thuốc:
- Nước muối sinh lý: rửa vết thương, rửa mắt.
- Thuốc bôi: kem kháng histamin, kem hydrocortisol 1% dùng trong các
trường hợp côn trùng đốt, dị ứng ngoài da
- Thuốc uống: tùy theo gia đình có người bị bệnh mạn tính hoặc nguy cơ bệnh
lý thường gặp mà bạn có thể chuẩn bị thêm. Thông thường nhất là thuốc hạ sốt,
giảm đau không kê đơn.
10. Cẩm nang sơ cứu: Bạn cần nhớ khi xảy ra tình huống khẩn cấp về y tế, việc
không thể nhớ nổi cái gì cần làm trước tiên là chuyện hết sức bình thường. Vậy
nên, có quyển cẩm nang bên cạnh sẽ giúp ích cho bạn và gia đình rất nhiều.
C: NÊN VÀ KHÔNG NÊN
Một bộ dụng cụ sơ cứu cho gia đình không nên có quá nhiều đồ, bạn sẽ bị rối
khi mở nó ra.
Tùy theo đặc trưng của mỗi gia đình có người già, em bé, bệnh mạn tính… mà
bạn sẽ gia giảm dụng cụ và thuốc dự phòng cho hợp lý.
Một vài gợi ý:
Thuyền đi biển dài ngày, người cơ địa dị ứng nên chuẩn bị thêm gói than
hoạt tính đề phòng ngộ độc thức ăn (cá nóc…), dị ứng hải sản.
Gia đình có người già tiền sử bệnh lý tim mạch, mạch vành: bạn chuẩn bị
sẵn thuốc theo đơn như thuốc giãn vành, nitroglycerin, thuốc chống ngưng
tập tiểu cầu aspirin để dùng ngay khi có trường hợp khẩn cấp.
Gia đình có người bệnh hen phế quản: chuẩn bị sẵn thuốc giãn phế quản
dạng xịt cùng buồng khí dung…
Gia đình có người bệnh tiểu đường: máy thử đường máu mao mạch, gói
đường glucose đề phòng trường hợp biến chứng hạ đường huyết.
Vận động viên thể thao, người làm việc trên cao, du lịch mạo hiểm nên
chuẩn bị thêm bộ nẹp cố định cột sống cổ.
VẬT DỤNG THAY THẾ:
1. Gạc cuộn: Nếu không có, bạn có thể dùng một sợi dây để buộc cố định.
Hoặc cắt một mảnh vải sạch thành miếng dài rồi cuộn lại để cầm máu.
2. Gạc miếng vô trùng: Nếu không có, bạn có thể dùng một chiếc khăn mùi
soa hoặc khăn cotton sạch gấp thành nhiều lớp để băng ép cầm máu hoặc
che phủ vết thương. Thậm chí bạn có thể dùng một chiếc áo cotton sạch
để ép cầm máu tạm thời.
3. Băng chun: Nếu không có, bạn có thể cắt một chiếc áo vải theo đường
chỉ may thành miếng dài để băng ép bất động
4. Găng tay: Nếu không có, bạn thay thế bằng cách lộn trái một chiếc túi
nilon sạch để lồng tay vào đó.
5. Sát trùng: Một lon bia, chai rượu hoặc chai coca cũng có ích khi bạn
không có những thứ trên. Chúng sẽ có ích khi B: BẠN CẦN LÀM sạch
ngay lập tức (trường hợp vết thương dính bẩn hóa chất hoặc đất cát,
không dùng cho mặt và mắt). Bạn không nên dùng các loại nước ngọt có
nhiều đường để rửa tay hoặc làm sạch vết thương.
6. Nẹp cố định: Một cành cây, một chiếc đũa hay chiếc thước kẻ cũng có
thể thay thế dụng cụ cố định xương gãy ở trẻ nhỏ.
1. Panh, nhíp, kẹp, kéo cần được vệ sinh trước và sau khi tiếp xúc với
vết thương hở vết thương chảy máu. Tốt nhất là luộc trong nước sôi ít
nhất 5 phút. Nếu không thể bạn dùng cồn hoặc dụng dịch sát trùng để thay
thế.
2. Định kỳ kiểm tra hạn sử dụng các loại thuốc.
3. Một số đồ có thể dùng lại như băng chun, bạn giặt sạch và phơi khô
trước khi xếp lại vào bộ dụng cụ sơ cứu
Bộ dụng cụ sơ cứu cơ bản
2. KHI NÀO CẦN TRỢ GIÚP Y TẾ?
Nếu bạn nhận biết được dấu hiệu của tình huống y tế khẩn cấp, một ngày nào
đó bạn sẽ là người hùng cứu sống người thân yêu trong gia đình mình. Thậm
chí cuộc đời mình.
Các bác sĩ cấp cứu luôn khuyến khích mỗi cá nhân học cách nhận biết các dấu
hiệu và triệu chứng cảnh báo nguy hiểm.
CÁC DẤU HIỆU CẦN TRỢ GIÚP Y TẾ:
1. Thở nhanh, khó thở.
2. Đau ngực trái hoặc đau bụng vùng thượng vị như bóp nghẹt kéo dài 2
phút trở lên.
3. Nôn, tiêu chảy. mất nước (hay gặp ở người già và trẻ nhỏ).
4. Rối loạn ý thức (lú lẫn, ngủ dài khó đánh thức, hành vi bất thường: bao
gồm cả ý nghĩ tự sát, giết người).
5. Rối loạn thị lực (mờ mắt, nhìn đôi).
6. Rối loạn ngôn ngữ (nói khó).
7. Cơn đau dữ dội đột ngột, mới xuất hiện lần đầu.
8. Chảy máu khó cầm.
9. Cơn co giật.
10. Tai nạn thương tích.
3. CHỜ ĐỢI XE CỨU THƯƠNG HAY TỰ VẬN
CHUYỂN?
Các tình huống cần trợ giúp y tế khẩn cấp đôi khi rất đáng sợ và ám ảnh. Đặc
biệt thời gian chờ đợi tại hiện trường có thể khiến những người tham gia sơ
cứu thấy căng thẳng, mỗi phút trôi qua giống như cả giờ đồng hồ.
Với nhiều trường hợp y tế khẩn cấp, việc chậm trễ trong điều trị sẽ để lại hậu
quả hết sức nghiêm trọng. Trước các tình huống đó luôn xảy ra hai luồng tranh
cãi: nên tự đưa người bị nạn tới bệnh viện hay kiên nhẫn chờ xe cấp cứu đến?
Đôi khi, tình huống cấp cứu xảy ra ở khu dân cư rất xa hay đúng giờ cao điểm
xe cứu thương không thể tới nhanh chóng được. Và hệ thống xe cấp cứu 115
tập trung nhiều tại các đô thị lớn. Tại các vùng sâu xa, hệ thống này còn khá
hạn chế.
Câu trả lời không nằm ở việc bạn nên hay không nên đưa người bị nạn đi cấp
cứu mà nằm ở việc bạn có kỹ năng nhận biết các dấu hiệu y tế khẩn cấp hay
không. Nếu có kỹ năng, bạn sẽ biết phải làm gì. Từ đó bạn sẽ đưa ra được
quyết định đảm bảo an toàn cho người bị nạn và cả cho mình.
Trước khi quyết định nên hay không nên, bạn cần trả lời một số câu hỏi
sau:
1. Bạn có đánh giá được tình trạng người bị nạn theo nguyên tắc ba bước
ban đầu không?
2. Bạn có đảm bảo được các dấu hiệu ABC (Airway-Đường thở, BreathingNhịp thở, Circulation-Tim mạch) cho người bị nạn trong quá trình vận
chuyển không?
3. Quãng đường đến viện gần nhất thời điểm này có thuận lợi, hẹp tắc gì
không?
Nếu đảm bảo được các câu hỏi này, việc vận chuyển người bị nạn không còn
là vấn đề tranh cãi nữa.
Với bất kỳ trường hợp khẩn cấp y tế nào, đặc biệt trong các vụ tai nạn giao
thông, tốt nhất bạn hãy gọi xe cứu thương.
Việc vận chuyển người bị nạn chỉ đặt ra sau khi bạn đánh giá ban đầu đầy đủ
và đảm bảo được an toàn cho người bị nạn về hô hấp cũng như tuần hoàn
trước và trong quá trình đưa người bị nạn đi cấp cứu.
Nếu tự vận chuyển, bạn đừng bao giờ quên bệnh viện hay trung tâm y tế gần
nhất, đó là nơi thực hiện việc hỗ trợ y tế ban đầu giúp giữ tính mạng cho người
bị nạn.
1. THỜI GIAN là vàng, nhưng AN TOÀN là mạng sống.
2. Nhanh một giây có thể làm chậm một đời.
3. Sự bình tĩnh của bạn có thể giúp đỡ cho nhiều người khác.
4. Hành động hy sinh thân mình là vĩ đại nhưng không được khuyến khích.
5. Khi bạn không đủ tự tin về những động tác mình làm, hãy lui lại và chờ
đợi hỗ trợ.
6. Nhiệt tình cùng kém hiểu biết, bạn sẽ có nguy cơ trở thành nạn nhân
tiếp theo và tạo thêm gánh nặng cho người khác.
Xe cấp cứu, bệnh viện y tế tuyến cơ sở
4. GỌI 115
Khi cần trợ giúp về y tế hãy bấm số 115 và thông báo:
1. Tên và số điện thoại của người sơ cứu.
2. Địa điểm. Nếu không rõ chính xác số nhà, hãy mô tả địa hình xung quanh.
Nếu trên đường, hãy tìm nút giao cắt gần nhất.
3. Loại tai nạn, tổn thương, mức độ nghiêm trọng.
4. Số lượng người bị nạn, giới tính, độ tuổi.
5. Độ nguy hiểm tại hiện trường: hóa chất, điện, cháy, nổ…
6. Nếu là bệnh lý tại nhà, mô tả triệu chứng và tiền sử bệnh tật nếu biết.
1. Không cúp máy trước khi cơ quan y tế chưa khai thác hết thông tin.
2. Hãy mở loa ngoài và đặt điện thoại bên cạnh, vừa mô tả vừa làm theo
hướng dẫn của nhân viên tư vấn.
3. Nói rành mạch rõ ràng.
4. Sự bình tĩnh của bạn sẽ giúp đỡ được nhiều người.
5. NGUYÊN TẮC AN TOÀN TRONG SƠ CỨU
Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nguyên tắc đầu tiên trong sơ cứu là đảm bảo AN
TOÀN, an toàn cho người tham gia sơ cứu và an toàn cho người bị nạn.
1. An toàn cho người sơ cứu:
Chúng ta phải chạy đua với thời gian, tuy nhiên bạn cần nhớ THỜI GIAN là
vàng nhưng AN TOÀN là mạng sống. Nếu tự đầy mình vào mối nguy hiểm,
bạn có thể là nạn nhân tiếp theo và trở thành gánh nặng cho những người khác.
Do vậy, trước tiên bạn phải có ý thức tự bảo vệ mình khỏi các rủi ro xảy ra
ngay tại thời điểm đó và các hậu quả sau này.
Bạn cần xác định rõ, người tham gia sơ cứu chỉ chấp nhận rủi ro khi đã được
huấn luyện để tham gia cứu nạn trong các tình huống cụ thể. Ví dụ: vào đám
cháy cứu người ngạt khói, nhảy xuống nước cứu người chết đuối hoặc cứu
người bị điện giật… Việc trang bị trước các kỹ năng xử trí trong từng tình
huống sẽ giúp giảm thiểu các nguy cơ cho mình và cho người khác.
2. Đề phòng lây nhiễm:
Các bệnh lý truyền qua đường máu: HIV, virus viêm gan A, B, C. Các vi
khuẩn gây bệnh truyền nhiễm khác.
Bảo vệ tay, mắt khi tiếp xúc với vết thương chảy máu, các chất dịch cơ
thể của người bệnh (nước bọt, nước tiểu…). Bạn nên đeo găng tay và
kính bảo vệ mắt khi cầm máu các vết thương. Nếu không có găng, bạn
dùng một túi nilon bọc tay lại.
Rửa tay trước và sau khi sơ cứu. Rửa tay thường quy bằng xà phòng và
nước sạch. Nếu không có nước, có thể dùng dung dịch sát trùng hoặc một
chút rượu mạnh thay thế, đổ ra tay và xoa đều trong ít nhất 30 giây. Hành
động này giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn từ tay bạn vào vết thương
của người bị nạn và ngược lại.
Khi cần hô hấp miệng-miệng, hãy dùng mặt nạ một chiều hoặc một miếng
nilon có khoét lỗ để tránh tiếp xúc trực tiếp với chất dịch trong khoang
miệng người bị nạn. Vì một lý do nào đó không thể hô hấp nhân tạo
miệng-miệng, chỉ cần động tác ép tim đơn thuần cũng có hiệu quả trong
hồi sinh tim phổi cơ bản.
Phân loại rác thải, các vật sắc nhọn cần được thu thập đựng trong một
hộp cứng tránh gây tổn thương cho người khác.
Hiện trường có máu, chất dịch cơ thể nên dùng giấy thấm khô sau đó dùng
nước javel để tẩy sạch.
3. An toàn cho người bị nạn:
Hạn chế di chuyển người bị nạn ra khỏi hiện trường trước khi bạn đánh
giá ban đầu đầy đủ để tránh các tổn thương thứ phát.
Chỉ di chuyển người bị nạn đến nơi an toàn nếu môi trường xung quanh
tiềm ẩn nguy cơ nhiễm độc, cháy nổ gây mất an toàn cho người sơ cứu và
nạn nhân. Ví dụ: tai nạn xe hơi có nguy cơ bốc cháy, môi trường rò rỉ khí
gas,…
Luôn quan sát và bảo vệ người bị nạn trong các tình huống cụ thể, tránh
các tổn thương diễn biến nặng lên hoặc các tổn thương thứ phát sau này.
Ví dụ trường hợp co giật, bạn phải chú ý các đồ vật trong tầm tay người
bệnh tránh quờ phải rơi vỡ gây chấn thương. Đặt một chiếc khăn dưới
đầu người bị nạn để trong cơn mất ý thức, da đầu không bị cọ xát vào nền
cứng chảy máu…
1. Luôn có ý thức tự bảo vệ mình khỏi các mối nguy hiểm từ hiện trường
và người bị nạn.
2. Trừ phi môi trường gây nguy hiểm cho người bị nạn, hạn chế tối đa di
chuyển người bị nạn khỏi hiện trường khi chưa đánh giá cụ thể.
3. Đề phòng nguy cơ lây nhiễm.
6. RỬA TAY VÀ ĐEO GĂNG
B: BẠN CẦN LÀM
Rửa tay và đeo găng trước và sau khi tiếp xúc với vết thương và người bệnh.
Rửa bằng xà phòng và nước sạch, thời gian tối thiểu 30 giây.
Biện pháp thay thế: rửa tay bằng chai nước suối sau đó sát trùng lại bằng nước
rửa tay hoặc cồn khô trong bộ dụng cụ sơ cứu.
Bước 1: Làm ướt tay. Thoa xà phòng hoặc dung dịch rửa tay.
Bước 2: Chà xát hai lòng bàn tay.
Bước 3: Lần lượt chà xát mặt lưng hai tay.
Bước 4: Làm sạch ngón tay.
Bước 5: Làm sạch lần lượt đầu ngón tay.
Bước cuối: Làm sạch bằng nước.
Với các dung dịch sát trùng: thực hiện tương tự từ bước 1 đến bước 5 (trừ
việc rửa lại bằng nước).
Đeo găng
Các bước đeo găng
Tháo găng
Các bước tháo găng
Chú ý: khi tháo gắng tránh để tay tiếp xúc với mặt ngoài của găng, là nơi vừa
sờ chạm vào chất dịch và máu của người bệnh.
C: NÊN VÀ KHÔNG NÊN
1. Không nên rửa tay ở các nguồn nước kênh, rạch, ao, hồ, đặc biệt là nước
tù đọng bởi chúng tiềm ẩn các ổ vi khuẩn càng làm gia tăng nguy cơ
nhiễm trùng.
2. Trường hợp khó khăn: một chai coca, một chai rượu cũng có thể giúp bạn
làm sạch tạm thời.
3. Không nên dùng nước ngọt hay dung dịch có nhiều đường để rửa tay.
4. Găng tay thay thế: găng nilon, hoặc thậm chí một chiếc túi nilon bọc vào
tay cũng được.
7. ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
SƠ ĐỒ TIẾP CẬN BAN ĐẦU
Nếu chấn thương, tai nạn. Bắt đầu đánh giá lần 2 [Xem thêm chương 2]
1. Lượng giá nguy hiểm:
Thực hiện ngay trước khi tiếp cận với người bị nạn, bạn hãy nghe, nhìn, ngửi
mùi và cảm nhận.
1.1. Quan sát hiện trường: Điều gì đã xảy ra, có an toàn cho bạn khi tiếp
cận với người bị nạn hay không?
Chú ý các nguy cơ có thể gây nguy hiểm cho người tiếp cận với hiện trường
hoặc vụ tai nạn như cháy nổ, rò rỉ khí gas, nơi có xăng dầu, hóa chất, dây
điện… Hoặc khu vực bạn biết sẽ thiếu oxy như trong hầm lò, giếng đào…
Ví dụ: Tình huống một người mất ý thức nằm cạnh cột điện hoặc có dây điện
hở gần đó, ngay lập tức bạn phải nghi ngờ đó là một vụ rò rỉ điện và tìm cách
ngắt cầu dao trước khi tiếp cận với người bị nạn. Nếu không, bạn có thể trở
thành nạn nhân tiếp theo.
Bạn phải quyết định nhanh:
Để người bị nạn nằm tại chỗ sẽ an toàn hơn di chuyển: tại nạn giao thông,
chấn thương ngã cao…
Di chuyển nhanh chóng người bị nạn đến nơi an toàn hơn rồi tiến hành sơ
cứu: ngạt khói, hóa chất…
Chờ đợi cứu hộ đến rồi phối hợp với họ.
1.2. Quan sát người bị nạn: Có bao nhiêu người bị nạn? Trạng thái của họ
ra sao?
Chú ý nguy cơ nhiễm bệnh khi tiếp xúc với máu, chất dịch của người bị nạn:
virus HIV, viêm gan B, bệnh truyền nhiễm khác.
Người bị nạn kích động, hoảng loạn do sử dụng chất kích thích (say rượu, ma
túy) sẽ gây nguy hiểm cho người sơ cứu.
2. Yêu cầu hỗ trợ:
Luôn tuân thủ nguyên tắc gọi hỗ trợ trước khi sơ cứu.
Trong các vụ tai nạn ngoài cộng đồng, sẽ xảy ra hai tình huống:
a. Hiệu ứng bàng quan (Hội chứng Genovese): chỉ về một tình huống khẩn cấp
mà những người có mặt không giúp đỡ nạn nhân. Càng nhiều người chứng kiến
càng ít nhận được hỗ trợ bởi nỗi lo sợ bị đổ lỗi về việc họ không gây ra hoặc
dính dáng đến pháp luật.
b. Tình huống hỗn loạn: quá nhiều người tham gia, mỗi người một ý. Lúc này,
đám đông cần người chỉ huy.
Các bước thực hiện:
Bạn cần tự tin vào chính mình, nói to rõ ràng bằng các khẩu lệnh cụ thể.
Đừng gào thét. Như vậy sẽ tạo được lòng tin tốt hơn.
Quan sát xem ai có thể giúp đỡ, nhìn thẳng vào họ và yêu cầu. Ví dụ:
“Anh/chị bấm số 115 giúp tôi” hoặc “Anh/chị giúp tôi nâng chân của nạn
nhân lên”… Đừng nói chung chung “giúp tôi với” hay “gọi cấp cứu đi”…
Gọi cấp cứu 115 ngay khi có thể thông báo tình hình. Trường hợp bối rối
chưa biết làm gì tiếp theo và cần sơ cứu ngay, bạn hãy mở loa ngoài và
để điện thoại bên cạnh để vừa thông báo, vừa nghe hướng dẫn xử trí tình
huống
Trong trường hợp quá bối rối và sợ hãi. Bạn hãy lùi lại, nhanh chóng gọi
hỗ trợ và kiên nhẫn chờ người tới giúp. Trong lúc đó, cố gắng quan sát
tình huống và người bị nạn xem điều gì đã và đang diễn ra để mô tả cho
người hỗ trợ khi họ đến.
Thông báo cho các cơ quan chức năng: cảnh sát cơ động 113, cứu hỏa
114 khi cần.
Hãy ngừng lại và chờ sự giúp đỡ nếu:
1. Bạn không chắc chắn đảm bảo an toàn cho mình.
2. Bạn không đủ tự tin và không biết mình làm đúng hay không.
3. Bạn đang mất bình tĩnh và hoảng sợ.
4. Người bị nạn hung dữ, kích động hoặc từ chối sơ cứu.
3. Đánh giá cơ bản ABC:
Tiếp cận từ ngang vai để hạn chế quay đầu người bị nạn. Nhìn, hỏi, vỗ vai lay
gọi.
Đánh giá đáp ứng bằng các câu hỏi đơn giản:
a. Anh/chị tên gì?
b. Anh/chị bị làm sao?
c. Anh/chị đau ở đâu?
Trẻ nhỏ: vỗ vai và tạo sự chú ý cho trẻ, hoặc kích thích đau bằng cách vỗ vào
lòng bàn chân của trẻ để xem đáp ứng.
1. Người bị nạn tỉnh, trả lời đúng:
Quan sát toàn trạng, nhịp thở, bắt mạch xem có dấu hiệu sốc hay không, có khó
thở không. Chú ý cố định cột sống cổ trong tất cả các trường hợp tai nạn giao
thông hay ngã cao trước khi đặt người bị nạn vào tư thế an toàn thích hợp. Tốt
nhất là nằm nghiêng an toàn.
Khi nghi ngờ chấn thương đốt sống cổ, đặt người bị nạn ở từ thế trung gian
dành cho người chấn thương cột sống cổ.
2. Người bị nạn không tỉnh táo, rối loạn ý thức, rên rỉ:
Kiểm soát đường thở, lấy dị vật, răng giả khỏi miệng nếu có.
Cố định đốt sống trong trường hợp chấn thương.
Hỗ trợ hô hấp.
Nằm nghiêng an toàn. Nếu có dấu hiệu sốc, đặt người bị nạn tư thế đầu
thấp chân cao.
3. Người bị nạn bất tỉnh:
Còn thở:
Kiểm soát đường thở.
Cố định đốt sống trong trường hợp chấn thương.
Hỗ trợ hô hấp.
Nằm tư thế an toàn.
Không thở: đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền phẳng, thực hiện hồi sinh tim
phổi cơ bản.
8. KIỂM SOÁT ĐƯỜNG THỞ VÀ HỖ TRỢ HÔ HẤP
A: BẠN CẦN BIẾT
Kiểm soát đường thở và hỗ trợ hô hấp là một phần của hồi sinh tim phổi cơ
bản. Động tác kiểm soát ban đầu đường thở nhằm đảm bảo thông thoáng, giải
phóng tắc nghẽn giúp người bị nạn hô hấp tốt hơn hoặc chuẩn bị cho động tác
hỗ trợ hô hấp để khí vào phổi dễ dàng.
Nguyên nhân gây tắc nghẽn đường thở:
Phản ứng dị ứng gây phù nề, co thắt thanh quản: ong đốt, dị ứng thức ăn,
dị ứng thuốc…
Chấn thương vùng hàm mặt.
Giảm trương lực cơ vùng họng miệng, làm sàn miệng sập xuống, tụt lưỡi
chèn vào đường thở. Gặp trong hôn mê, đột quỵ não (tai biến mạch não)
…
Dị vật trong đường thở. Thường gặp ở trẻ nhỏ, người già sa sút trí tuệ, rối
loạn tâm thần…
B: BẠN CẦN LÀM
1. Người bị nạn còn tỉnh:
Đặt người bệnh ở tư thế an toàn phù hợp (bài “Tư thế an toàn” trang 45).
2. Người bị nạn bất tỉnh (bao gồm cả ngừng tim):
Nếu có hoặc nghi ngờ có chấn thương cột sống cổ: để cổ ngửa tư thế
trung gian.
Nếu người bị nạn nằm nghiêng hoặc sấp: lật đồng thời cả đầu, thân, chân
tay đưa người bị nạn về vị trí nằm ngửa.
Mở đường thở: ngửa đầu, nâng cằm, ấn giữ hàm. Động tác này sẽ giúp
lưỡi được đẩy lên trên và ra trước làm mở thông đường thở. Riêng trẻ
nhũ nhi, tư thế mở đường thở là tư thế để ngửa đầu trung gian giống
trường hợp chấn thương đốt sống cổ.
3. Hỗ trợ hô hấp:
Hô hấp miệng-miệng hoặc miệng-mũi, yêu cầu cần đạt được: lồng ngực người
bị nạn phồng lên theo nhịp thổi.
Để tránh tiếp xúc với dịch tiết của người bị nạn, cần sử dụng mặt nạ một chiều
để nếu người bị nạn ho hay nôn sẽ không gây nguy cơ cho người sơ cứu (ảnh
trên 1-3).
C: NÊN VÀ KHÔNG NÊN
Khi bạn không có mặt nạ một chiều, có thể cân nhắc dùng một mảnh nilon
có khoét lỗ (1) hoặc dùng một chiếc khăn mùi soa (2) để thay thế.
Vì một lý do nào đó không thể hỗ trợ hô hấp miệng-miệng, miệng-mũi cho
người bị nạn, và bạn không có dụng cụ hỗ trợ (mặt nạ một chiều, bóng
bóp). Thì động tác ép tim ngoài lồng ngực đơn thuần cũng rất có hiệu quả
trong hồi sinh tim phổi cơ bản.
Không nên hô hấp miệng-miệng khi người bị nạn ngộ độc hóa chất đường
tiêu hóa hoặc đường hô hấp.
9. CPR - HỒI SINH TIM PHỔI CƠ BẢN
A: BẠN CẦN BIẾT
Thời gian là não. Tế bào não người không có dự trữ năng lượng và oxy, chúng
phụ thuộc hoàn toàn vào việc bơm máu của tim. Nếu tim ngừng đập, nguồn
cung cấp bị cắt đứt. Tế bào não chi chịu đựng được trong khoảng thời gian 3
phút sau đó sẽ tổn thương vĩnh viễn không có khả năng hồi phục.
Hồi sinh tim phổi (CPR - Cardio Pulmonary Resuscitation) là một chuỗi các
động tác gồm ép tim ngoài lồng ngực và thổi ngạt luân phiên. Mục đích là tạo
một áp lực bên ngoài nhằm ép quả tim co bóp một cách thụ động để tống máu
lên não, cung cấp oxy cho tế bào não, làm sức chịu đựng tế bào não kéo dài
hơn.
Hồi sinh tim phổi gồm hai giai đoạn: cơ bản và nâng cao. Hồi sinh tim phổi cơ
bản dành cho cộng đồng và ngoài bệnh viện, hồi sinh tim phổi nâng cao dành
cho các nhân viên y tế và bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị hỗ trợ.
Tuy vậy, các tình huống ngừng tim thường xảy ra ngoài cộng đồng, trước khi
nhân viên y tế có mặt. Do đó vai trò của hồi sinh tim phổi cơ bản và hồi sinh
tim phổi nâng cao là quan trọng như nhau.
Hồi sinh tim phổi = cứu não.
Trường hợp này, bạn phải chạy đua với thời gian.
1. Ép nhanh: tần số 100-120 lần/phút.
2. Ép mạnh: lồng ngực lún xuống 5cm.
3. Ép đúng:
Đúng vị trí: 1/2 dưới xương ức hoặc giữa hai núm vú
Đúng tư thế: chân quỳ, trục cánh tay vuông góc thân mình người bệnh
Đúng tỷ lệ: 30 lần ép tim/ 2 lần thổi ngạt.
4. Ép hiệu quả: sờ thấy mạch cảnh hoặc mạch bẹn nảy theo nhịp ép.
B: BẠN CẦN LÀM
Trẻ nhũ nhi: sử dụng hai ngón tay cái để ép tim
Nếu có hai người thì 15 lần ép tim và 2 lần hỗ trợ hô hấp.
Nếu có một người thì 30 lần ép tim và 1 lần hỗ trợ hô hấp.
10. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ
A: BẠN CẦN BIẾT
Dị vật đường thở là một tình huống đe dọa tính mạng, do vật lạ bao gồm thức
ăn lọt vào đường thở gây tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn đường thở.
Có nhiều kỹ thuật khác nhau có thể áp dụng sơ cứu cho người bị dị vật đường
thở: tùy theo lứa tuổi, chiều cao, cân nặng và trạng thái ý thức của người bị
nạn
Phương pháp Heimlich (Hem-lích): tạo áp lực dưới cơ hoành đẩy khí ra
khỏi phối giống cơn ho đẩy dị vật ra ngoài. Áp dụng cho người lớn và trẻ
>1 tuổi còn tỉnh.
Phương pháp vỗ mạnh vào lưng, giữa hai xương bả vai: thường dành cho
trẻ <1 tuổi. Đối tượng thường gặp nhất bị dị vật đường thở là trẻ em,
người già, người rối loạn tâm thần, người mang răng giả (thiếu cảm giác
về thức ăn trong khoang miệng). Người bệnh đột quỵ não có rối loạn
nuốt. Trẻ em hay gặp dị vật là các loại hạt, đồ vật nhỏ.
Biểu hiện dị vật đường thở:
Hoảng loạn
Thở dốc, ho dữ dội
Hai tay ôm cổ, chỉ tay vào miệng
Nói khó hoặc không nói được
Mặt đỏ sau đó chuyển dần sang xanh tím
Mất ý thức.
Trường hợp dị vật bít tắc một phần đường thở, người bị nạn vẫn nói được và
thở được.
Đừng thực hiện các động tác lấy dị vật đường thở, khuyến khích họ ho để dị
vật tự đẩy ra ngoài hoặc gọi hỗ trợ y tế.
Trường hợp dị vật bít tắc hoàn toàn đường thở, người bị nạn không thở được.
Bạn cần thực hiện các biện pháp lấy dị vật đường thở và gọi hỗ trợ y tế.
1. Tuyệt đối không đưa tay vào miệng móc dị vật khi người bị nạn đang
còn thở hoặc đang trong cơn ho.
2. Nếu người bị nạn tự thở được, động viên và giúp họ ngồi xuống ghế,
cúi người về phía trước, khuyến khích họ đây dị vật ra.
3. Không làm động tác Heimlich nếu người bị nạn còn tự thở được.
4. Gọi cấp cứu 115 ngay khi có thể.
B: BẠN CẦN LÀM
Khi nghi ngờ ai đó bị sặc vào đường thở: đầu tiên bạn hãy gọi và hỏi người đó
có bị sặc không.
1. Nếu họ trả lời được, hãy giúp đỡ họ ngồi xuống ghế, cúi người về phía
trước và đừng làm gì cả. Khuyến khích người bị nạn ho, dị vật có khả
năng theo các cơn họ bật ra ngoài.
2. Nếu họ không trả lời được hoặc không thở được. Bạn cần nhanh chóng
gọi 115 và thực hiện động tác Heimlich.
3. Nếu mất ý thức. Đặt người bị nạn nằm ngửa trên nền phẳng, kiểm tra
khoang miệng xem có thấy dị vật hay không. Nếu nhìn thấy, dùng ngón tay
móc dị vật ra (Nếu không nhìn thấy dị vật thì không làm động tác này).
Tiếp tục thực hiện các động tác hồi sinh tim phổi cơ bản CPR, động tác ép tim
sẽ tạo áp lực trong khoang lồng ngực đầy dị vật ra ngoài.
Kiểm tra lại khoang miệng sau vài lần ép tim xem dị vật đã đẩy ra chưa. Nếu
chưa, tiếp tục CPR cho đến khi có hỗ trợ y tế đến.
Start
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: SƠ CỨU CĂN BẢN
1. BỘ DỤNG CỤ SƠ CỨU
2. KHI NÀO CẦN TRỢ GIÚP Y TẾ?
3. CHỜ ĐỢI XE CỨU THƯƠNG HAY TỰ VẬN CHUYỂN?
4. GỌI 115
5. NGUYÊN TẮC AN TOÀN TRONG SƠ CỨU
6. RỬA TAY VÀ ĐEO GĂNG
7. ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
8. KIỂM SOÁT ĐƯỜNG THỞ VÀ HỖ TRỢ HÔ HẤP
9. CPR - HỒI SINH TIM PHỔI CƠ BẢN
10. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ
11. TƯ THẾ AN TOÀN
12. DẤU HIỆU SINH TỒN VÀ TÌNH TRẠNG SỐC
13. VẬN CHUYẾN AN TOÀN
14. MÁY SỐC ĐIỆN TỰ ĐỘNG - AED (AUTOMATED
EXTERNAL DEFIBRILLATOR)
CHƯƠNG 2: CHẤN THƯƠNG
1. TIẾP CẬN MỘT TRƯỜNG HỢP CHẤN THƯƠNG
1. Đánh giá ban đầu: đảm bảo các chức năng sống
2. Đánh giá lần 2: đảm bảo tránh bỏ sót tổn thương
2.1. Đầu mặt cổ:
2.2. Cột sống:
2.3. Vai và lồng ngực:
2.4. Hai tay:
2.5. Bụng:
2.6. Hai chân:
3. Đưa người bị nạn về tư thế an toàn phù hợp sau khi đánh giá và
kiểm soát chấn thương lần hai.
2. CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG
3. VẾT THƯƠNG PHẦN MỀM
4. VẾT THƯƠNG HỞ D0 VẬT SẮC NHỌN
5. CẦM MÁU
6. CHĂM SÓC VÀ THAY BẰNG VẾT THƯƠNG
7. KHI NÀO CẦN DỰ PHÒNG UỐN VÁN?
8. TỔN THƯƠNG XƯƠNG KHỚP
9. CHUỘT RÚT
10. MỘT SỐ CHẤN THƯƠNG NGHIÊM TRỌNG
CHƯƠNG 3: VẾT CẮN, ĐỐT
1. DỊ ỨNG VÀ SỐC PHẢN VỆ
2. ĐỘNG VẬT CẮN
3. KHI NÀO CẦN TIÊM PHÒNG DẠI?
4. RẮN CẮN
5. KỸ THUẬT BẰNG ÉP BẤT ĐỘNG
6. VẮT/ĐỈA CẮN
7. ONG ĐỐT/CHÍCH.
8. SÂU RÓM/BỌ NẸT
9. KIẾN BA KHOANG
10. BỆNH GIỜI LE0
11. BỌ CẠP ĐỐT
12. RẾT CẮN
CHƯƠNG 4: CÁC BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP
1. ĐỘT QUỴ NÃO CẤP
2. ĐAU NGỰC CẤP
3. ĐỘNG KINH, CO GIẬT
4. SỐT
5. SỐC NHIỆT, SAY NẮNG, SAY NÓNG
6. MẤT NƯỚC
7. BỆNH TIỂU ĐƯỜNG
8. ĐUỐI NƯỚC
9. BỎNG
10. ĐIỆN GIẬT
11. DỊ VẬT ĐƯỜNG TIÊU HÓA
12. CHẢY MÁU MŨI
13. TỔN THƯƠNG MẮT
CHƯƠNG 5: CÁC LOẠI NGỘ ĐỘC THƯỜNG GẶP
1. NGUYÊN TẮC XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC CẤP
2. CHẤT TẨY RỬA GIA DỤNG
3. NGỘ ĐỘC CÓC VÀ CÁ NÓC
4. NUỐT PHẢI THỦY NGÂN
5. NGỘ ĐỘC KHÍ CO/NGẠT KHÍ
BA PHÚT SƠ CỨU
—★—
Thể loại: Y HỌC
Tác giả: NGÔ ĐỨC HÙNG
NXB Nhã Nam
Nguồn: Internet
MỞ ĐẦU
Hằng ngày, chúng ta dễ dàng bắt gặp một tình huống thương tích, hoặc bệnh tật
diễn ra bất ngờ. Tình huống đó có thể xảy ra với chính người thân yêu của
bạn. Trong khoảng thời gian nhanh nhất có thể bạn phải quyết định việc cần
làm để đảm bảo an toàn cho người bị nạn, cũng như không tự đẩy mình vào
các mối nguy hiểm không đáng có (ví dụ tiếp xúc với máu, chất tiết của nạn
nhân có bệnh lý truyền nhiễm tiềm ẩn, ví dụ: người nhiễm HIV, viêm gan virus
B…).
Sơ cấp cứu là hành động trợ giúp và chăm sóc ban đầu đối với người bị nạn
tại cộng đồng, có thể có sự can thiệp tạm thời trong một tình huống nghiêm
trọng trước khi có sự trợ giúp của các nhân viên cứu hộ hoặc nhân viên y tế
chuyên nghiệp.
Cuốn sách hướng dẫn sơ cứu ban đầu này được xây dựng dựa trên cơ sở:
1. Các bằng chứng khoa học dựa trên các nghiên cứu về hiệu quả của các
phương pháp sơ cứu.
Ví dụ: Chúng ta tin rằng việc hút nọc từ vết rắn cắn là có hiệu quả. Nhưng các
nghiên cứu cho thấy đây là thông tin không đúng. Việc hút nọc không những
không có hiệu quả, trái lại còn có thể gây hại. Có một nghiên cứu tách chiết
được nọc rắn từ dịch hút với lượng không đáng kể (0,04%), còn một nghiên
cứu khác trên động vật cho kết quả con vật thí nghiệm chết nhanh hơn....
2. Cơ sở vật chất sẵn có tại chỗ: do điều kiện kinh tế văn hóa mỗi quốc gia
mỗi khác nên quan điểm cũng như thái độ trước các trường hợp y tế khẩn cấp
sẽ khác nhau.
Ví dụ: Dịch vụ vận chuyển cấp cứu thường tập trung nhiều ở các thành phố
lớn, nếu tình huống y tế khẩn cấp xảy ra ở các vùng nông thôn xa đôi khi khó
tiếp cận ngay lập tức với nhân viên y tế. Chưa kể tại giờ cao điểm, hiện tượng
tắc đường thường xuyên diễn ra. Việc tự đưa người bị nạn đi cấp cứu hay
kiên nhẫn chờ xe cứu thương luôn là vấn đề gây tranh cãi và khó tìm được câu
trả lời chung. Câu trả lời tùy thuộc vào tình huống cụ thể, vấn đề không phải
ai đưa người bị nạn đi cấp cứu mà nó nằm ở việc đưa người bị nạn đi cấp
cứu có đảm bảo an toàn hay không.
3. Kinh nghiệm thực tế từ các chuyên gia sẽ điều chỉnh các kỹ thuật cho phù
hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Trong bối cảnh Việt Nam, có quá
nhiều các kinh nghiệm dân gian can thiệp vào trong các tình huống y tế khẩn
cấp, không hẳn tất cả đều sai, một số có giá trị nhất định trong giai đoạn nào
đó của bệnh. Đôi khi chúng làm cản trở quá trình làm lành vết thương nếu áp
dụng máy móc các phương pháp đó.
Trong phạm vi cuốn sách này, chúng tôi sẽ phân tích các kinh nghiệm dân gian
áp dụng trong các tình huống khẩn cấp và diễn biến tự nhiên của các tổn
thương. Từ đó người đọc sẽ tự quyết định có nên áp dụng hay không.
Biết được kiến thức về sơ cứu, trước hết bạn sẽ giúp được người thân của
mình, tiếp nữa là những người xung quanh. Trước mỗi tình huống khẩn cấp về
y tế, việc thực hiện các biện pháp sơ cứu trong vài phút đầu tiên đúng hay
không sẽ giúp cho người bị nạn được hồi phục hay chịu thương tật vĩnh viễn.
Ví dụ trong trường hợp chấn thương cột sống cổ, nếu sự nhiệt tình không kèm
theo hiểu biết sẽ làm nạn nhân bị liệt vĩnh viễn, nặng hơn nữa là tử vong.
Có ba thời điểm người bị nạn có thể tử vong:
1. Vài giây đến vài phút đầu tiên: trường hợp này người tham gia sơ cứu
không làm được gì nhiều ngoài việc hỗ trợ hô hấp và hồi sinh tim phổi cơ
bản.
2. Vài phút đến vài giờ: vai trò của người sơ cứu rất quan trọng trong giai
đoạn này, các động tác đúng và phù hợp sẽ làm giảm thiểu nguy cơ tử vong,
ngăn chặn các diễn biến nặng lên giúp cho người bị nạn hồi phục. Sơ cứu
không đúng cách, có thể người bệnh sẽ phải gánh chịu biến chứng suốt đời.
3. Vài giờ đến nhiều giờ: thông thường những trường hợp này đã được can
thiệp bởi các nhân viên y tế hoặc các bác sĩ nhưng không có đáp ứng.
Cuốn sách này không thể thay thế được các chương trình đào tạo về kỹ năng
sơ cứu từ các chuyên gia. Tôi chỉ hy vọng nó đem lại cho các bạn những kiến
thức đúng đắn, giúp chúng ta hiểu biết hơn, từ đó có thái độ tốt hơn trong việc
hợp tác và xử trí ban đầu các trường hợp cần hỗ trợ về y tế khẩn cấp khi chưa
có nhân viên y tế bên cạnh. Còn muốn từ kiến thức trở thành kỹ năng, bạn phải
rèn luyện rất nhiều.
CHƯƠNG 1: SƠ CỨU CĂN BẢN
1. BỘ DỤNG CỤ SƠ CỨU
1. Gạc cuộn, 4 chiếc, dùng để buộc, cố định xương khớp, băng vết thương.
Bạn có thể dùng chúng đặt lên đường đi của mạch máu để thực hiện băng ép
cầm máu
2. Gạc miếng vô trùng, 3-5 gói, để cầm máu, rửa, che phủ vết thương
3. Băng chun, 2 chiếc, dùng băng cầm máu, băng ép bất động, băng trong bong
gân, trật khớp.
4. Băng dán cá nhân, 10 chiếc, để dán vào các vết đứt, rách da nhỏ.
5. Băng dính y tế, 1 cuộn, loại này dễ xé và cố định.
6. Panh, kéo, nhiệt kế mỗi thứ 1 chiếc.
7. Găng tay, túi nilon
8. Sát trùng:
- Cồn rửa tay, nước rửa tay khô, sát trùng tay.
- Dung dịch povidone iodine 10% hoặc cồn 70°: sát trùng vết thương hở. Cồn
70° còn có thể sử dụng để sát trùng tay.
9 Thuốc:
- Nước muối sinh lý: rửa vết thương, rửa mắt.
- Thuốc bôi: kem kháng histamin, kem hydrocortisol 1% dùng trong các
trường hợp côn trùng đốt, dị ứng ngoài da
- Thuốc uống: tùy theo gia đình có người bị bệnh mạn tính hoặc nguy cơ bệnh
lý thường gặp mà bạn có thể chuẩn bị thêm. Thông thường nhất là thuốc hạ sốt,
giảm đau không kê đơn.
10. Cẩm nang sơ cứu: Bạn cần nhớ khi xảy ra tình huống khẩn cấp về y tế, việc
không thể nhớ nổi cái gì cần làm trước tiên là chuyện hết sức bình thường. Vậy
nên, có quyển cẩm nang bên cạnh sẽ giúp ích cho bạn và gia đình rất nhiều.
C: NÊN VÀ KHÔNG NÊN
Một bộ dụng cụ sơ cứu cho gia đình không nên có quá nhiều đồ, bạn sẽ bị rối
khi mở nó ra.
Tùy theo đặc trưng của mỗi gia đình có người già, em bé, bệnh mạn tính… mà
bạn sẽ gia giảm dụng cụ và thuốc dự phòng cho hợp lý.
Một vài gợi ý:
Thuyền đi biển dài ngày, người cơ địa dị ứng nên chuẩn bị thêm gói than
hoạt tính đề phòng ngộ độc thức ăn (cá nóc…), dị ứng hải sản.
Gia đình có người già tiền sử bệnh lý tim mạch, mạch vành: bạn chuẩn bị
sẵn thuốc theo đơn như thuốc giãn vành, nitroglycerin, thuốc chống ngưng
tập tiểu cầu aspirin để dùng ngay khi có trường hợp khẩn cấp.
Gia đình có người bệnh hen phế quản: chuẩn bị sẵn thuốc giãn phế quản
dạng xịt cùng buồng khí dung…
Gia đình có người bệnh tiểu đường: máy thử đường máu mao mạch, gói
đường glucose đề phòng trường hợp biến chứng hạ đường huyết.
Vận động viên thể thao, người làm việc trên cao, du lịch mạo hiểm nên
chuẩn bị thêm bộ nẹp cố định cột sống cổ.
VẬT DỤNG THAY THẾ:
1. Gạc cuộn: Nếu không có, bạn có thể dùng một sợi dây để buộc cố định.
Hoặc cắt một mảnh vải sạch thành miếng dài rồi cuộn lại để cầm máu.
2. Gạc miếng vô trùng: Nếu không có, bạn có thể dùng một chiếc khăn mùi
soa hoặc khăn cotton sạch gấp thành nhiều lớp để băng ép cầm máu hoặc
che phủ vết thương. Thậm chí bạn có thể dùng một chiếc áo cotton sạch
để ép cầm máu tạm thời.
3. Băng chun: Nếu không có, bạn có thể cắt một chiếc áo vải theo đường
chỉ may thành miếng dài để băng ép bất động
4. Găng tay: Nếu không có, bạn thay thế bằng cách lộn trái một chiếc túi
nilon sạch để lồng tay vào đó.
5. Sát trùng: Một lon bia, chai rượu hoặc chai coca cũng có ích khi bạn
không có những thứ trên. Chúng sẽ có ích khi B: BẠN CẦN LÀM sạch
ngay lập tức (trường hợp vết thương dính bẩn hóa chất hoặc đất cát,
không dùng cho mặt và mắt). Bạn không nên dùng các loại nước ngọt có
nhiều đường để rửa tay hoặc làm sạch vết thương.
6. Nẹp cố định: Một cành cây, một chiếc đũa hay chiếc thước kẻ cũng có
thể thay thế dụng cụ cố định xương gãy ở trẻ nhỏ.
1. Panh, nhíp, kẹp, kéo cần được vệ sinh trước và sau khi tiếp xúc với
vết thương hở vết thương chảy máu. Tốt nhất là luộc trong nước sôi ít
nhất 5 phút. Nếu không thể bạn dùng cồn hoặc dụng dịch sát trùng để thay
thế.
2. Định kỳ kiểm tra hạn sử dụng các loại thuốc.
3. Một số đồ có thể dùng lại như băng chun, bạn giặt sạch và phơi khô
trước khi xếp lại vào bộ dụng cụ sơ cứu
Bộ dụng cụ sơ cứu cơ bản
2. KHI NÀO CẦN TRỢ GIÚP Y TẾ?
Nếu bạn nhận biết được dấu hiệu của tình huống y tế khẩn cấp, một ngày nào
đó bạn sẽ là người hùng cứu sống người thân yêu trong gia đình mình. Thậm
chí cuộc đời mình.
Các bác sĩ cấp cứu luôn khuyến khích mỗi cá nhân học cách nhận biết các dấu
hiệu và triệu chứng cảnh báo nguy hiểm.
CÁC DẤU HIỆU CẦN TRỢ GIÚP Y TẾ:
1. Thở nhanh, khó thở.
2. Đau ngực trái hoặc đau bụng vùng thượng vị như bóp nghẹt kéo dài 2
phút trở lên.
3. Nôn, tiêu chảy. mất nước (hay gặp ở người già và trẻ nhỏ).
4. Rối loạn ý thức (lú lẫn, ngủ dài khó đánh thức, hành vi bất thường: bao
gồm cả ý nghĩ tự sát, giết người).
5. Rối loạn thị lực (mờ mắt, nhìn đôi).
6. Rối loạn ngôn ngữ (nói khó).
7. Cơn đau dữ dội đột ngột, mới xuất hiện lần đầu.
8. Chảy máu khó cầm.
9. Cơn co giật.
10. Tai nạn thương tích.
3. CHỜ ĐỢI XE CỨU THƯƠNG HAY TỰ VẬN
CHUYỂN?
Các tình huống cần trợ giúp y tế khẩn cấp đôi khi rất đáng sợ và ám ảnh. Đặc
biệt thời gian chờ đợi tại hiện trường có thể khiến những người tham gia sơ
cứu thấy căng thẳng, mỗi phút trôi qua giống như cả giờ đồng hồ.
Với nhiều trường hợp y tế khẩn cấp, việc chậm trễ trong điều trị sẽ để lại hậu
quả hết sức nghiêm trọng. Trước các tình huống đó luôn xảy ra hai luồng tranh
cãi: nên tự đưa người bị nạn tới bệnh viện hay kiên nhẫn chờ xe cấp cứu đến?
Đôi khi, tình huống cấp cứu xảy ra ở khu dân cư rất xa hay đúng giờ cao điểm
xe cứu thương không thể tới nhanh chóng được. Và hệ thống xe cấp cứu 115
tập trung nhiều tại các đô thị lớn. Tại các vùng sâu xa, hệ thống này còn khá
hạn chế.
Câu trả lời không nằm ở việc bạn nên hay không nên đưa người bị nạn đi cấp
cứu mà nằm ở việc bạn có kỹ năng nhận biết các dấu hiệu y tế khẩn cấp hay
không. Nếu có kỹ năng, bạn sẽ biết phải làm gì. Từ đó bạn sẽ đưa ra được
quyết định đảm bảo an toàn cho người bị nạn và cả cho mình.
Trước khi quyết định nên hay không nên, bạn cần trả lời một số câu hỏi
sau:
1. Bạn có đánh giá được tình trạng người bị nạn theo nguyên tắc ba bước
ban đầu không?
2. Bạn có đảm bảo được các dấu hiệu ABC (Airway-Đường thở, BreathingNhịp thở, Circulation-Tim mạch) cho người bị nạn trong quá trình vận
chuyển không?
3. Quãng đường đến viện gần nhất thời điểm này có thuận lợi, hẹp tắc gì
không?
Nếu đảm bảo được các câu hỏi này, việc vận chuyển người bị nạn không còn
là vấn đề tranh cãi nữa.
Với bất kỳ trường hợp khẩn cấp y tế nào, đặc biệt trong các vụ tai nạn giao
thông, tốt nhất bạn hãy gọi xe cứu thương.
Việc vận chuyển người bị nạn chỉ đặt ra sau khi bạn đánh giá ban đầu đầy đủ
và đảm bảo được an toàn cho người bị nạn về hô hấp cũng như tuần hoàn
trước và trong quá trình đưa người bị nạn đi cấp cứu.
Nếu tự vận chuyển, bạn đừng bao giờ quên bệnh viện hay trung tâm y tế gần
nhất, đó là nơi thực hiện việc hỗ trợ y tế ban đầu giúp giữ tính mạng cho người
bị nạn.
1. THỜI GIAN là vàng, nhưng AN TOÀN là mạng sống.
2. Nhanh một giây có thể làm chậm một đời.
3. Sự bình tĩnh của bạn có thể giúp đỡ cho nhiều người khác.
4. Hành động hy sinh thân mình là vĩ đại nhưng không được khuyến khích.
5. Khi bạn không đủ tự tin về những động tác mình làm, hãy lui lại và chờ
đợi hỗ trợ.
6. Nhiệt tình cùng kém hiểu biết, bạn sẽ có nguy cơ trở thành nạn nhân
tiếp theo và tạo thêm gánh nặng cho người khác.
Xe cấp cứu, bệnh viện y tế tuyến cơ sở
4. GỌI 115
Khi cần trợ giúp về y tế hãy bấm số 115 và thông báo:
1. Tên và số điện thoại của người sơ cứu.
2. Địa điểm. Nếu không rõ chính xác số nhà, hãy mô tả địa hình xung quanh.
Nếu trên đường, hãy tìm nút giao cắt gần nhất.
3. Loại tai nạn, tổn thương, mức độ nghiêm trọng.
4. Số lượng người bị nạn, giới tính, độ tuổi.
5. Độ nguy hiểm tại hiện trường: hóa chất, điện, cháy, nổ…
6. Nếu là bệnh lý tại nhà, mô tả triệu chứng và tiền sử bệnh tật nếu biết.
1. Không cúp máy trước khi cơ quan y tế chưa khai thác hết thông tin.
2. Hãy mở loa ngoài và đặt điện thoại bên cạnh, vừa mô tả vừa làm theo
hướng dẫn của nhân viên tư vấn.
3. Nói rành mạch rõ ràng.
4. Sự bình tĩnh của bạn sẽ giúp đỡ được nhiều người.
5. NGUYÊN TẮC AN TOÀN TRONG SƠ CỨU
Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nguyên tắc đầu tiên trong sơ cứu là đảm bảo AN
TOÀN, an toàn cho người tham gia sơ cứu và an toàn cho người bị nạn.
1. An toàn cho người sơ cứu:
Chúng ta phải chạy đua với thời gian, tuy nhiên bạn cần nhớ THỜI GIAN là
vàng nhưng AN TOÀN là mạng sống. Nếu tự đầy mình vào mối nguy hiểm,
bạn có thể là nạn nhân tiếp theo và trở thành gánh nặng cho những người khác.
Do vậy, trước tiên bạn phải có ý thức tự bảo vệ mình khỏi các rủi ro xảy ra
ngay tại thời điểm đó và các hậu quả sau này.
Bạn cần xác định rõ, người tham gia sơ cứu chỉ chấp nhận rủi ro khi đã được
huấn luyện để tham gia cứu nạn trong các tình huống cụ thể. Ví dụ: vào đám
cháy cứu người ngạt khói, nhảy xuống nước cứu người chết đuối hoặc cứu
người bị điện giật… Việc trang bị trước các kỹ năng xử trí trong từng tình
huống sẽ giúp giảm thiểu các nguy cơ cho mình và cho người khác.
2. Đề phòng lây nhiễm:
Các bệnh lý truyền qua đường máu: HIV, virus viêm gan A, B, C. Các vi
khuẩn gây bệnh truyền nhiễm khác.
Bảo vệ tay, mắt khi tiếp xúc với vết thương chảy máu, các chất dịch cơ
thể của người bệnh (nước bọt, nước tiểu…). Bạn nên đeo găng tay và
kính bảo vệ mắt khi cầm máu các vết thương. Nếu không có găng, bạn
dùng một túi nilon bọc tay lại.
Rửa tay trước và sau khi sơ cứu. Rửa tay thường quy bằng xà phòng và
nước sạch. Nếu không có nước, có thể dùng dung dịch sát trùng hoặc một
chút rượu mạnh thay thế, đổ ra tay và xoa đều trong ít nhất 30 giây. Hành
động này giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn từ tay bạn vào vết thương
của người bị nạn và ngược lại.
Khi cần hô hấp miệng-miệng, hãy dùng mặt nạ một chiều hoặc một miếng
nilon có khoét lỗ để tránh tiếp xúc trực tiếp với chất dịch trong khoang
miệng người bị nạn. Vì một lý do nào đó không thể hô hấp nhân tạo
miệng-miệng, chỉ cần động tác ép tim đơn thuần cũng có hiệu quả trong
hồi sinh tim phổi cơ bản.
Phân loại rác thải, các vật sắc nhọn cần được thu thập đựng trong một
hộp cứng tránh gây tổn thương cho người khác.
Hiện trường có máu, chất dịch cơ thể nên dùng giấy thấm khô sau đó dùng
nước javel để tẩy sạch.
3. An toàn cho người bị nạn:
Hạn chế di chuyển người bị nạn ra khỏi hiện trường trước khi bạn đánh
giá ban đầu đầy đủ để tránh các tổn thương thứ phát.
Chỉ di chuyển người bị nạn đến nơi an toàn nếu môi trường xung quanh
tiềm ẩn nguy cơ nhiễm độc, cháy nổ gây mất an toàn cho người sơ cứu và
nạn nhân. Ví dụ: tai nạn xe hơi có nguy cơ bốc cháy, môi trường rò rỉ khí
gas,…
Luôn quan sát và bảo vệ người bị nạn trong các tình huống cụ thể, tránh
các tổn thương diễn biến nặng lên hoặc các tổn thương thứ phát sau này.
Ví dụ trường hợp co giật, bạn phải chú ý các đồ vật trong tầm tay người
bệnh tránh quờ phải rơi vỡ gây chấn thương. Đặt một chiếc khăn dưới
đầu người bị nạn để trong cơn mất ý thức, da đầu không bị cọ xát vào nền
cứng chảy máu…
1. Luôn có ý thức tự bảo vệ mình khỏi các mối nguy hiểm từ hiện trường
và người bị nạn.
2. Trừ phi môi trường gây nguy hiểm cho người bị nạn, hạn chế tối đa di
chuyển người bị nạn khỏi hiện trường khi chưa đánh giá cụ thể.
3. Đề phòng nguy cơ lây nhiễm.
6. RỬA TAY VÀ ĐEO GĂNG
B: BẠN CẦN LÀM
Rửa tay và đeo găng trước và sau khi tiếp xúc với vết thương và người bệnh.
Rửa bằng xà phòng và nước sạch, thời gian tối thiểu 30 giây.
Biện pháp thay thế: rửa tay bằng chai nước suối sau đó sát trùng lại bằng nước
rửa tay hoặc cồn khô trong bộ dụng cụ sơ cứu.
Bước 1: Làm ướt tay. Thoa xà phòng hoặc dung dịch rửa tay.
Bước 2: Chà xát hai lòng bàn tay.
Bước 3: Lần lượt chà xát mặt lưng hai tay.
Bước 4: Làm sạch ngón tay.
Bước 5: Làm sạch lần lượt đầu ngón tay.
Bước cuối: Làm sạch bằng nước.
Với các dung dịch sát trùng: thực hiện tương tự từ bước 1 đến bước 5 (trừ
việc rửa lại bằng nước).
Đeo găng
Các bước đeo găng
Tháo găng
Các bước tháo găng
Chú ý: khi tháo gắng tránh để tay tiếp xúc với mặt ngoài của găng, là nơi vừa
sờ chạm vào chất dịch và máu của người bệnh.
C: NÊN VÀ KHÔNG NÊN
1. Không nên rửa tay ở các nguồn nước kênh, rạch, ao, hồ, đặc biệt là nước
tù đọng bởi chúng tiềm ẩn các ổ vi khuẩn càng làm gia tăng nguy cơ
nhiễm trùng.
2. Trường hợp khó khăn: một chai coca, một chai rượu cũng có thể giúp bạn
làm sạch tạm thời.
3. Không nên dùng nước ngọt hay dung dịch có nhiều đường để rửa tay.
4. Găng tay thay thế: găng nilon, hoặc thậm chí một chiếc túi nilon bọc vào
tay cũng được.
7. ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU
SƠ ĐỒ TIẾP CẬN BAN ĐẦU
Nếu chấn thương, tai nạn. Bắt đầu đánh giá lần 2 [Xem thêm chương 2]
1. Lượng giá nguy hiểm:
Thực hiện ngay trước khi tiếp cận với người bị nạn, bạn hãy nghe, nhìn, ngửi
mùi và cảm nhận.
1.1. Quan sát hiện trường: Điều gì đã xảy ra, có an toàn cho bạn khi tiếp
cận với người bị nạn hay không?
Chú ý các nguy cơ có thể gây nguy hiểm cho người tiếp cận với hiện trường
hoặc vụ tai nạn như cháy nổ, rò rỉ khí gas, nơi có xăng dầu, hóa chất, dây
điện… Hoặc khu vực bạn biết sẽ thiếu oxy như trong hầm lò, giếng đào…
Ví dụ: Tình huống một người mất ý thức nằm cạnh cột điện hoặc có dây điện
hở gần đó, ngay lập tức bạn phải nghi ngờ đó là một vụ rò rỉ điện và tìm cách
ngắt cầu dao trước khi tiếp cận với người bị nạn. Nếu không, bạn có thể trở
thành nạn nhân tiếp theo.
Bạn phải quyết định nhanh:
Để người bị nạn nằm tại chỗ sẽ an toàn hơn di chuyển: tại nạn giao thông,
chấn thương ngã cao…
Di chuyển nhanh chóng người bị nạn đến nơi an toàn hơn rồi tiến hành sơ
cứu: ngạt khói, hóa chất…
Chờ đợi cứu hộ đến rồi phối hợp với họ.
1.2. Quan sát người bị nạn: Có bao nhiêu người bị nạn? Trạng thái của họ
ra sao?
Chú ý nguy cơ nhiễm bệnh khi tiếp xúc với máu, chất dịch của người bị nạn:
virus HIV, viêm gan B, bệnh truyền nhiễm khác.
Người bị nạn kích động, hoảng loạn do sử dụng chất kích thích (say rượu, ma
túy) sẽ gây nguy hiểm cho người sơ cứu.
2. Yêu cầu hỗ trợ:
Luôn tuân thủ nguyên tắc gọi hỗ trợ trước khi sơ cứu.
Trong các vụ tai nạn ngoài cộng đồng, sẽ xảy ra hai tình huống:
a. Hiệu ứng bàng quan (Hội chứng Genovese): chỉ về một tình huống khẩn cấp
mà những người có mặt không giúp đỡ nạn nhân. Càng nhiều người chứng kiến
càng ít nhận được hỗ trợ bởi nỗi lo sợ bị đổ lỗi về việc họ không gây ra hoặc
dính dáng đến pháp luật.
b. Tình huống hỗn loạn: quá nhiều người tham gia, mỗi người một ý. Lúc này,
đám đông cần người chỉ huy.
Các bước thực hiện:
Bạn cần tự tin vào chính mình, nói to rõ ràng bằng các khẩu lệnh cụ thể.
Đừng gào thét. Như vậy sẽ tạo được lòng tin tốt hơn.
Quan sát xem ai có thể giúp đỡ, nhìn thẳng vào họ và yêu cầu. Ví dụ:
“Anh/chị bấm số 115 giúp tôi” hoặc “Anh/chị giúp tôi nâng chân của nạn
nhân lên”… Đừng nói chung chung “giúp tôi với” hay “gọi cấp cứu đi”…
Gọi cấp cứu 115 ngay khi có thể thông báo tình hình. Trường hợp bối rối
chưa biết làm gì tiếp theo và cần sơ cứu ngay, bạn hãy mở loa ngoài và
để điện thoại bên cạnh để vừa thông báo, vừa nghe hướng dẫn xử trí tình
huống
Trong trường hợp quá bối rối và sợ hãi. Bạn hãy lùi lại, nhanh chóng gọi
hỗ trợ và kiên nhẫn chờ người tới giúp. Trong lúc đó, cố gắng quan sát
tình huống và người bị nạn xem điều gì đã và đang diễn ra để mô tả cho
người hỗ trợ khi họ đến.
Thông báo cho các cơ quan chức năng: cảnh sát cơ động 113, cứu hỏa
114 khi cần.
Hãy ngừng lại và chờ sự giúp đỡ nếu:
1. Bạn không chắc chắn đảm bảo an toàn cho mình.
2. Bạn không đủ tự tin và không biết mình làm đúng hay không.
3. Bạn đang mất bình tĩnh và hoảng sợ.
4. Người bị nạn hung dữ, kích động hoặc từ chối sơ cứu.
3. Đánh giá cơ bản ABC:
Tiếp cận từ ngang vai để hạn chế quay đầu người bị nạn. Nhìn, hỏi, vỗ vai lay
gọi.
Đánh giá đáp ứng bằng các câu hỏi đơn giản:
a. Anh/chị tên gì?
b. Anh/chị bị làm sao?
c. Anh/chị đau ở đâu?
Trẻ nhỏ: vỗ vai và tạo sự chú ý cho trẻ, hoặc kích thích đau bằng cách vỗ vào
lòng bàn chân của trẻ để xem đáp ứng.
1. Người bị nạn tỉnh, trả lời đúng:
Quan sát toàn trạng, nhịp thở, bắt mạch xem có dấu hiệu sốc hay không, có khó
thở không. Chú ý cố định cột sống cổ trong tất cả các trường hợp tai nạn giao
thông hay ngã cao trước khi đặt người bị nạn vào tư thế an toàn thích hợp. Tốt
nhất là nằm nghiêng an toàn.
Khi nghi ngờ chấn thương đốt sống cổ, đặt người bị nạn ở từ thế trung gian
dành cho người chấn thương cột sống cổ.
2. Người bị nạn không tỉnh táo, rối loạn ý thức, rên rỉ:
Kiểm soát đường thở, lấy dị vật, răng giả khỏi miệng nếu có.
Cố định đốt sống trong trường hợp chấn thương.
Hỗ trợ hô hấp.
Nằm nghiêng an toàn. Nếu có dấu hiệu sốc, đặt người bị nạn tư thế đầu
thấp chân cao.
3. Người bị nạn bất tỉnh:
Còn thở:
Kiểm soát đường thở.
Cố định đốt sống trong trường hợp chấn thương.
Hỗ trợ hô hấp.
Nằm tư thế an toàn.
Không thở: đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền phẳng, thực hiện hồi sinh tim
phổi cơ bản.
8. KIỂM SOÁT ĐƯỜNG THỞ VÀ HỖ TRỢ HÔ HẤP
A: BẠN CẦN BIẾT
Kiểm soát đường thở và hỗ trợ hô hấp là một phần của hồi sinh tim phổi cơ
bản. Động tác kiểm soát ban đầu đường thở nhằm đảm bảo thông thoáng, giải
phóng tắc nghẽn giúp người bị nạn hô hấp tốt hơn hoặc chuẩn bị cho động tác
hỗ trợ hô hấp để khí vào phổi dễ dàng.
Nguyên nhân gây tắc nghẽn đường thở:
Phản ứng dị ứng gây phù nề, co thắt thanh quản: ong đốt, dị ứng thức ăn,
dị ứng thuốc…
Chấn thương vùng hàm mặt.
Giảm trương lực cơ vùng họng miệng, làm sàn miệng sập xuống, tụt lưỡi
chèn vào đường thở. Gặp trong hôn mê, đột quỵ não (tai biến mạch não)
…
Dị vật trong đường thở. Thường gặp ở trẻ nhỏ, người già sa sút trí tuệ, rối
loạn tâm thần…
B: BẠN CẦN LÀM
1. Người bị nạn còn tỉnh:
Đặt người bệnh ở tư thế an toàn phù hợp (bài “Tư thế an toàn” trang 45).
2. Người bị nạn bất tỉnh (bao gồm cả ngừng tim):
Nếu có hoặc nghi ngờ có chấn thương cột sống cổ: để cổ ngửa tư thế
trung gian.
Nếu người bị nạn nằm nghiêng hoặc sấp: lật đồng thời cả đầu, thân, chân
tay đưa người bị nạn về vị trí nằm ngửa.
Mở đường thở: ngửa đầu, nâng cằm, ấn giữ hàm. Động tác này sẽ giúp
lưỡi được đẩy lên trên và ra trước làm mở thông đường thở. Riêng trẻ
nhũ nhi, tư thế mở đường thở là tư thế để ngửa đầu trung gian giống
trường hợp chấn thương đốt sống cổ.
3. Hỗ trợ hô hấp:
Hô hấp miệng-miệng hoặc miệng-mũi, yêu cầu cần đạt được: lồng ngực người
bị nạn phồng lên theo nhịp thổi.
Để tránh tiếp xúc với dịch tiết của người bị nạn, cần sử dụng mặt nạ một chiều
để nếu người bị nạn ho hay nôn sẽ không gây nguy cơ cho người sơ cứu (ảnh
trên 1-3).
C: NÊN VÀ KHÔNG NÊN
Khi bạn không có mặt nạ một chiều, có thể cân nhắc dùng một mảnh nilon
có khoét lỗ (1) hoặc dùng một chiếc khăn mùi soa (2) để thay thế.
Vì một lý do nào đó không thể hỗ trợ hô hấp miệng-miệng, miệng-mũi cho
người bị nạn, và bạn không có dụng cụ hỗ trợ (mặt nạ một chiều, bóng
bóp). Thì động tác ép tim ngoài lồng ngực đơn thuần cũng rất có hiệu quả
trong hồi sinh tim phổi cơ bản.
Không nên hô hấp miệng-miệng khi người bị nạn ngộ độc hóa chất đường
tiêu hóa hoặc đường hô hấp.
9. CPR - HỒI SINH TIM PHỔI CƠ BẢN
A: BẠN CẦN BIẾT
Thời gian là não. Tế bào não người không có dự trữ năng lượng và oxy, chúng
phụ thuộc hoàn toàn vào việc bơm máu của tim. Nếu tim ngừng đập, nguồn
cung cấp bị cắt đứt. Tế bào não chi chịu đựng được trong khoảng thời gian 3
phút sau đó sẽ tổn thương vĩnh viễn không có khả năng hồi phục.
Hồi sinh tim phổi (CPR - Cardio Pulmonary Resuscitation) là một chuỗi các
động tác gồm ép tim ngoài lồng ngực và thổi ngạt luân phiên. Mục đích là tạo
một áp lực bên ngoài nhằm ép quả tim co bóp một cách thụ động để tống máu
lên não, cung cấp oxy cho tế bào não, làm sức chịu đựng tế bào não kéo dài
hơn.
Hồi sinh tim phổi gồm hai giai đoạn: cơ bản và nâng cao. Hồi sinh tim phổi cơ
bản dành cho cộng đồng và ngoài bệnh viện, hồi sinh tim phổi nâng cao dành
cho các nhân viên y tế và bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị hỗ trợ.
Tuy vậy, các tình huống ngừng tim thường xảy ra ngoài cộng đồng, trước khi
nhân viên y tế có mặt. Do đó vai trò của hồi sinh tim phổi cơ bản và hồi sinh
tim phổi nâng cao là quan trọng như nhau.
Hồi sinh tim phổi = cứu não.
Trường hợp này, bạn phải chạy đua với thời gian.
1. Ép nhanh: tần số 100-120 lần/phút.
2. Ép mạnh: lồng ngực lún xuống 5cm.
3. Ép đúng:
Đúng vị trí: 1/2 dưới xương ức hoặc giữa hai núm vú
Đúng tư thế: chân quỳ, trục cánh tay vuông góc thân mình người bệnh
Đúng tỷ lệ: 30 lần ép tim/ 2 lần thổi ngạt.
4. Ép hiệu quả: sờ thấy mạch cảnh hoặc mạch bẹn nảy theo nhịp ép.
B: BẠN CẦN LÀM
Trẻ nhũ nhi: sử dụng hai ngón tay cái để ép tim
Nếu có hai người thì 15 lần ép tim và 2 lần hỗ trợ hô hấp.
Nếu có một người thì 30 lần ép tim và 1 lần hỗ trợ hô hấp.
10. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ
A: BẠN CẦN BIẾT
Dị vật đường thở là một tình huống đe dọa tính mạng, do vật lạ bao gồm thức
ăn lọt vào đường thở gây tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn đường thở.
Có nhiều kỹ thuật khác nhau có thể áp dụng sơ cứu cho người bị dị vật đường
thở: tùy theo lứa tuổi, chiều cao, cân nặng và trạng thái ý thức của người bị
nạn
Phương pháp Heimlich (Hem-lích): tạo áp lực dưới cơ hoành đẩy khí ra
khỏi phối giống cơn ho đẩy dị vật ra ngoài. Áp dụng cho người lớn và trẻ
>1 tuổi còn tỉnh.
Phương pháp vỗ mạnh vào lưng, giữa hai xương bả vai: thường dành cho
trẻ <1 tuổi. Đối tượng thường gặp nhất bị dị vật đường thở là trẻ em,
người già, người rối loạn tâm thần, người mang răng giả (thiếu cảm giác
về thức ăn trong khoang miệng). Người bệnh đột quỵ não có rối loạn
nuốt. Trẻ em hay gặp dị vật là các loại hạt, đồ vật nhỏ.
Biểu hiện dị vật đường thở:
Hoảng loạn
Thở dốc, ho dữ dội
Hai tay ôm cổ, chỉ tay vào miệng
Nói khó hoặc không nói được
Mặt đỏ sau đó chuyển dần sang xanh tím
Mất ý thức.
Trường hợp dị vật bít tắc một phần đường thở, người bị nạn vẫn nói được và
thở được.
Đừng thực hiện các động tác lấy dị vật đường thở, khuyến khích họ ho để dị
vật tự đẩy ra ngoài hoặc gọi hỗ trợ y tế.
Trường hợp dị vật bít tắc hoàn toàn đường thở, người bị nạn không thở được.
Bạn cần thực hiện các biện pháp lấy dị vật đường thở và gọi hỗ trợ y tế.
1. Tuyệt đối không đưa tay vào miệng móc dị vật khi người bị nạn đang
còn thở hoặc đang trong cơn ho.
2. Nếu người bị nạn tự thở được, động viên và giúp họ ngồi xuống ghế,
cúi người về phía trước, khuyến khích họ đây dị vật ra.
3. Không làm động tác Heimlich nếu người bị nạn còn tự thở được.
4. Gọi cấp cứu 115 ngay khi có thể.
B: BẠN CẦN LÀM
Khi nghi ngờ ai đó bị sặc vào đường thở: đầu tiên bạn hãy gọi và hỏi người đó
có bị sặc không.
1. Nếu họ trả lời được, hãy giúp đỡ họ ngồi xuống ghế, cúi người về phía
trước và đừng làm gì cả. Khuyến khích người bị nạn ho, dị vật có khả
năng theo các cơn họ bật ra ngoài.
2. Nếu họ không trả lời được hoặc không thở được. Bạn cần nhanh chóng
gọi 115 và thực hiện động tác Heimlich.
3. Nếu mất ý thức. Đặt người bị nạn nằm ngửa trên nền phẳng, kiểm tra
khoang miệng xem có thấy dị vật hay không. Nếu nhìn thấy, dùng ngón tay
móc dị vật ra (Nếu không nhìn thấy dị vật thì không làm động tác này).
Tiếp tục thực hiện các động tác hồi sinh tim phổi cơ bản CPR, động tác ép tim
sẽ tạo áp lực trong khoang lồng ngực đầy dị vật ra ngoài.
Kiểm tra lại khoang miệng sau vài lần ép tim xem dị vật đã đẩy ra chưa. Nếu
chưa, tiếp tục CPR cho đến khi có hỗ trợ y tế đến.
 





